MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CHÈ CỦA CÔNG TY TNHH THIÊN HOÀNG - Pdf 68

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU CHÈ CỦA
CÔNG TY TNHH THIÊN HOÀNG
3.1. Phương hướng phát triển của ngành chè và của công ty TNHH Thiên
Hoàng
3.1.1. Phương hướng phát triển của ngành chè
a) Tình hình thị trường trong nước
Chè hiện đang đứng thứ 7 về kim ngạch xuất khẩu trong các mặt hàng
nông sản, sau gạo, cao su, cà phê, hạt điều, rau quả và hạt tiêu tính đến hết
tháng 12/2009. Kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam đạt 146 triệu đô la Mỹ,
chiếm khoảng 2% tổng giá trị nông sản xuất khẩu.
Trong năm 2009 vừa qua, tổng lượng chè xuất khẩu của Việt Nam đạt
110 nghìn tấn, tương đương với 147 triệu USD, tăng 7,5% về lượng và 12,8%
về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Các thị trường xuất khẩu chính của Việt
Nam có thể được kể tới là Đài Loan, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Irắc, Đức, Hà
Lan, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh.
Tuy nhiên, hiện nay chè của Việt Nam vẫn chủ yếu được xuất khẩu dưới
dạng nguyên liệu thô, khâu chế biến lại thiếu tiêu chuẩn, nên giá trị xuất khẩu
còn chưa cao. Ngay cả trên những thị trường truyền thống như Trung Quốc,
Đài Loan, Nga, chè Việt Nam vẫn ít được người tiêu dùng biết đến do chủ yếu
được nhập khẩu dưới dạng nguyên liệu thô. Thương hiệu chè “Vinatea” của
Tổng Công ty chè Việt Nam vẫn chưa thực sự khẳng định được uy tín cho chè
đen xuất khẩu. Tại thị trường Trung Quốc, chè của Việt Nam chưa có được thị
phần và thương hiệu, chủ yếu là xuất khẩu nguyên liệu thô nên giá trị xuất
khẩu thấp. Về chất lượng thì mặt hàng chè của Việt Nam rất có uy tín, tuy
nhiên do mới chỉ xuất khẩu nguyên liệu nên chưa được người tiêu dùng Trung
Quốc biết đến nhiều. Các doanh nghiệp Trung Quốc nhập khẩu nguyên liệu
về chế biến và bán với giá cao hơn nhiều.
Hơn nữa, theo nhận định của Hiệp hội Chè Việt Nam, hiện nay có quá
nhiều doanh nghiệp xuất khẩu chè sang cùng một thị trường. Đây là một trong
những lý do làm giá chè của ta luôn thấp hơn so với các nước khác và chất
lượng chè không được ổn định. Hiện bắt đầu có sự mất cân đối về khả năng

Tấn/ha 6,36 8-9
Sản lượng chè búp tươi
Tấn 665000 1200000
Sản lượng chè xuất khẩu
Tấn 110000 250000
Kim ngạch xuất khẩu
Triệu USD 200 300
(Nguồn: Định hướng phát triển ngành chè đến năm 2015)
Ngành chè định hướng quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung tại 8 tỉnh
phía Bắc: Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Lâm Đồng. Viện nghiên cứu chè hỗ trợ các đơn vị nhân
giống và đưa nhanh các giống có năng suất cao, chất lượng tốt để cải tiến chất
lượng chè xuất khẩu. Cải tạo đất bằng phân bón hữu cơ tổng hợp phù hợp với
loại đất. Đầu tư cải tạo các cơ sở chế biến công nghiệp, xây dựng thêm các
nhà máy chế biến công suất 14 tấn/ngày, đẩu tư xây dựng nhà máy cơ khí chè
để tạo phụ tùng thiết bị phục vụ cho sửa chữa và nâng cấp nhà máy cũ.
Về xuất khẩu, tiếp tục giữ vững thị trường hiện có, mở ra các thị trường mới
bằng việc sản xuất tiêu thụ sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý. Với các thị
trường quen thuộc như Nga, các nước thuộc SNG và Đông Âu, cùng với việc
phấn đấu đưa lượng chè xuất khẩu lên cao hơn nữa còn phải cải tiến về bao bì
nhãn mác đặc biệt là chất lượng chè phải được chú trọng. Thị trường Trung Cận
Đông chiếm một tỷ lệ tương đối lớn và nhiều tiềm năng do vậy cần đẩy mạnh hơn
nữa khâu quảng cáo tiếp thị, giới thiệu sản phẩm. Thị trường Châu Á như Đài
Loan, Nhật, đây là thị trường đòi hỏi chè có chất lượng cao cũng như nhãn mác
bao bì. Ngoài ra các thị trường khác như Tây Âu, Bắc Mỹ cũng đã sử dụng chè
Việt Nam nên tăng cường tiếp thị mở rộng các thị trường này.
Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, ngành chè đã tiến hành cổ phần
hóa các cơ sở chế biến chè. Người nông dân trở thành cổ đông thông qua việc
đóng góp cổ phần bằng đất đai và cây chè và sẽ được chia cổ tức theo kết quả sản
xuất kinh doanh. Như vậy, lợi ích của người sản xuất không chỉ dừng ở nghĩa vụ

