Phần 1
MỞ ĐẦU
Tên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung tỉ lệ bột lá sắn
trong khẩu phần tới sức sản xuất thịt của gà broiler Lương Phượng nuôi tại
trại gà giống gia cầm Thịnh Đán – Thái Nguyên”.
1.1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, tình hình chăn nuôi trên thế giới cũng như
nước ta ngày càng phát triển mạnh, cùng với việc đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, ngành chế biến thức ăn chăn nuôi gia
súc – gia cầm cũng ngày càng phát triển sản xuất ra nhiều chủng loại thức ăn:
Thức ăn tổng hợp, thức ăn đậm đặc, thức ăn viên, premix khoáng sinh tố…
Tuy vậy vẫn không đáp ứng được yêu cầu của người chăn nuôi. Hiện nay yêu
cầu đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề được quan tâm hàng
đầu, chính vì vậy chúng ta không chỉ quan tâm đến số lượng mà chúng ta còn
phải đặc biệt quan tâm đén chất lượng của sản phẩm chăn nuôi. Qua nhiều
nghiên cứu ở trên thế giới và trong nước, nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng
khi cho vật nuôi ăn khẩu phần ăn có bột lá thực vật thì khả năng sinh trưởng
và sản xuất cao hơn so với khẩu phần ăn không có bột là thực vật.
Hiện nay một số nước trên thế giới đã sử dụng bột lá thực vật để bổ
sung vào thức ăn chăn nuôi như : Philippin, Ấn Độ: keo dậu; Châu Âu : mục
túc và Châu Mỹ (Braxin, Colombia: sắn ). Ở nước ta, đã có một số nghiên cứu
về việc bổ sung bột lá thực vật vào khẩu phần ăn cho vật nuôi và kết quả đạt
được khá cao: nghiên cứu của nhóm các nhà khoa học thuộc Khoa Thuỷ sản
(Trường Đại học Nông lâm Huế) và Đại học Nông nghiệp Nhiệt đới
(Côlômbia). Các nhà khoa học đã thực nghiệm tại xã Vân Thuỷ, huyện
Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế trên đối tượng cá rô phi dòng Gift. Bột lá
sắn tươi được phơi khô trong 2-3 ngày rồi xay nhỏ với kích thước khoảng
0,5-1mm, bảo quản nơi khô thoáng, sau đó phối trộn với cám, bột cá, Premix
khoáng. Sau thời gian 6 tháng lần lượt thay thế 25, 50, 75 và 100% bột cá
bằng bột lá sắn cho thấy, việc thay thế hoàn toàn bột cá bằng bột lá sắn làm
thức ăn cho cá rô phi cho kết quả tăng trưởng tốt, tỷ lệ sống của cá nuôi đạt từ
sẽ nâng cao hiệu quả chăn nuôi gà thịt.
2
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh
trưởng của gia cầm
* Khái niệm sinh trưởng
Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các
đặc trưng cơ bản của sự sống. Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng
là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.
Theo tài liệu của Chambers J.R (1990) [31], thì tác giả MoZan (1977)
đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ
phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ
sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác.
Trần Đình Miên (1992) [13], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình
tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều
dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở
tính chất di truyền từ đời trước”.
* Những chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng thể hiện qua các chỉ
tiêu sau
- Khối lượng cơ thể: Khối lượng cơ thể tích luỹ được qua từng thời
kỳ là chỉ tiêu sử dụng để đánh giá khả năng sinh trưởng của gia cầm. Tuy
nhiên, chỉ tiêu này xác định được khả năng sinh trưởng ở một thời điểm xác
định của cơ thể nhưng không chỉ ra được sự sai khác về tỷ lệ sinh trưởng của
cơ thể trong một khoảng thời gian ở các độ tuổi khác nhau.
Chỉ tiêu khối lượng cơ thể (hay còn được gọi là sinh trưởng tích luỹ)
còn được minh họa bằng đồ thị gọi là đồ thị sinh trưởng tích lũy. Đồ thị này
thay đổi theo dòng giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Đối với gia cầm
khối lượng cơ thể tính theo tuần tuổi có đơn vị là kg/con/tuần hoặc
g/con/tuần.
trạng di truyền liên kết với giới tính (Biichell và Brandch, 1978) [1].
- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng đối với sinh trưởng của gia
cầm. Việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối giữa các chất sẽ
giúp cho gia cầm phát huy cao tiềm năng di truyền về sinh trưởng.
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng quyết định đến khả
năng sinh trưởng của gia cầm, khi đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng thì thời
gian đạt khối lượng tiêu chuẩn sẽ giảm xuống.
Theo Chambers J.R (1990) [31], thì tương quan giữa tăng trọng của gà
và hiệu quả sử dụng thức ăn khá cao (r = 0,5 - 0,9). Để phát huy khả năng
sinh trưởng của gia cầm không những cần cung cấp đủ năng lượng thức ăn
theo nhu cầu mà còn phải đảm bảo cân bằng protein, acid amin và năng
4
lượng. Do vậy, khẩu phần ăn cho gà phải hoàn hảo trên cơ sở tính toán nhu
cầu của gia cầm và đây là một trong những vấn đề cơ bản.
- Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện môi trường có ảnh hưởng lớn đến quá trình sinh trưởng
của gia cầm. Nếu điều kiện môi trường là tối ưu cho sự sinh trưởng của
gia cầm thì gia cầm khỏe mạnh, lớn nhanh, nếu điều kiện môi trường
không thuận lợi thì tạo điều kiện cho vi sinh vật phát triển gây bệnh ảnh
hưởng đến sức khỏe của gia cầm.
Nhiệt độ cao làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng tỷ lệ chết, gây thiệt hại
kinh tế lớn khi chăn nuôi gà broiler theo hướng công nghiệp ở vùng khí hậu
nhiệt đới (Wesh Bunr K.W.ET - AT, 1992) [39].
Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng vì gà
rất nhạy cảm với ánh sáng, do vậy chế độ chiếu sáng là một vấn đề cần
quan tâm. Ngoài ra trong chăn nuôi cũng bị tác động bởi nhiều yếu tố
khác nhau như: ẩm độ, độ thông thoáng, tốc độ gió lùa và ảnh hưởng của
mật độ nuôi nhốt đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.
Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất
mg HCN/1kg lá tươi. Lá sắn ngọt là một loại rau rất bổ dưỡng nhưng cần chú
ý luộc kỹ để làm giảm hàm lượng HCN. Lá sắn đắng không nên luộc ăn mà
nên muối dưa hoặc phơi khô để làm bột lá sắn phối hợp với các bột khác làm
bánh thì hàm lượng HCN còn lại không đáng kể.
* Chế biến sử dụng
Sắn có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, thức ăn gia
súc và lương thực. Củ sắn dùng để ăn tươi, làm thức ăn gia súc, chế biến
sắn lát khô, bột sắn nghiền, tinh bột sắn, tinh bột sắn biến tính, các sản
phẩm từ tinh bột sắn như bột ngọt, cồn, maltodextrin, lysine, acid citric,
xiro glucose và đường glucose tinh thể, mạch nha giàu maltose, hồ vải,
hồ giấy, colender, phủ giấy, bìa các tông, bánh kẹo, mì ăn liền, bún,
miến, mì ống, mì sợi, bột sắn, bánh tráng, hạt trân châu (tapioca), phụ
gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm, sản xuất màng phủ sinh học, chất giữ
ẩm. Thân sắn dùng để làm giống, làm nấm, làm củi đun, nguyên liệu cho
công nghiệp xenlulô. Lá sắn ngọt giàu đạm có thể dùng làm rau xanh
cho người và để nuôi cá, nuôi tằm. Lá sắn đắng ủ chua hoặc phơi khô để
làm bột lá sắn dùng chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò, dê... Ngoài ra lá sắn còn
được phơi khô nghiền thành bột để bổ sung vào thức ăn trong chăn nuôi
gia súc, gia cầm.
2.3. Thành phần hóa học, giá trị dinh dưỡng và độc tố của lá sắn
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nghi (1985) [17]; Nguyễn
Văn Thưởng (1992) [27]; Từ Quang Hiển (1982) [6], thì lá sắn có chứa
6
nhiều chất dinh dưỡng. Mặc dù hàm lượng tinh bột rất ít (từ 1,8 đến
3,2%), hàm lượng dẫn xuất không đạm (DXKĐ) của lá sắn có từ 3,7 -
6,4%. Năng lượng trao đổi trong lá sắn tính theo 1kg vật chất khô cũng
chỉ có 2400 Kcal. Nhưng từ lâu, lá sắn đã được coi là một nguồn thức
ăn rau xanh cho người và gia súc.
