Thực trạng phát triển khoa học công nghệ và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay - Pdf 68

Thực trạng phát triển khoa học công nghệ và tăng trưởng kinh
tế Việt Nam hiện nay
I. Thực trạng tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay và thách thức
của suy thoái kinh tế toàn cầu.
1. Bối cảnh kinh tế toàn cầu.
Kinh tế toàn cầu hiện nay đang phải đương đầu với cuộc khung hoảng tài
chính diễn ra ngày càng trầm trọng và nhanh chóng lan ra các nước.
1.1 Diễn biến gần đây của xu hướng suy thoái kinh tế toàn cầu.
Bắt đầu từ Mỹ (7/2007) đến giữa tháng 9/2008 chính thức nổ ra và đến
nay đã đạt đến cao trào. Cuộc khung suy thoái khởi đầu từ lĩnh vực tài chính,
lan ra các lĩnh vực kinh tế khác và đang tác động tiêu cực đến tất cả các nước
với mức độ ngày càng nặng nề. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi kể từ giữa tháng
10/2008 đã co hơn 10 cuộc họp, hội nghị quốc tế quan trọng được triệu tập khẩn
cấp để bàn biện pháp đối phó với tình hình. Chính phủ nhiều nước đã phải khẩn
cấp “cứu nguy” và sử dụng nhiều biện pháp can thiệp mạnh vào thị trường như
tái quốc hữu hóa nhiều ngân hang và tập đoàn lớn, cắt giảm lãi suất và bơm một
lượng tiền lớn chưa từng có ra thị trường. Bắt đầu là 6 ngân hang trung ương ở
các nước phát triển (gồm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ - FED, Ngân hang Trung
ương Anh, Châu Âu, Pháp, Úc, Canada) khẩn cấp cắt giảm lãi suất 0.5 % vào
ngày 08/10/2008, sau đó la các ngân hang trung ương Châu Á, ngày
29/10/2008, FED tiếp tục cắt giảm lãi suất them 0,5% còn 1% là mức thấp nhất
kể từ năm 2001. Sang tháng 11/2008 hàng loạt các nước cắt giảm lãi suất. Hàng
ngàn tỷ USD đã được đưa ra để cứu nguy các ngân hang, quỹ bảo hiểm và thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế. Mở đầu la gói 700 tỷ USD của Chính phủ Mỹ, sau đó
là Nga, Đức, Thụy Điển, Nhật, Hàn Quốc… cũng đưa ra một lượng tiền lớn
tương đương hàng chục đến hàng trăm tỷ USD. Đến cuối tháng 11/2008, tổng
cộng Mỹ đã quyết định tung ra 1.500 tỷ USD, Châu Âu 200 tỷ Euro, Trung
Quốc 586 tỷ USD và Nhật 63,5 tỷ USD cho yêu cầu này, ASEAN và Hàn Quốc,
Trung Quốc, Nhật Bản cũng đã nhất trí thành lập quỹ dự trữ ngoại tệ chung trị
giá 80 tỷ USD vào cuối tháng 6/2009 để đối phó với cuộc khủng hoảng.
1.2 Những tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu.

Kinh tế Mỹ đã chính thức rơi vào suy thoái: GDP quý III đã giảm 0,3%.
Cả 5 chỉ số thể hiện sức khỏe nền kinh tế (ngân hàng, nhà ở, người tiêu dung,
chứng khoán và việc làm) đều rất xấu: giá nhà ở, chứng khoán tiếp tục giảm
sâu, các lĩnh vực của nền kinh tế, đặc biệt là dịch vụ tài chính và xây dựng bị tác
động mạnh, thất nghiệp hiện nay tăng lên 6,1% và có thể lên tới 8 % vào năm
2009.
Suy thoái kinh tế đã lan sang châu Âu, Đông Á và nhiều nước khác. Nước
có nền kinh tế lớn nhất Châu Âu là Đức đã rơi vào suy thoái, GDP quý II giảm
0,4% và quý III giảm 0.5%, nền kinh tế Anh, GDP quy III tăng trưởng âm sau
16 năm, ở mức – 0.5%; đồng bảng Anh mất giá ở mức thấp nhất trong vòng 5
năm so với đồng USD; thất nghiệp lên tới 5,7%; lạm phát giá tiêu dùng ở mức
5,2%; lần đầu tiên khu dịch vụ chiếm 3/4 nền kinh tế giảm 0,4%, nhất là lĩnh
vực nhà hàng, khách sạn. Để vực dậy nền kinh tế, Anh đã cắt giảm lãi suất từ
ngày 4,5% xuống còn 3%, mức thấp nhất kể từ năm 1955. Các nước Châu Âu
còn lại hầu như cũng đã rơi vào suy thoái.
Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai thê giới bị ảnh hưởng nặng nề do xuất
khẩu chiếm tới 3/4 GDP và các ngân hàng nắm nhiều tài sản nước ngoài. Trước
đây Ngân hàng trung ương Nhật Bản dự đoán tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt
0,1% và 0,6% vào năm sau, nhưng nay đã công bố chính thức quý II giảm 0,1%
và quý III giảm 0,9%. Đồng yên lên giá mạnh tác động tiêu cực đến xuất khẩu,
buộc Nhật Bản phải yêu cầu các nước G7 can thiệp. Thị trường chứng khoán
mất 50% giá trị trong 10 tháng qua. Ngày 31/10/2008 ngân hàng Trung ương
Nhật Bản đã giảm lãi suất từ 0,5% xuống còn 0,3%.
Nga có dự trữ lên tới 540 tỷ USD nhưng bị tác động tồi tệ nhất trong các
nền kinh tế mới nổi. Thị trường chứng khoán mất 74% giá trị kể từ tháng
5/2008 đến ngày 24/10/2008, nhiều lần phải tạm ngừng giao dịch. Hệ thống
ngân hàng đóng băng, nhiều ngân hàng đứng trên bờ vực phá sản. Giá hàng hóa
giảm, đặc biệt là giá dầu đã tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Trung Quốc có dự trữ hơn 2000 tỷ USD, thặng dư tài khoản vãng lai lớn,
nhưng cũng không tránh được “cơn bão” tài chính: tốc độ tăng trưởng chậm lại

