Phát triển du lịch gắn bảo tồn và phát huy giá trị
của di sản văn hóa vật thể tại Hải Dương
Nguyễn Thị Sao
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Du lịch
Chuyên ngành: Du lịch; Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn: TS. Trần Thúy Anh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về bảo tồn di sản văn hóa. Nghiên cứu hoạt động
bảo tồn di sản và mối tương quan trong khai thác di sản để phục vụ phát triển du lịch cả
tích cực và tiêu cực tại các di tích tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Hải Dương. Tìm hiểu thực
trạng phát triển du lịch tại Hải Dương, việc khai thác gia trị văn hoá lịch sử tại các di tích
trong phát triển du lịch; Nhận diện các vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn di sản văn hóa
tại các di tích này. Đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch
vào quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị của các di tích CônSơn, Kiếp Bạc, Chu Văn
An, Văn Miếu Mao Điền của tỉnh Hải Dương.
Keywords. Du lịch; Di sản văn hóa; Văn hóa vật thể; Hải dương; Bảo tồn văn hóa
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Di tích chùa Côn Sơn, đền Kiếp Bạc, đền Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền là các
di tích lịch sử văn hóa và danh thắng đặc biệt quan trọng của quốc gia. Mảnh đất này,
từng in dấu những kỷ niệm sâu sắc về Bác Hồ, về các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng,
Nhà nước ta và nhiều bạn bè quốc tế... Uy đức của họ đã góp phần hun đúc nên hồn
thiêng sông núi, để lại tiếng vang muôn thuở. Vì vậy, Hải Dương một trong những cái
nôi sản sinh và hội tụ nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của cư dân châu thổ Bắc Bộ.
Hoạt động du lịch và hoạt động bảo tồn phải luôn luôn tồn tại song song trong quỹ
đạo của lịch sử và xã hội. Với định hướng như vậy, đề tài tập trung nghiên cứu vai trò tích
cực của hoạt động du lịch trong việc phát huy các giá trị lịch sử văn hoá tiêu biểu của di
1
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các di sản văn hóa vật thể tiêu biểu trên địa bàn
tỉnh Hải Dương bao gồm cụm di tích Côn Sơn, Kiếp Bạc, đền Chu Văn An, Văn Miếu
Mao Điền; Trong điều kiện có thể mở rộng đến các đối tượng quản lý khác để so sánh.
2
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch và di sản văn hoá bao gồm di
sản văn hoá vật thể về cả lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu thực tiễn được tiến hành tại
các điểm di tich tại Hải Dương. Nơi đây lưu giữ những di sản văn hoá vật thể và phi vật
thể phong phú và đa dạng.
3.2.1. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và thực tiễn của hoạt động du lịch gắn với bảo tồn và
phát huy giá trị của của các di sản văn hóa vật thể tiêu biểu tại tỉnh Hải Dương.
3.2.2. Phạm vi không gian
Khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn nằm trên địa bàn nằm trên địa bàn phường
Cộng Hòa và xã Lê Lợi. Di tích đền Kiếp Bạc ở xã Hưng Đao, đền thờ Chu Văn An ở xã Văn
An, ba di tích này đều thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Di tích Văn miếu Mao Điền
thuộc xã Mao Điền huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương
3.2.3. Phạm vi thời gian
Nghiên cứu các di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn ,Kiếp Bạc, đền thờ Chu Văn
An, Văn Miếu Mao Điền và hoạt động du lịch, bảo tồn của các di tích từ khi có Luật Di
sản đến nay (2001 trở lại đây).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thực tế tại khu di tích
- Phương pháp chuyên gia:
5. Bố cục của luận văn
chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ bản để tạo ra sản phẩm du lịch, phát triển các loại
hình du lịch.
Di sản văn hóa còn góp phần cấu thành nên môi trường văn hóa cho hoạt động du
lịch. Văn hóa làm cho khách du lịch sung sướng, vừa lòng, có những tình cảm tốt lành,
những kỷ niệm đẹp cho khách sau những chuyến đi thú vị
1.3. Các nguyên tắc của bảo tồn di sản văn hoá và bảo tồ n di sản văn hóa trong du
lịch
1.3.1. Nguyên tắ c bảo tồ n di sản văn hóa
Di sản văn hóa cần được bảo vệ vì nó là một thành tố quan trọng trong việc hình
thành nên bản sắc văn hóa của một cộng đồng.
