THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH XÂY DỰNG ĐỨC THÀNH - Pdf 68

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TNHH XÂY
DỰNG ĐỨC THÀNH
I- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG TỚI
CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY.
1. Đặc điểm về thị trường.
Sau 6 năm trưởng thành và phát triển Công ty đã từng bước phát huy
được những thế mạnh và ưu thế của mình, đã tạo được lòng tin về sản phẩm
của mình trên thị trường.
Nền kinh tế phát triển với tốc độ cao nên nhu cầu về hàng hoá, sản
phẩm đạt chất lượng rất lớn để phục vụ cho người tiêu dùng góp phần vào
tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới.
1.1. Thị trường mua:
Khi mới thành lập do chưa có nhiều kinh nghiệm và chưa có các nhà
cung cấp ruột, nguồn hàng của Công ty được cung cấp chủ yếu bởi các đơn vị
thương mại và sản xuất do các đơn vị bạn giới thiệu do vậy thiếu sự chủ động
về nguồn hàng, giá cả, tiến độ cung cấp cũng như chủng loại của hàng hoá,
dẫn đến tình trạng Công ty luôn ở thế bị động trong kinh doanh, thiếu tính cạnh
tranh, không mở rộng được thị trường, tốc độ tăng trưởng chậm. Đến cuối
năm 2005 Công ty đã quyết định thay đổi chính sách về nguồn hàng kinh
doanh. Công ty đã chủ động tìm kiếm được các nhà cung cấp có các mặt hàng
cạnh tranh trên thị trường và trở thành bạn hàng lâu dài, cùng hợp tác phát
triển. Ban đầu Công ty chủ yếu chỉ nhập hàng tại thị trường Hoà Bình và các
tỉnh lân cận. Đến nay Công ty đã mở rộng nguồn hàng từ các nhà sản xuất trên
khắp Đất nước. Do vậy Công ty đã chủ động hoàn toàn được nguồn cung cấp
hàng hoá, đây chính là vấn đề quan trọng nhất giúp Công ty mở rộng thị
trường, có tính cạnh tranh cao.
1.2. Thị trường bán:
Thời kỳ đầu Công ty mới chỉ triển khai bán hàng ở thị trường Hoà Bình.
Khi Công ty đã chủ động hoàn toàn được nguồn hàng hoá thì thị trường của
Công ty luôn được mở rộng và phát triển không ngừng trên khắp cả nước.
Một số công trình tiêu biểu trong những năm qua:

lợi nhuận. Nhưng do tính chất biến động của thị trường nên các bản dự báo về
giá của doanh nghiệp thường trong giai đoạn ngắn hạn và luôn được điều
chỉnh một cách kịp thời nhằm tiêu thụ nhanh chóng sản phẩm mà vẫn đảm bảo
được lợi nhuận. Lựa chọn thời điểm bán hàng và tiêu thụ sản phẩm sẽ lá lý
luận quan trọng nhất trong bản dự báo về giá của doanh nghiệp, nó đảm bảo
cho sản phẩm bán được giá và lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
2. Đặc điểm về sản phẩm
Do đặc thù hoạt động của Công ty là hoạt động trên lĩnh vực xây dựng vì
vậy sản phẩm chủ yếu là những công trình xây dựng. Sản phẩm của Công vừa
mang đặc điểm của bất động sản vừa mang tính chất của các sản phẩm
thương mại khác.
Các công trình chủ yếu mà Công ty đang thực hiện chủ yếu là các công
trình thuỷ lợi của các xã thuộc Huyện Lạc Sơn – Hoà Bình, các công trình của
nhà nước cũng như tư nhân trên địa bàn tỉnh Hoà Bình và một số tỉnh lân cận.
3. Đặc điểm về lao động của Công ty.
Lao động là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của Doanh nghiệp, sử dụng lao động hợp lý, hiệu quả là mục tiêu của Công ty.
Lao động là một yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất kinh
doanh của bất cứ doanh nghiệp nào. Do đó, số lượng lao động có ảnh hưởng
rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, việc tổ chức lao động
cho sản xuất của Công ty là công việc hết sức cần thiết, những năm qua Công
ty đã không ngừng cải tiến cơ cấu tổ chức lao động, nâng cao trình độ cho đội
ngũ cán bộ công nhân viên để phục vụ sản xuất. Ta có thể thấy được tình hình
lao động của Công ty qua bảng số liệu sau:
Qua bảng 1 ta thấy: tổng số lao động của Công ty có sự biến động qua
các năm. Năm 2005 tổng số lao động của Công ty là 180 người, năm 2006
tổng số lao động là 200 người, tăng 20 người, tương đương với 11%.
Đến năm 2007 tổng số lao động đã là 220 người, tăng 20 người, tương
đương 10%. Nhìn chung sự biến động về số lao động trong 03 năm có ảnh
hưởng không nhỏ tới sản xuất của Công ty.