Adrian và Peyrot (1970) {Trích job,A.T. [32]}, đã so sánh thành phần
axit amin trong lá sắn với thành phần axit amin trong trứng gà, thấy: Hàm
nhiên khi sử dụng lá sắn không được qua sử lý tốt thì ở động vật vẫn bị ngộ
độc lá sắn. Theo Oke, O.L. (1969) [36], ở động vật thường gặp 2 triệu chứng
ngộ độc HCN đó là ngộ độc cấp tính và ngộ độc mãn tính.
* Phương pháp khử độc HCN trong củ sắn và lá sắn
Dựa vào nguyên tắc đó ta có các cách để làm giảm độc tố HCN như sau:
Nguyên tắc thứ nhất được sử dụng trong nhiều pháp như ngâm sắn, sắn
cả củ hoặc thái lát được ngâm 5 - 7 ngày trong nước chảy hoặc nước đọng,
sau đó lọc lấy tinh bột. Làm như vậy một phần lớn glucoside bị loại bỏ theo
dòng nước.
Cơ chế thứ hai được áp dụng nhiều hơn. Việc phân hủy các glucoside
sau đó loại HCN bằng bốc hơi hay rửa được sử dụng nhiều trong kỹ thuật chế
biến như: thái lát phơi khô, băm nhỏ (lá sắn) phơi khô, thái lát xử lý bề mặt lát
cắt bằng ngâm nước (nước lã, nước vôi, nước muối, axit HCl, axit axetic,…),
sắn sợi (nạo), làm sắn hạt, làm bột sắn khô, chế biến tinh bột sắn ủ chua (lá
sắn), ủ tươi (củ sắn) và lên men vi sinh vật cho bột sắn...
Luộc lá sắn làm giảm đáng kể hàm lượng HCN, trong lá sắn luộc hàm
lượng HCN chỉ con khoảng 1 - 5mg%. Kết quả của Từ Quang Hiển (1983)
[6], đã thí nghiệm muối dưa chỉ còn 1 - 2mg% HCN. Tuy nhiên, theo các tác
giả trên thì biện pháp phơi khô lá sắn và nghiền thành bột là tốt nhất. Trong lá
sắn phơi khô, chỉ còn chứa 1- 2mg% HCN. Sau khi nghiền thành bột thì hàm
lượng HCN lại giảm đi rất nhiều và có thể cất giữ cẩn than sau 4 - 5 tháng bột
lá sắn vẫn còn chất lượng tốt. Lượng bột lá sắn gia súc gia cầm ăn được gấp 3
- 4 lần so với số lượng sắn được ở dạng lá tươi, luộc hoặc muối dưa.
Silevestre .P và Arraudeau .M, (1990) [22], việc loại bỏ độc tố HCN
trong củ và lá sắn thường áp dụng theo nguyên tắc sau: loại trực tiếp những
glucoside sinh ra HCN bằng cách hòa tan trong nước. Làm trực tiếp những
glucoside sau đó loại HCN bằng cách bốc hơi nước hoặc rửa.Vô hiệu hóa
hoạt động của men linamariaza.
2.4. Vài nét về giống gà Lương Phượng
* Nguồn gốc
thẫm có đốm đen, nâu nhạt, vàng đen, màu lá chuối khô, điểm mút của lông
đuôi có mùa đen. Mỏ và chân vàng hoặc nâu xám.
2.5. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.5.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Nguyễn Thị Lộc và Lê Văn An (2004) [11], sử dụng lá sắn Ba Trăng ủ
chua thay thế lá khoai lang trong khẩu phần thức ăn nuôi lợn thịt F1 (ĐB x
MC) đã không ảnh hưởng đến tăng khối lượng (394 và 390 g/ngày tương ứng
lô ĐC và TN) và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng (3,57 và 3,61 kg
VCK/kg tăng khối lượng). Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng ở lô thí nghiệm
là thấp hơn 16% so với lô đối chứng.