4
Bảo tồn các di sản văn hóa là một hoạt động nhằm mục đích lưu giữ , bảo vệ các di
sản văn hóa đang có nguy cơ biến mất vì lý
do này hay lý do khác. Bảo tồn bao gồm
nhiều hoạt động khác nhau như việc điều tra, nghiên cứu, bảo quản, tu bổ, phục dựng.
Bảo tồn được coi là một lĩnh vực khoa học chuyên ngành với những yêu cầu về kỹ năng
riêng biệt. Bên cạnh đó việc bảo tồn các di sản văn hóa vật thể phải tuân thủ các nguyên
tắc về việc trùng tu, tôn tạo, bảo quản.
Khi bảo tồn di sản văn hóa, mỗi cá nhân, tổ chức cần phải hiểu di sản là tài sản, niềm
tự hào, nền văn hóa của chính người dân sở tại. Chính vì điều này mà nguyên tắc đầu tiên
trong bảo tồn di sản văn hóa cần phải đảm bảo , đó là cân bằng lợi ích giữa bảo tồn văn
hóa và lợi ích kinh tế.
Di sản văn hóa cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Kinh tế và di sản văn hóa là hai yếu tố tương tác, phụ thuộc và bổ
sung cho nhau. Và do đó, việc bảo tồn di sản văn hóa không được cản trở, mà ngược lại,
1.4.2. Những tác động tiêu cực của du lịch tới bảo tồn các di sản
Đối với các di sản văn hóa vật thể đặc biệt là những di sản có giá trị toàn cầu nổi
bật thì khách tham quan du lịch và sự bùng nổ số lượng khách tham quan đã và đang trở
thành mối nguy cơ đe dọa việc bảo vệ các di sản.
Hoạt động du lịch ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch tự nhiên. Sự
tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại địa điểm du lịch làm cho thiên nhiên
không kịp phục hồi và đi đến chỗ bị huỷ hoại. Mặt khác, do số lượng công trình phục vụ
khách tăng lên nhanh chóng tại các điểm du lịch, đặc biệt là tại các điểm có di sản vượt
quá khả năng chịu tải của cơ sở hạ tầng nên chúng bị xuống cấp trầm trọng, góp phần gia
tăng mức ô nhiễm môi trường.
Tiểu kết chương 1
Bảo tồn các di sản văn hóa là yếu tố quan trọng để giúp các di tích phát triển vì
các di sản văn hóa được coi là nguồn tài nguyên quan trọng góp phần phát triển hoạt động
du lịch. Khi bảo tồn các di sản văn hóa trong hoạt động kinh doanh du lịch do cần đảm
bảo các nguyên tắc cần bằng lợi ích giữa bảo tồn với phát triển kinh tế, chú trọng tới việc
thúc đẩy sự tham ra của các cơ sở kinh doanh du lịch, cộng động dân cư vào các hoạt
động bảo tồn, không ngừng tằng cường nhận thức về bảo tồn cho cộng đồng bằng các
chương trình giáo dục nhận thức về di sản một cách cụ thể. Từ đó thúc đẩy mối quan hệ
tích cực của du lịch tới bảo tồn di sản.
Một điều đáng lưu ý là, hoạt động bảo tồn có thể vẫn diễn ra dù có hay không hoạt
động khai thác du lịch bởi lẽ chúng ta bảo tồn di sản trước hết vì chính bản thân giá trị
văn hóa của di sản ấy. Tuy nhiên du lịch sẽ thể hiện vai trò của mình như một cầu nối
6
sống động đưa di sản vào dòng chảy hiện đại thay vì chỉ đơn thuần là một minh chứng
cho quá khứ.
CHƢƠNG 2.THỰC TRẠNG BẢO TỒN DI SẢN VÀ KHAI THÁC DU LỊCH TẠI
CÁC DI TÍCH TIÊU BIỂU Ở HẢI DƢƠNG
Bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị lịch sử văn hoá của khu di tích Côn Sơn trong
công cuộc đổi mới, mở rộng giao lưu quốc tế là việc làm có ý nghĩa chiến lược, cấp thiết
được Đảng và Nhà nước quan tâm.
* Đền Thanh Hư
Đền Thanh Hư thờ Đại Tư Đồ Trần Nguyên Đán thuộc quần thể di tích Côn Sơn.