+ Đại học 20 11.1 20 10 22 10
+ CĐ, trung cấp 60 33.3 70 35 78 35.5
+ CN kỹ thuật 100 55.6 110 55 120 54.5
(Nguồn: Phòng Kế toán-Tài chính)
Về trình độ lao động của Công ty thì khối lao động có trình độ sơ cấp
chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 55%), song khối lao động này đang có chiều hướng sẽ
giảm đi, còn khối lao động có tình độ từ trung cấp trở lên lại có xu hướng tăng
thêm. Năm
2006 so với năm 2005 lao động có trình độ trung cấp trở lên tăng 10 người tức
là 12.5%, năm 2007 tăng 10 người tức là 11.1%, nguyên nhân do đơn vị tuyển
thêm lao động có trình độ nhằm trẻ hóa đội ngũ cán bộ. Điều đó cho thấy chất
lượng lao động của Công ty đang dần được nâng cao, Công ty đã chú trọng tới
chất lượng của đội ngũ lao động.
Do nhu cầu, đặc điểm của ngành xây dựng nên lao động nam luôn
chiếm tỷ lệ cao trong tổng số lao động. Qua các năm tổng số lượng lao động là
nữ hầu như có tăng nhưng không đáng kể. Còn số lao động nam tăng đều qua
các năm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động của Công ty.
4. Đặc điểm về tài sản của Công ty TNHH xây dựng Đức Thành
Từ Bảng 2 ta thấy nguyên giá TSCĐHH đến thời điểm cuối năm là
660.000.000đ, nguyên giá TSCĐHH được sử dụng hoàn toàn vào việc sản
xuất kinh doanh, Công ty không có tài sản không cần dùng hay chưa cần dùng.
Nhà máy đã sử dụng tối đa TSCĐ vào sản xuất kinh doanh làm giảm đi hao
mòn vô hình.
- Thời điểm đầu năm nguyên giá TSCĐHH là 770.000.000đ trong đó
Nhà cửa là 264.000.000 đ chiếm tỷ trọng 34.3% tổng nguyên giá
TSCĐHH
Máy móc thiết bị là 604.800.000đ chiếm tỷ trọng 51.2% tổng nguyên giá
TSCĐHH
Thiết bị dụng cụ quản lý 11.200.000đ chiếm tỷ trọng 14.5% tổng nguyên
giá TSCĐHH

000.000)
SD cuối năm
(99.0
00.000)
(226.800.0
00)
(4.200.
000)
(330.0
00.000)
3. Giá trị còn lại của
TSCĐ
tại ngày đầu năm
264.00
0.000 604.800.000 11.200.000
770.00
0.000
tại ngày cuối năm
231.00
0.000 529.200.000 9.800.000
660.00
0.000
(Nguồn: Phòng Kế toán-Tài chính)
Tóm lại năm 2007 Công ty không đầu tư thêm TSCĐ phục vụ sản xuất
kinh doanh cụ thể là các máy móc thiết bị thi công phục vụ sản xuất không
tăng.
Để biết rõ hơn năng lực sản xuất của TSCĐ chúng ta phải đi nghiên cứu
xem TSCĐ của Công ty còn giá trị như thế nào, đã khấu hao hết hay chưa,
mức khấu hao hiện nay như thế nào, giá trị còn lại nhiều hay ít...
Bảng 4: Tình trạng kỹ thuật của TSCĐ năm 2007