nhân hóa nền kinh tế, giảm bớt tối đa các thể chế và sự can thiệp của nhà nước
dẫn đến sự buông lỏng quản lý, giảm sát đối với hoạt động của các tập đoàn tài
chính, ngân hàng và sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế. Mặt khác, các
quy định, luật pháp của các nước và quốc tế cũng không theo kịp tình hình nên
đã không kiểm soát nổi quá trình phát triển, toàn cầu hóa kinh tế, tài chính và
thương mại.
2. Thực trạng tăng trưởng kinh tế VN
2.1 Số lượng và quy mô tăng trưởng
Trong thời kỳ qua, nước ta tận dụng được những cơ hội thuận lợi, vượt
qua được những thách thức, những khó khăn đã duy trì được tốc độ tăng trưởng
nhanh và liên tục, năm sau cao hơn năm trước; thu nhập bình quân đầu người
không ngừng được cải thiện qua từng thời kỳ, vượt qua được tình trạng nước
nghèo và kém phát triển, và chúng ta đang phấn đấu để sớm vượt qua được
ngưỡng vước đang phát triển có thu nhập thấp.
Sau hơn 20 năm thực hiện đổi mới, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt
Nam đã tăng lên liên tục. Tôc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình
quân giai đoạn 1991 – 2005 đạt khoảng 7,5%
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2000 – 2008 kế hoạch 2009 và dự báo
2010 (%).
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
DB
2009
KH
2010
Tốc độ tăng trưởng
GDP
6,8 6,98 7,08 7,34 7,79 8,4 8,2 8,5 6,23 6,5 7,0
Trong đó:
Nông, lâm, ngư
nghiệp

GDP.
Biểu đồ 2: Tốc độ Tăng trưởng GDP qua các năm
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Cùng với tăng trưởng kinh tế cao, chất lượng tăng trưởng kinh tế cũng
được cải thiện. Tuy nhiên theo nhiều đánh giá của trong nước và quốc tế, mặc
dù Việt Nam đạt được những kết quả tăng trưởng cao, nhưng đó là kết qủa tăng
trưởng theo chiều rộng chứ chưa có sức tăng trưởng theo chiều sâu. Việt Nam
vẫn đang đứng ở trong ranh giới của những nước kém phát triển theo tiêu chuẩn
của Liên hợp quốc.
2.2 Chất lượng tăng trưởng.
Trong nhiều năm qua tăng trưởng với chất lượng và hiệu quả cao hơn là
mục tiêu được các ngành quan tâm và thực hiện tốt hơn. Tăng trưởng đã giảm
bớt sự phụ thuộc vào yếu tố tăng vốn, nâng cao sự đóng góp của yếu tố lao động
có chất lượng với năng suất cao, nâng cao hiệu quả quản lý và đưa các yếu tố về
khoa học công nghệ vào chu trình sản xuất kinh doanh, giảm tiêu hao vật chất.
Chất lượng tăng trưởng trong nhiều ngành, lĩnh vực đã có những bước cải thiện,
các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế đang thích nghi ngày càng tốt hơn với thị
trường quốc tế. Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng được nâng cao.
- Thu nhập theo đầu người ngày càng tăng. Trước đổi mới, phần lớn dân
số nước ta sống bằng nghề nông, Việt Nam bị đánh giá là nước nghèo nàn và
lạc hậu với mức thu nhập bình quân đầu người rất thấp và có nhiều người trong
diện nghèo đói. Đường lối đổi mới và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo
ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động, dẫn đến nâng cao thu nhập cho
người dân. Đến năm 2007 thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã đạt
820 USD/năm. So với năm 1995 mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay
của nước ta đã tăng khoảng 2,8 lần.
- Tỷ lệ nghèo đói có xu hướng giảm mạnh. Trên cơ sở kinh tế tăng trưởng
nhanh, mức độ nghèo đói của dân cư giảm mạnh. Năm 2006 tỷ lệ hộ nghèo ở
Việt Nam là 18,1% (tính theo chuẩn quốc tế) và được thế giới đánh giá là thành
công trong việc chống nghèo đói.