Trần Nguyên Đán (1325 - 1390) hiệu là “Băng Hồ”, con của Uy Túc hầu Trần Văn Bích chắt của Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải, quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên
Trường (nay là xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định). Trần Nguyên Đán thuộc họ
Tôn Thất, nên từ sớm được bổ nhiệm làm quan theo quy chế tập chức.
Hơn 30 năm làm quan, Trần Nguyên Đán là Tướng quốc của ba triều vua: Trần Dụ
Tông, Trần Nghệ Tông, Trần Duệ Tông.
* Di tích miếu Ngũ Nhạc
Miếu được xây dựng trên năm đỉnh núi Ngũ Nhạc thuộc thôn An Mô, xã Lê Lợi, thị
xã Chí Linh. Núi có chiều dài 4390 m đỉnh cao nhất là 238 m. Trải qua bao năm tháng
cùng sự phá hoại của thời gian, mưa nắng, những miếu thờ trên đỉnh Ngũ Nhạc chỉ còn là
những ban thờ lộ thiên kiến trúc đơn sơ bằng đá trát vữa vôi có hình chữ nhật với chiều
dài 3m,rộng 2m, cao 1m. Đây thực sự là những di tích quý giá cần được khôi phục.
Sau hơn một năm thi công, ngày 16 tháng giêng năm Bính Tuất (tức ngày 13/2/2006) lễ
khánh thành năm miếu thờ trên núi Ngũ Nhạc cùng hệ thống đường bộ hành lên núi đã được
tổ chức. Các ngôi miếu đều quay về hướng Nam - nơi có hồ Côn Sơn quanh năm nước biếc.
* Bãi Giễ
Bãi Giễ nằm ở phía Nam chân núi Côn Sơn, diện tích khoảng 15ha. Cây giễ cứ héo
rồi lại xanh tiếp nhau phủ kín diện tích rộng lớn ấy, năm này qua năm khác mà chẳng ai
phải mất công chăm sóc.
* Giếng Ngọc
Dưới chân tháp tổ Huyền Quang là Giếng Ngọc, nước trong vắt mát lạnh. Người xưa
cho rằng, giếng Ngọc là huyệt mạch của núi Côn Sơn và là mắt của con Kỳ Lân. Tương
truyền, đêm rằm tháng bảy, sư tổ Huyền Quang mơ thấy vị thần dẫn đi về phía sau chùa chỉ
cho viên ngọc sáng lấp lánh dưới chân núi.
* Suối Côn Sơn
giới Nguyễn Trãi.. Ngày 14/12/2000, UBND tỉnh Hải Dương đã quyết định khởi công xây
dựng đền thờ Nguyễn Trãi tại Côn Sơn với tên gọi Ức Trai linh từ.
Đền thờ Ức Trai được xây dựng trên diện tích một vạn m2 chia cắt bằng năm cung bậc cao
thấp trải dài kế tiếp nhau.
Ngôi đền được xây dựng ở cung bậc thứ 5, theo kiến trúc thời Lê, đề tài trang trí trên
các bức cốn, đầu dư, xà nách là "Tứ linh hội hợp", trên các cánh cửa trạm đề tài: "Tứ quý
uyên ương". Hoành phi câu đối trong đền do Viện Nghiên cứu Hán nôm sưu tầm tuyển chọn.
Nội dung của hoành phi câu đối thể hiện tâm hồn, nhân cách cao đẹp, tài năng và công đức
9
lớn của Nguyễn Trãi, đồng thời thể hiện thái độ tôn vinh, tấm lòng biết ơn đối với Nguyễn
Trãi.
* Lễ hội chùa Côn Sơn
Từ xưa, chùa Côn Sơn đã nổi tiếng là một trong 3 chốn tổ của thiền phái Trúc Lâm.
Năm 1328, thiền sư Huyền Quang - vị tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm đã về đây trụ trì,
tu hành và phát triển thiền phái. Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334) nhà sư viên
tịch tại chùa Côn Sơn.
Ngày viên tịch của Huyền Quang là ngày giỗ tổ của chùa Côn Sơn, cũng vì thế mà
Côn Sơn trở thành chốn Phật tổ của thiền phái này. Ngày giỗ tổ sau trở thành ngày hội
truyền thống.
* Rước nước là một nghi lễ quan trọng trong lễ hội Côn Sơn
* Các trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật… thể hiện sự khéo léo, tài hoa của
ngưòi xứ Đông: Thi nấu cơm, múa rối, đập niêu, chọi gà, cờ tướng… Các trò chơi đậm
chất dân gian này ngoài ý nghĩa giáo dục sâu sắc, còn tạo chiều sâu tinh thần cho lễ hội.