9
Dư Thanh Hằng (1999) [4], lợn cho ăn hạn chế (80% lượng ăn tự do)
hỗn hợp 2:1 sắn củ ủ + cám và ăn tự do lá sắn đã được xử lý: rửa, băm rửa; và
băm rửa phơi héo, lượng VCK ăn vào giữa các lô không có sự sai khác về
thống kê (P>0,05) biến động từ 27 tới 32g VCK/kg khối lượng cơ thể. Mức
HCN đã giảm nhẹ (16%) sau khi rửa và hầu như giảm hoàn toàn sau phơi héo
(82%), lượng HCN thực tế lợn ăn vào từ 6,0 đến 15 mg/kg khối lượng, mức
này cao hơn nhiều so với mức an toàn đã được công bố (1,4 đến 4,4 mg/kg
khối lượng) và lượng lá sắn tiêu thụ đã đóng góp 38% lượng VCK và 70%
tổng lượng protein của khẩu phần.
Nguyễn Thị Hoa Lý (2001) [12], lá sắn có thể được sử dụng như là một
nguồn bổ sung protein cho lợn ăn và sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho nông dân.
Lê Văn An và CS, (2004) [2], khuyến cáo kỹ thuật sử dụng củ và lá sắn
làm thức ăn nuôi lợn ở những vùng khó khăn để người dân ngoài việc trồng
sắn để bán còn có thể góp phần chăn nuôi lợn.
Trịnh Văn Trung và Mai Văn Sánh 2006 [29], bổ sung bột lá sắn vào
khẩu phần của trâu làm tăng khả năng thu nhận thức ăn. Với mức bổ sung
1,5kg/con/ngày trâu thu nhận thức ăn là 3,22kgVCK/100kg khối lượng.
+ Tỷ lệ phân giải VCK của bột cỏ tự nhiên trong dạ cỏ trâu có xu
hướng tăng dần theo tỷ lệ bổ sung bột lá sắn trong khẩu phần. Bổ sung
khẩu phần bột củ và lá sắn vào khẩu phần của các loài chim kết quả nghiên
cứu đã có kết luận mức độ bổ sung lên đến 50% bột sắn trong khẩu phần thức
ăn không ảnh hưởng đến khả năng tăng khối lượng hay chất lượng trứng. Sự
suy giảm sắc tố lòng đỏ trứng đã được phục hồi nhờ xanthophylls có trong lá
sắn. (Nguồn: lợn và gia cầm và Viện Nghiên cứu và Đào tạo, Singapore,
1935) [35].
Vihajarerm và cộng sự (1970) {Trích Nguyễn Nghi [17]}, ở Thái Lan
đã công bố kết quả nghiên cứu sử dụng bột sắn cho lợn thịt như sau: thí
nghiệm thứ nhất cân đối protein trong khẩu phần bằng đỗ tương và bổ sung
0,1% methionin. Lợn nuôi thịt cho ăn các khẩu phần có tỷ lệ bột củ sắn là 0;
17; 33; 49 và 65% đạt tăng khối lượng bình quân 1 ngày đêm tương ứng 576;
585; 532; 458 và 453 gam/ngày.
+ Ở thí nghiêm thứ hai, sắn cho ăn ở dạng viên, lô đối chứng cho ăn
khẩu phần thức ăn cơ sở là ngô, gạo và cám. Các lô thí nghiệm 1 cho ăn khẩu
phần có tỷ lệ sắn 30 - 60%, lô thí nghiêm 2: 40 - 70% sắn phụ thuộc vào khối
lượng lợn. Kết quả tăng khối lượng bình quân/ngày tương ứng 466 và 464
gam/ngày. Tác giả đã kết luận với khẩu phần có tỷ lệ bột sắn quá cao (60 -
70%) thì tăng khối lượng bình quần trên ngày giảm xuống.
Năm 1970 Shimada {trích Maner, J.H. [34]}, đã tiến hành thí nghiệm
với 4 lô trong đó tỷ lệ bột sắn trong các lô như sau: lô 1: không có bột lá sắn,
lô 2: 22%, lô 3: 44% và lô 4: 66% bột sắn trong khẩu phần thức ăn cho lợn
11
thịt từ 30 -90kg. Kết quả cho thấy: với khẩu phần có 22 - 44% bột sắn sự tăng
trưởng của lợn không có sự sai khác với lô 1, còn với lô 4 có 66% bột sắn thì
cả sự tăng khối lượng và hiệu qủa sử dụng thức ăn đều bị ảnh hưởng.