càng được mở rộng…Đồng thời công ty cũng gặp phải những thách thức khi
gặp phải sự cạnh tranh lớn từ các công ty trong và ngoài nước, chất lượng
hàng chè xuất khẩu của công ty còn hạn chế, đối đầu với thiên tai hạn hán
khiến chè bị mất giá…
Trước những thời cơ và thách thức đó công ty đã đề ra phương hướng
cho xuất khẩu chè trong những năm tới. Trong những năm qua công ty xuất
khẩu những loại chè đen, chè xanh…nay cần phải bổ xung thu mua những
loại chè có chất lượng cao hơn thế nữa. Bên cạnh việc thu mua chè chất lượng
cao thì mẫu mã bao bì cần phải đa dạng để chè xuất khẩu đủ sức cạnh tranh
trên thị trường thế giới. Công tác thị trường, tìm kiếm thêm thị trường xuất
khẩu chè là một trong những chiến lược của công ty.
Với những thị trường quen thuộc như Pakistan, Apghanistan, Nga công
ty phấn đấu nâng cao lượng chè xuất khẩu, chú trọng hơn đến bao bì mẫu mã.
Với thị trường mới xâm nhập hiện tại như Ấn Độ, Anh… công ty cần đẩy
mạnh hơn nữa khâu tiếp thị quảng cáo. Đi đôi với mở rộng thị trường là đa
dạng hóa chè xuất khẩu tạo ra nhiều loại thích hợp với thị hiếu của khách
hàng, đồng thời áp dụng các hình thức bán linh hoạt như: buôn bán đối lưu,
ký hợp đồng gửi bán…
Ngoài ra công ty còn đặt ra những mục tiêu cụ thể cho từng thị trường và
từng thời gian cụ thể như tháng, quý, năm. Công ty đề ra biện pháp để thực
hiện những mục tiêu đã đề ra, thường xuyên kiểm tra và điều chỉnh hợp lý.
3.2. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu chè
3.2.1. Hoàn thiện công tác tạo nguồn và mua hàng
Giống như những mặt hàng nông nghiệp nói chung, với mặt hàng chè
việc thu mua thường diễn ra trên phạm vi rộng, công tác thu mua chè diễn ra
trong thời gian ngắn với khối lượng lớn, vì vậy đòi hỏi công ty phải có mạng
lưới thu mua rộng. Mặc dù hiện nay nguồn cung cấp chè cho xuất khẩu tương
đối dồi dào, nhưng để tránh những biến động do hạn hán, thiên tai, có nhiều
doanh nghiệp xuất khẩu chè… và đồng thời tạo được chân hàng ổn định công
ty cần kết hợp chặt chẽ với nhà sản xuất.

loại chè này chỉ được trồng trên những vùng núi cao hơn 1000m và diện tích
trồng rất ít. Tuy vậy công ty cần có chiến lược cụ thể để tranh thủ được nguồn
hàng này như: đặt hàng, bao tiêu sản phẩm từ đầu vụ, tìm kiếm các nguồn
hàng mới…
Bên cạnh việc tìm kiếm các mặt hàng chè mới, công ty cũng có thể đa
dạng hóa mặt hàng chè xuất khẩu từ các nguồn hàng hiện tại. Do đặc điểm
của chè xuất khẩu là khi đấu các loại chè khác nhau theo tỷ lệ khác nhau sẽ
cho ra một loại chè mới, do đó công ty cần tập trung nguồn lực khai thác
nguồn nguyên liệu và thị trường vốn có.
Đa dạng hóa mặt hàng kinh doanh không những giúp công ty giảm rủi ro
trong kinh doanh mà còn tăng cao lợi nhuận, kinh doanh có lãi. Do vậy công
ty cần tìm tòi mở rộng nguồn hàng, tìm kiếm các loại chè mới phù hợp với
nhu cầu khách hàng, tích cực xây dựng mở rộng thị trường xuất khẩu chè.
3.2.3. Đẩy mạnh ứng dụng Mar – Mix vào hoạt động xuất khẩu
Trong những năm gần đây thị trường chè thế giới có sự cạnh tranh gay
gắt, luôn có tình trạng cung lớn hơn cầu. Tuy nhiên theo các chuyên gia nhận
định và thực tế cho thấy mặt hàng chè của Việt Nam và của công ty vẫn có
lượng cầu lớn hơn nhiều lượng cung trên thị trường. Cơ hội thị trường chè
vẫn còn nhiều, điều quan trọng để giữ được khách hàng và mở rộng thị trường
đó là ta cần phải làm tốt công tác thị trường.
Để làm tốt công tác này, công ty Thiên Hoàng nói riêng cũng như các
công ty trong ngành chè Việt Nam nói chung cần tuần theo quan điểm
marketing hiện đại, đặt nghiên cứu nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu. Cần
phải xóa bỏ tư tưởng cũ mang nặng tính bao cấp là bán những gì mình có mà
phải bán những gì thị trường cần. Trong thời gian tới công ty cần chú trọng
xây dựng và thực hiện các chiến lược marketing hiệu quả gồm:
Về sản phẩm: 80% lượng chè tiêu thụ trên thế giới là chè đóng gói, thị
hiếu tiêu dùng chè trên các thị trường cũng rất đa dạng, người Mỹ đang ưa
dùng các loại chè ướp lạnh, ở Indonexia là chè đóng chai còn ở Nhật chè đóng
lon cũng được tiêu thụ một cách đáng kể…Coi trọng sức khỏe người tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status