2.2.2. Di tích lịch sử đền thờ Kiếp Bạc
Xung quanh đền Kiếp Bạc là hệ thống di tích đền, chùa Nam Tào - Bắc Đẩu, Sinh Từ,
Hang Tiền, Hố Thóc, Xưởng Thuyền, Hành Cung, Viên Lăng, Ao Cháo... Thời Trần đây là
những công trình kiến trúc bề thế, nguy nga nhưng hiện nay nhiều di tích chỉ còn là phế tích.
hiện dưới hạ giới là hiện tượng hiếm thấy, mang đậm mầu sắc đạo giáo.
* Dược Sơn
Dược Sơn (núi thuốc) là nhánh núi phía Nam đền Kiếp Bạc với diện tích xấp xỉ
10.000m2. Thời Trần, Trần Hưng Đạo với tư tưởng người Nam dùng thuốc nam đã cho
trồng những cây thuốc nam, vị thuốc quý để chữa bệnh trị thương cho quân sỹ.
* Viên Lăng
Viên Lăng nằm ở gò đất nhỏ hình tròn, cách đền Kiếp Bạc khoảng 200m về phía
Đông Nam. Xung quanh Viên Lăng là ruộng trũng, phía trước nhìn ra sông Thương, phía
sau là dãy núi Rồng bao bọc. Viên Lăng được ví như một viên ngọc mà rồng (núi rồng)
luôn ở tư thế lao xuống muốn càm ngọc.
Là một địa điểm đẹp, tương truyền xưa kia lăng mộ Trần Hưng Đạo được táng ở
đây. Năm 2000 khảo cổ học đã phát hiện nhiều dấu tích kiến trúc nhà ở và một số hiện vật
thời Trần.
* Sinh Từ
Năm 2000, Viện Bảo Tàng lịch sử Việt Nam đã tổ chức thám sát khảo cổ học tại di tích
Sinh Từ. Nơi đây trong sử sách, nhân dân vẫn nhắc nhớ về phủ đệ cũ và vị trí ngôi đền thờ
Hưng Đạo Đại Vương khi Người còn sống đã được vua Trần cho xây dựng.
* Cồn Kiếm
Trên sông Lục Đầu, trước cửa đền Kiếp Bạc có một cồn cát chạy dài 200m hình như
lưỡi kiếm nằm xuôi dòng nước, gọi là Cồn Kiếm. Cồn Kiếm ngày nay vẫn còn trên dòng
11
sông Lục Đầu về phía nam trước cửa đền Kiếp Bạc. Nhân gian cho rằng Người đã thả kiếm
xuống dòng sông, nhờ nước sông Lục Đầu hay siêu thực hơn lấy cái Đức của trời đất
(Thiên Đức, Nhật Đức, Nguyệt Đức, Minh Đức) gột rửa chiến tranh để gìn giữ nền thái
bình muôn thuở. Đó cũng là cổ mẫu từ huyền thoại - huyền tích với biểu trưng của kim và
thuỷ (kim sinh thuỷ) nhằm cầu mưa, chống lũ lụt hay cầu mùa màng của cư dân nông
nghiệp cổ.
Đền thờ cũ bị dời bỏ, nay chỉ con lại nền móng và nhà bia. Thay vào đó là đền thờ
mới với kiến trúc thời Lê. Trước đây đền cũ được xây dựng theo kiến trúc hình chữ Đinh
với hai lớp, lớp ngoài cùng là tiền đường với 3 ban thờ, ban giữa là thờ Công Đồng, bên
trái là ban thờ các học trò của Chu Văn An và bên phải là ban thờ Sơn Thần, bên trong là
hậu cung với ban thờ Chu Văn An và gia tiên họ Chu. Bên cạnh đền cũ là nhà bia cũ, tại
đây có đặt năm tấm bia đại cổ được tìm thấy khi khai quật khu di tích.
* Nhà bia và nhà Giải Vũ
Hai nhà bia này cùng với hai nhà Giải Vũ được khánh thành cùng với đền thờ chính
vào ngày 04/ 01/ 2008. Hai nhà Giải Vũ là nơi dừng chân, đón tiếp du khách thập phương
khi đến thăm đền, đồng thời cũng là nơi trưng bày hiện vật được tìm thấy để chứng minh
thầy giáo Chu Văn An đã từng sống và dậy học tại đây sau khi từ quan về ở ẩn. Ở giữa
hai nhà Giải Vũ là bức bình phong khổng lồ hay còn gọi là chiếu đá, toàn bộ đều được
làm bằng đá xanh được chuyển từ Thanh Hoá ra.