hiểu rõ hơn về tình hình huy động và sử dụng vốn của Công ty, thể hiện qua
bảng sau:
Bảng 5: Tình hình tài sản và nguồn vốn của Công ty qua các năm
Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 So sánh
Giá trị (trđ) (%) Giá trị (trđ) (%) Giá trị (trđ) (%)
2006/
2005
2007/
2006
I. Tổng giá trị TS 3.476 100 3.527 100 3.610 100 101.5 102.4
1. Tài sản lưu động 2.596 74.7 2.757 78.2 2.950 81.7 106.2 107
2. Tài sản cố định 880 25.3 770 21.8 660 18.3 87.5 85.7
II. Tổng giá trị nguồn 3.476 100 3.527 100 3.610 100 101.5 102.4
vốn
1. Nợ phải trả 1.068 30.7 1.075 30.5 774 21.4 100.6 72
2 Nguồn vốn CSH 2.408 69.3 2.452 69.5 2.836 78.6 101.8 115.6
(Nguồn: Phòng Kế toán-Tài chính)
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy tình hình của nguồn vốn của Công ty
cũng thay đổi qua các năm. Điều đó cũng có thể nhận thấy là hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty có xu hướng thay đổi.
Cụ thể, năm 2006 so với năm 2005:
Tổng giá trị nguồn vốn tăng 51 triệu đồng ứng với 1.5%, trong đó nguồn
vốn chủ sở hữu tăng 44 triệu đồng tương ứng với 1.8%, nợ phải trả cũng tăng
7 triệu đồng 0.6%. Ta thấy nguồn vốn lớn hơn hoặc bằng nợ phải trả, như vậy
qua đó ta thấy được tình hình tài chính của Công ty khá tốt.
Năm 2007 so với năm 2006: nguồn vốn chủ sở hữu tăng 384 triệu đồng
tức là tăng 15.6%, nợ phải trả giảm 301 triệu đồng tương ứng với 28%.
Như vậy xét về tổng thể thì nguồn vốn chủ sở hữu lớn hơn nợ phải trả
cho nên tình hình tài chính của Công ty là khá tốt.

tại chức và hầu hết là xuất phát từ nhu cầu nâng cao năng lực của mỗi nhân
viên. Việc xác định nhu cầu đào tạo tại chức trong công ty chủ yếu là xuất phát
từ nhận thức của các nhân viên trong công ty.
 Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho công nhân kĩ thuật: đào tạo
về nâng cao tay nghề dựa vào mức độ phức tạp của các công trình hiện tại để
đào tạo phù hợp với yêu cầu sản xuất nhằm hoàn thành công việc. Xây dựng
một công trình thường trải qua nhiều giai đoạn khác nhau nên yêu cầu đối với
người lao động cũng khác nhau. Trong giai đoạn đầu, công việc chưa yêu cầu
về lao động kĩ thuật chuyên môn cao mà chủ yếu là đào đắp, vận chuyển
nguyên vật liệu…chỉ cần một đội ngũ lao động có sức khoẻ là có thể đảm nhận
công việc. Khi công việc đòi hỏi cao hơn như: thiết kế, gia công, lắp đặt trang
thiết bị thì đòi hỏi lao động có trình độ nhất định mới thực hiện được. Công ty
quy định là phải công nhân bậc 4 trở lên mới có thể đảm nhận công việc lắp đặt
máy móc thiết bị vì thế mà công ty cũng quan tâm tới công tác đào tạo người lao
động có thời gian làm việc khá lâu ở bậc 3 và chuẩn bị thi lên bậc 4 nhằm tận
dụng hết số lao động trong công ty, tiết kiệm chi phí và thời gian cho quá trình
tuyển lao động mới.
Công ty thường áp dụng phương pháp xác định nhu cầu đào tạo dựa
vào tổng thời gian hao phí lao động cho từng công trình, từng sản phẩm xây
dựng của Công ty.
 Đào tạo mới, đào tạo thêm nghề: Áp dụng với những lao động mới
tuyển dụng do nhu cầu nhân lực thiếu hoặc những người từ bộ phận khác
chuyển sang chưa làm quen với công việc. Nhu cầu đào tạo mới được xác
định thông qua việc cân đối số lao động hàng năm:
Số lao động cần tuyển = Nhu cầu lao động cần có năm sau đó – Số lao
động hiện có trong năm trước.
Với những nhân viên mới tuyển, công ty đặc biệt chú ý đến công tác đào
tạo với hình thức hướng dẫn trực tiếp do những người có kinh nghiệm dày dặn
trong công việc dẫn dắt, cũng có thể căn cứ vào mục tiêu sắp tới của công ty
mà cho nhân viên mới tham gia những khoá đào tạo khác. Hàng năm số lao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status