thị trường. Cùng với việc hình thành khuôn khổ pháp lý cho nền kinh tế thị
trường, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng bước được hình thành.
Nhìn chung, đánh giá về mặt lượng cho đến nay nền kinh tế Việt Nam
tăng trưởng với mức độ khá cao và đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào về
tăng GDP bình quân đầu người, giảm tỷ lệ nghèo đói, cải thiện chất lượng cuộc
sống, tăng năng suất lao động, ổn định kinh tế vĩ mô, đổi mới thể chế. Tuy
nhiên nếu nhìn nhận một cách tổng quát, khách quan thì chất lượng tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam còn chưa tốt:
*Có thể đánh giá chất lượng tăng trưởng theo nhiều cách khác nhau.
Trong bài này chúng ta đi nghiên cứu đánh giá chất lượng tăng trưởng theo hiệu
quả đầu tư hay thông qua chỉ số năng suất TFP.
Chất lượng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua là do
yếu tố nào là chủ yếu: gia tăng yếu tố đầu vào ( đất đai, lao động) hay la do yếu
tố công nghệ? Để xác định sự đóng góp vào tăng trưởng của các yếu tố vốn, lao
động, và năng suất nhân tố tổng hợp TFP chúng ta sử dụng hàm Cobb –
Douglas.
Hàm Cobb-Douglas: Yt = A.Ktα.Ltβ
Trong đó:
Y là biến số về sản lượng của nền kinh tế (thường được tính bằng tổng
sản phẩm quốc nội tại giá cố định).
K: là biến số về vốn.
L: là biến số về lao động.
A: là thể hiện trình độ công nghệ.
* Ta có chất lượng tăng trưởng liên quan đến tỷ trọng đóng góp của năng
suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp nên hiệu quả của tăng trưởng Việt Nam
không cao. Tăng trưởng của nước ta đạt được chủ yếu do gia tăng về lượng các
yếu tố đầu vào như vốn đầu tư, số lượng lao động. Chất lượng, hiệu quả đầu tư
còn thấp, trình độ công nghệ lạc hậu và chất lượng lao động còn nhiều mặt hạn
chế, đã đe doạ đến tính bền vững trong hiện tại và cả tương lai, tạo ra mâu thuẫn
giữa tốc độ tăng trưởng (số lượng) và chất lượng, hiệu quả tăng trưởng.

khoảng 1,5 lần, với Thái Lan là 1,35 lần.
Năng suất lao động của nước ta hiện nay còn thấp hơn từ 2 đến 15 lần so
với các nước trong khu vực ASEAN. Năng suất lao động của Việt Nam mới đạt
1.260 USD (năm 2004); trong cả thời kỳ 2002 – 2005 đạt 1.243,4 USD còn thấp
xa so với nhiều nước trong khu vực: Thái Lan 4.514,1 USD; Malaixia 11.276,2
USD, Hàn Quốc là 29.057,6 USD…. Năng suất lao động của nước ta tăng rất
chậm chỉ khoảng 4 % - 5 %/năm.
Trình độ khoa học và công nghệ trong nền kinh tế của nước ta còn thấp,
lạc hậu 3 – 4 thế hệ so với những nước công nghiệp phát triển, đứng thứ 92
trong số 117 nước được điều tra (WEF 2005 – 2006). Công nghệ trong các
doanh nghiệp lác hậu nhiều thế hệ so với khu vực, chuyển giao công nghệ chưa
có những tiến bộ cần thiết, trình độ công nghệ thông tin còn rất thấp. Tỷ trọng
doanh nghiệp có công nghệ cao mới đạt 20,6%; rất ít doanh nghiệp quan tâm
đến thông tin về khoa học và công nghệ chỉ có khoảng 8% doanh nghiệp đạt
được trình độ công nghệ tiến tiến và phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài.
Qua các chỉ số trên cho ta thấy tính chất tăng trưởng của nước ta còn
nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu. Xu hướng phát triển chủ yếu dựa vào
yếu tố vốn đầu tư, trong khi đó vốn tự có từ tích lũy trong nước còn có hạn, một
phần quan trọng phải đi vay từ nước ngoài làm cho tăng trưởng có thể dễ bị tác
động từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt từ sự biến động của thị trưởng vốn. Yếu
tố lao động đượcc coi là nguồn lực nội sinh hiện đang có lợi thế so sánh như giá
rẻ, dồi dào… đóng vai trò thấp hơn nhiều so với yếu tố vốn trong tăng trưởng.
Tình trạng này có thể được xem xét dựa trên các yếu tố cơ bản trong năng suất
nhân tố tổng hợp, đó là hiệu quả đầu tư thấp, chất lượng lao động và năng suất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status