* Đền thờ chính Chu Văn An
Đền thờ chính được xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Đinh, hai tầng tám mái,
được lợp bằng ngói mũi hài. Đền thờ chính bao gồm 5 gian tiền tế và một gian hậu cung
đây là kiểu kiến trúc tiêu biểu cho kiểu kiến trúc chùa ở nước ta. Phía trên của đền là hình
ảnh lưỡng long chầu nguyệt, hình tượng này gắn liền với tín ngưỡng nông nghiệp lúa
nước.
Gian tiền đường của đền thờ chính gồm 5 gian, gian chính giữa là ban thờ công
đồng, 2 gian bên cạnh là hai lối đi vào trong gian hậu cung, gian ngoài cùng bên trái là
ban thờ các học trò của Chu Văn An, gian ngoài cùng bên phải là ban thờ sơn thần.
* Lăng mộ thầy Chu Văn An
Mộ của Chu Văn An nằm giữa rừng thông bạt ngàn trên dãy núi Phượng Hoàng. Mộ
thầy Chu Văn An được xây dựng theo hình vuông với quan niệm trời tròn đất vuông, phía
dưới là hình các con vật minh triết như rồng, phượng, hình tượng con kỳ lân được cách
điệu tạo vẻ linh thiêng cho khu mộ. Phía trong là hình cuốn sách với bốn góc lăng mộ là
hình các đầu bút long.
2.2.4. Văn Miếu Mao Điền
Văn Miếu Mao Điền là một trong 6 Văn Miếu còn sót lại trên đất nước ta. Văn Miếu
1
UBND tỉnh Hải Dương
di tích, tôn tạo, xây dựng và phát triển
các di tích
Cơ quan chuyên môn giúp việc cho
2
Sở Văn Hóa Thể Thao và Du
UBND tỉnh trong lĩnh vực du lịch. Xây
lịch Hải Dương
dựng các đề án giải pháp cho việc phát
triển du lịch tại Hải Dương
3
4
5
UBND huyện Cẩm Giàng, thị
Cơ quan thực thi chỉ đạo của UBND tỉnh
xã Chí Linh(nơi có các di tích)
di tích lịch sử văn hóa như Côn Sơn, Kiếp Bạc, đền thờ Chu Văn An, văn miếu Mao
Điền...và các di tích lịch sử có giá trị khác. Nâng cấp các lễ hội để tăng thêm phần hấp
dẫn, thu hút được khách du lịch tới tham quan.
Khai thác các gía trị văn hóa của di sản thành các sản phẩm du lịch văn hóa đặc
trưng của vùng vào phục vụ khách du lịch dựa trên cơ sở xem xet các giá trị của các di
tích bao gồm:
Xây dựng các tour du lịch văn hóa, tín ngưỡng để đến với các di tích . Vì vậy, các
tour du lịch khởi hành hàng ngày đưa khách tới tham quan các di tích này có nhiều loại
tour khác nhau.
Từ đây, dựa trên các giá trị văn hóa của các di tích các công ty lữ hành trên địa bàn
Hải Dương và các tỉnh có thể tạo ra nhiều sản phẩm văn hóa cho tour du lịch. Như các
tour du lịch liên hoàn
2.3.3. Về du khách
Khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc là một trong những địa chỉ du lịch, với vị thế là khu
di tích lịch sử nổi tiếng của cả nước, hàng năm Côn Sơn - Kiếp Bạc tiếp đón hàng vạn du
khách tìm về. Chính vì vậy nhiệm vụ đón tiếp khách chu đáo, an toàn được ưu tiên số một.
Bảng 2.2: Số liệu khách tham quan khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc, đền Chu Văn
An, Văn Miếu Mao Điền (2007 – 9/2011)
Đơn vị tính: lượt khách
Di tích Côn Sơn- Di tích đền Chu Văn Di tích Văn Miếu Mao
Kiếp bạc
An
Điền
Năm
Lƣợt
khách
(triệu
ngƣời)
100.0
3.017
100.0
2008
1.390.000
115,7
8.300
103,5
4.100
135,9
2009
1.540.000
110,8
9.000
108,4
(Nguồn: Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc, Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền)
2.3.4. Về hiệu quả kinh tế xã hội
Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc còn khai thác nguồn vốn tự thu như: Két
công đức và lệ phí tham quan để tu sửa, xây dựng, tôn tạo các công trình phụ trợ của di
tích, nhằm phục vụ cho sự đi lại, nghỉ ngơi và tham quan, thắp hương tưởng niệm của
nhân dân.