Năm 1957, Oyenuga và opeke {trích Maner, J.H. [34]}, đã tiến hành
nghiên cứu đưa vào khẩu phần của lợn choai 40% bột sắn và lợn vỗ béo 55%
bột sắn đạt kết quả tốt, lợn thí nghiệm được chỉ làm hai lô, lô I cho ăn sắn
tươi, lô II cho ăn sắn nấu chín. Hàm lượng protein và các chất dinh dưỡng
khác nhau được đáp ứng đầy đủ theo nhu cầu dinh dưỡng của gia súc. Kết quả
Lô TN 1 thay thế 2% BLS ở giai đoạn 1-42 Ngày tuổi và 4% BLS ở
43-70 Ngày tuổi.
Lô TN 2 thay thế 4% ở giai đoạn 1-42 Ngày tuổi và 6% ở giai đoạn
43-70 Ngày tuổi
Sau khi thay thế bột lá sắn vào khẩu phần ăn chúng tôi tính toán và cân
bằng năng lượng bằng cách trộn thêm dầu đậu nành vào thức ăn (cứ ba ngày
trộn vào thức ăn một lần)
Phương pháp nghiên cứu được thể hiện qua sơ đồ sau:
13
Sơ đồ bố trí thí nghiệm
TT Chỉ tiêu Lô ĐC Lô TN 1 Lô TN 2
1 Giống gà Lương Phượng
2 Số lượng 50
3 Thời gian nuôi 1 – 70 ngày
4
Giai đoạn 1- 42
ngày tuổi
CP
CP + thay thế
bột lá sắn 2%
CP + thay thế bột
lá sắn 4%
5
Giai đoạn 43 - 70
ngày tuổi
CP
CP + thay thế
bột lá sắn 4%
CP + thay thế bột
lá sắn 6%
Hàng tuần cân cố định vào một ngày, cân lần lượt từng con tất cả
số gà thí nghiệm để xác định khối lượng sống trung bình của đàn qua các
tuần tuổi. Cân vào buổi sáng sớm trước khi cho ăn khoảng 2-3 giờ. Sử
dụng cân nhơn hoà 2Kg và 5Kg có độ chính xác đến 1g, 2g, 5g. Kết qủ
thu được tính sinh trưởng tích luỹ cho gà theo công thức sau:
_ X
1
X
2
X
3
+........+ X
n
ΣX
n
P
v
(g/con) = =
n n
- Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
Sinh trưởng tuyệt đối: Được xác định bằng sự tăng lên về khối lượng,
kích thước trong một đơn vị thời gian (ngày).
W
1
- W
0
A(g/con/ngày) =
t
1
t
0
- Thời gian bắt đầu khảo sát
15
+Tiêu thụ thức ăn (TTTĂ/con/ngày) và Tiêu tốn thức ăn (TTTĂ)/kg
tăng khối lượng (kg)
- Tiêu thụ thức ăn (TTTĂ/con/ngày)
- Tiêu thụ thức ăn
(TTTĂ/con/ ngày)
=
Số thức ăn tiêu thụ trong kỳ
Khối lượng tăng trong kỳ
- Tiêu tốn thức ăn (TTTĂ)/kg tăng khối lượng/tuần và cộng dồn
(kg)
Căn cứ vào lượng TĂ tiêu thụ của gà/lô/tuần và khối lượng cơ thể
của gà tăng lên/lô/tuần, tính được lượng TĂ tiêu tốn/1Kg tăng khối
lượng/tuần bằng công thức :
Tiêu tốn TĂ/kg
tăng KL cộng dồn
(kg)
= Σ thức ăn tiêu thụ/lô
cộng dồn
Σ khối lượng gà tăng /
lô cộng dồn
- Khả năng cho thịt
Mỗi lô mổ 6 con (3 trống, 3mái) có khối lượng bình quânkkj
Tiêu tốn TĂ/kg
tăng KL/tuần (kg)
=
Σ thức ăn tiêu thụ/lô/