Bảng 2.3: Doanh thu khu di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, đền Chu Văn An, Văn Miếu
Mao Điền
Di tích Côn Sơn- Kiếp Di tích đền Chu Văn
bạc
An
Doanh thu
(triệu
đồng)
Gia
tăng
(%)
9.308.408.000 100,0 1.000.000.000 100.0 600.000.000
100.0
2008 11.579.566.400 124,3 1.020.000.000 103,5 750.000.000
135,9
2009 18.541.816.100 160,1 1.050.000.000 108,4 890.000.000
9/2011 18.150.425.000 66,0
400.000.000
32,5
150.000.000
15,5
(Nguồn: Ban QLDT Côn Sơn - Kiếp Bạc, Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền)
2.4. Mối tƣơng tác giữa bảo tồn di sản và hoạt động du lịch tại Hải Dƣơng
2.4.1. Khái quát hiện trạng hoạt động du lịch tại Hải Dương
2.4.1.1.Khách du lịch
Theo báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh du lịch hàng năm của Sở VHTT&DL
Hải Dương, vào năm 2010, tăng trưởng trung bình là 17,9%. Khách không lưu trú tăng từ
797.000 lượt năm 2006 lên 1.633.130 lượt vào năm 2010 tăng trưởng trung bình đạt
21,2%/năm.
Khách quốc tế đến Hải Dương chủ yếu với mục đích công vụ, hội nghị, hội thảo,
nghiên cứu thị trường kinh doanh, mở rộng đầu tư, tìm kiếm đối tác kết hợp thăm than,
vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng…
Đối với khách du lịch nội địa, số lượng khách không ngừng tăng, song khách du lịch
lưu trú chủ yếu vẫn là khách công vụ , khách của các bộ ngành, đoàn thể đến dự các hội
nghị, hội thảo, các giải thể thao kết hợp du lịch chiếm 55% (du lịch Mice); nghiên cứu
khoa học chiếm 15% , du lịch thuần túy chiếm 23%, khác chiếm 7 %, đối tượng khách
này phần lớn chi tiêu cho lưu trú, chi tiêu cho mua sắm và vui chơi giải trí thấp.
2.4.1.2. Doanh thu du lịch
Theo thống kê của Sở VHTT & DL Hải Dương, doanh thu du lịch tăng từ 390 tỷ
đồng năm 2006 lên 727,9 tỷ đồng vào năm 2010, giai đoạn 2006 – 2010 có mức tăng
17
2.4.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Giai đoạn 2006 – 2010, các cơ sở lưu trú du lịch ở Hải Dương phát triển nhanh cả
về số lượng và chất lượng, đáp ứng phần nào nhu cầu của khách du lịch. Năm 2006 toàn
tỉnh có 73 khách sạn, nhà nghỉ, với tổng số 1540 phòng nghỉ, đến năm 2010 tăng lên 133
cơ sở lưu trú với tổng số 1540 phòng nghỉ; đến năm 2010 tăng lên 133 cơ sở lưu trú với
tổng số 2637 phòng, tốc độ tăng trưởng phòng khách sạn trong giai đoạn 2006 – 2010 đạt
14,4%. Chất lượng dịch vụ trong hệ thống khách sạn đã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
của du khách.
2.4.1.4. Nguồn nhân lực du lịch
Về số lượng và trình độ đào tạo, cùng với sự gia tăng của khách du lịch và hệ thống
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, trong những năm qua số lượng lao động trong ngành du
lịch ở Hải Dương cũng không ngừng gia tăng, tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội.
Về chất lượng đào tạo: Tính bình quân cả giai đoạn thì số lao động có trình độ đại
học trở lên chiếm 12,5%; cao đẳng, trung cấp 41,6%; trình độ sơ cấp 13,8%; trình độ dưới
sơ cấp (qua đào tạo tại chỗ hoặc huấn luyện nghiệp vụ ngắn hạn) 16,6%;
2.4.1.5. Đầu tư phát triển du lịch
Tính đến nay, tổng đầu tư cho du lịch đạt trên 3000 tỷ đồng. Trong đó có 3 dự án từ
300 đến 600 đồng, 10 dự án có vốn đầu tư từ 15 – 50 tỷ đồng còn lại là các dự án từ 3 – 5
tỷ đồng.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho phát triển du lịch còn hạn chế và chiếm tỷ lệ nhỏ
so với đầu tư cho các ngành kinh tế khác.
2.4.1.6. Hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch
Xuất bản các ấn phẩm du lịch (đĩa VCD, tập gấp, bản tin, catalog) tuyên truyền
quảng bá trong và ngoài nước, xây dựng chuyên mục du lịch phát sóng trên Đài phát
thanh truyền hình Hải Dương về các chuyên đề du lịch văn hóa, lễ hội cổ truyền, du lịch
sinh thái; thông tin quảng cáo: dựng biển quảng cáo tấm lớn để đưa hình ảnh du lịch Hải
Dương đến với du khách trong nước và quốc tế.
T
T
Điểm
Giá vé
Giá vé trông, giữ phƣơng tiện
tham quan
(đồng\xe\lƣợt)
tham
quan
(đồng\ngƣời
Xe
Xe
Ô tô từ
đạp
máy
4-7 chỗ
1000
3000
thắng
10.000
12.000
15.000
các
ngày
trong
19
Côn
tuần
Sơn
Khu di
2
tích
Kiếp
sinh.
2.5. Những vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn di sản văn hoá
2.5.1. Vấn đề phát triển du lịch tại các di sản
Tại các di sản tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện còn thiếu những nghiên
cứu cụ thể về nhu cầu thị trường đối với những sản phẩm du lịch đặc thù hấp dẫn được
xem là lợi thế của từng di tích đó là du lịch tâm linh, giáo dục
Hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch tỉnh Hải Dương nói chung và các
di tích Côn Sơn – Kiếp Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền nói riêng còn hạn
chế và chưa đồng bộ.
Để phát triển du lịch Côn Sơn – Kiếp Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao
Điền tương xứng với tiềm năng của mình cần chú ý một số vấn đề sau:
Trong quá trình xác định hệ thống sản phẩm du lịch điểm di tích Côn Sơn – Kiếp
Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền, cần lưu ý tránh trùng lặp với những sản
20
phẩm du lịch ở các di tích khác trên địa bàn tỉnh Hải Dương nói riêng và ở vùng phụ cận
nói chung.
2.5.2. Vấn đề quản lý và bảo tồn các di sản
* Về công tác quản lý các di sản:
Tại khu di tích Côn Sơn Kiếp Bạc, do nhiều cơ quan quản lý trên địa
Di tích đền thờ Chu Văn An (UBND xã quản lý đất đai, dịch vụ tại dịch tích; Ban
quản lý Rừng - Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý về đồi rừng; Ban quản
lý di tích Chu Văn An quản lý về di tích)
Di tích Văn Miếu Mao Điền (UBND xã quản lý đất đai, dịch vụ tại dịch tích; Ban
quản lý di tích Văn Miếu Mao Điền quản lý về di tích)
Tại khu đền thờ Chu Văn An thi các dịch vụ còn nhỏ lẻ chỉ có vài hàng quán chưa có hệ
thống, các dịch vụ chỉ phục vụ vào mùa lễ hội. Còn đối với khu di tích Văn Miếu Mao Điền
thi dịch vụ thưa thớt chỉ có duy nhất một cửa hàng bán các đồ phục vụ du khách mua đồ thắp
bằng nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước và của giao viên, học sinh nhiều tỉnh, thành
trong nước công đức. .
Di tích Văn miếu Mao Điền bị xuống cấp nghiêm trọng do thời gian và chiến tranh.
Năm 1991, cán bộ và nhân dân xã Cẩm Điền đã đóng góp công đức tu bổ. Năm 1992,
Văn miếu Mao Điền được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia, năm 2002, Ủy ban Nhân
dân tỉnh Hải Dương đã thực hiện dự án trùng tu, tôn tạo di tích với quy mô lớn. Tháng
8/2004, Ban Quản lý di tích Văn miếu Mao Điền được thành lập.
2.6.2. Khó khăn
Chưa có sự liên kết đồng bộ trong công tác tổ chức giữa các cơ quan quản lý và các
địa phương nơi có điểm di tích
Tại các di tích nguồn vốn có được chủ yếu là do thu vé tham quan và tiền công đức
của du khách và nhân dân trong vùng đóng góp,ma hiện nay thì chỉ mới có hai di tích là
Côn Sơn và Kiếp Bạc thu phí thăm quan còn lại di tích đền thờ Chu Văn An và Văn Miếu
Mao Điền thì không thu phí. Chính vì vậy nguồn vốn không nhiều để bảo tồn di tích
Như vậy vấn đề đặt ra là vai trò của Ban quan lý tại các điểm di tích Côn Sơn, Kiếp
Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền đến đâu trong việc quản lý bảo tồn di tích
gắn với phát triển du lịch.
Tiểu kết chương 2
Với mục tiêu bảo tồn phát huy bền vững giá trị của các khu di tích Côn Sơn, Kiếp
Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn miếu Mao Điền gắn với phát triển du lịch phục vụ cho
mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh Hải Dương và khu vực. Việc bảo
tồn các di tích góp phần làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc; đồng thời ngăn chặn các
yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến giá trị văn hoá làm sáng tỏ các giá trị lịch sử văn hoá
22
của quần thể di tích Côn Sơn,Kiếp Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền ở
hiện tại và trong tương lai.
Tuy nhiên khi gắn kết hoạt động du lịch với bảo tồn, hoạt động du lịch cũng đã thể
+ Ban hành Quy chế quản lý hệ thống di tích, đất đai, cảnh quan, môi trường, quản
lý các hoạt động đầu tư xây dựng, các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội trên toàn địa
bàn khu di tích và trong từng vùng cụ thể.
3.2. Định hƣớng của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hải Dƣơng
Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn, Kiếp
Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền trên địa bàn tỉnh Hải Dương là công cụ giúp
cho chính quyền các cấp thuộc tỉnh Hải Dương .
+ Hệ thống di sản văn hóa vật thể phong phú đa dạng. Hệ thống các di tích lịch sử đều
đã được xếp hạng quốc gia. Đây là nguồn tài nguyên vô tận để phát triển ngành kinh tế không
khói của tỉnh Hải Dương và khu vực.
+ Khu di tích lịch sử và danh thắng Côn Sơn - Kiếp Bạc, đền thờ Chu Văn An, Văn Miếu
Mao Điền được quy hoạch và xây dựng vừa hiện đại, vừa bảo tồn được các giá trị lịch sử trong
một môi trường sinh thái phong phú, đa dạng, cảnh quan hài hoà thì sẽ trở thành điểm di lịch,
dịch vụ quan trọng của khu vực.
+ Định hướng quy hoạch và phát triển các di tích là: di tích lịch sử Côn Sơn, Kiếp Bạc, đền
thờ Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền là khu vực có đủ các điều kiện để phát triển thành khu du
lịch đặc thù trong mối quan hệ ưu tiên với bảo tồn di tích
+ Quan điểm phát triển là khai thác hợp lý các thế mạnh của điều kiện địa chính trị,
địa kinh tế, địa nhân văn và các điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội, các thế mạnh về nông nghiệp, sản vật, văn hoá lịch sử và cảnh quan cho phát triển
kinh tế - xã hội.
+ Căn cứ nội dung quy hoạch tổng thể UBND tỉnh Hải Dương xây dựng và ban
hành Quy chế quản lý toàn diện các di tích trên cơ sở các bộ luật của Nhà nước.
3.3. Các giải pháp phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích vật thể trên địa bàn tỉnh
Hải Dƣơng
3.3.1. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù
Khuyến khích đầu tư nâng cấp mở rộng các loại hình vui chơi giải trí tại các khu vực
trọng điểm phát triển du lịch lễ hội của tỉnh.
Nghiên cứu quy hoạch một số điểm trình diễn văn nghệ ca múa nhạc dân tộc với
đền Chu Văn An, Văn Miếu Mao Điền. Xuất bản các ấn phẩm, tờ gấp, bưu ảnh bằng
nhiều thứ tiếng, có thể sử dụng tuyên truyền, phát ấn phẩm ở những địa điểm thu hút
khách tham quan, du lịch như:
3.3.3.Tăng cường vai trò của cộng đồng trong du lịch.
Để bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản một cách tốt nhất trước hết phải tập
trung vào nhận thức của người dân, phải để cho người dân hiểu một cách sâu sắc về giá trị
của di sản đang tồn tại và khả năng khai thác của nó.
Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động cung cấp dịch vụ du
lịch, tiến tới xã hội hóa hoạt động du lịch.
25