CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH, NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY
LIÊN DOANH KHÁCH SẠN VƯỜN BẮC THỦ ĐÔ
I. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và vấn đề nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp:
1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh:
Từ trước đến nay tồn tại nhiều quan điểm về hiệu quả kinh doanh:
• Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả kinh doanh
cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí nhỏ nhất.
• Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh quá trình sử dụng các nguồn lực
xã hội trong lĩnh vực kinh doanh thông qua các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế kỹ
thuật được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa các đại lượng phản ánh kết quả
đạt được về kinh tế với các đại lượng phản ánh chi phí đã bỏ ra hoặc nguồn
vật lực đã được huy động trong lĩnh vực kinh doanh.
Tóm lại chúng ta có thể hiểu khái quát nhất về hiệu quả kinh doanh như sau:
hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích thu được từ các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với
chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở trên ta có thể nhận thấy:
- Hiệu quả kinh doanh phải là một đại lượng so sánh.
- Bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động xã hội được
xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng
hao phí lao động xã hội. Vì vậy thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao
động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là việc tối đa hoá kết quả hoặc tối thiểu
hoá chi phí dựa trên điều kiện nguồn lực sẵn có.
Hiệu quả kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện:
+ Về mặt thời gian: Doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà
quên đi lợi ích lâu dài, không được coi việc giảm chi phí để tăng lợi nhuận là
tăng hiệu quả kinh doanh khi việc cắt giảm chi phí tiến hành một cách tuỳ tiện,
không lâu dài và không có tính khoa học. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
2
=
%100
×
DTT
P
P’
2
: Mức doanh lợi trên doanh thu thuần
DTT : Doanh thu thuần hoạt động kinh doanh trong kỳ
Ý nghĩa: Mức doanh lợi trên doanh thu thuần phản ánh một đơn vị doanh thu
thuần thực hiện được mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
2.1.3. Mức doanh lợi trên tổng tài sản :
P’
3
=
∑
TS
P
%100×
P’
3
: Mức doanh lợi trên tổng tài sản
∑TS : Tổng tài sản trong kỳ
Ý nghĩa: Mức doanh lợi trên tổng tài sản phản ánh một đơn vị tài sản bỏ ra đem
lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng tổng tài
sản trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.
2.1.4. Mức doanh lợi trên vốn chủ sở hữu :
P’
4
TSLDbq
DTT
DTT: Doanh thu thuần kỳ kinh doanh
TSLĐ
bq
: Tài sản lưu động bình quân
TSLĐ
bq
=
2
TSLDcky dky
+
TSLD
Ý nghĩa: Số vòng quay vốn lưu động phản ánh tốc độ vận động của vốn lưu
động trong chu kỳ kinh doanh.
2.2.2. Số ngày của một vòng quay vốn lưu động
V =
N
T
T: số ngày của một kỳ kinh doanh
N: Số vòng quay vốn lưu động
V: Số ngày của một vòng quay vốn lưu động
Ý nghĩa: Số ngày của một vòng quay vốn lưu động phán ánh thời gian để vốn
lưu động quay hết một vòng.
2.3. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động :
W =
LDbq
P
W : năng suất lao động bình quân của một lao động
LDbq : Số lao động bình quân trong kỳ
và thay đổi được. Sau đây là một số nhân tố thuộc môi trường vĩ mô các tác
động tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
4.1.1. Môi trường chính trị - pháp luật
Môi trường chính trị - pháp luật là một nhân tố có ảnh hưởng mạnh tới các
quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Thể chế chính trị, hệ thống các công
cụ chính sách, cơ chế điều hành cũng như hệ thống pháp luật tác động trực tiếp
đến sự hình thành cũng như tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Môi trường chính trị của Việt Nam hiện nay có một đặc trưng và cũng có thể
xem là một thế mạnh của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài là có
một môi trường chính trị ổn định. Tuy nhiên, Việt Nam vừa mới bước sang nền
kinh tế thị trường, hệ thống pháp luật vừa thiếu vừa yếu vừa chưa đồng bộ,
chưa thích ứng với hệ thống pháp luật cũng như thông lệ quốc tế, đây là một
hạn chế của Việt Nam, là vật cản trong phát triển và mở rộng đầu tư kinh doanh
đặc biệt là trong khu vực đầu tư nước ngoài.
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà Nước đã có những nỗ lực trong việc
giữ vững môi trường chính trị ổn định và bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp
luật tạo điều kiện tốt nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Mỗi doanh nghiệp cần
thiết phải quan tâm đến các quy định của Nhà Nước có liên quan đến ngành,
nghề, lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp mình và nghiên cứu, phân tích và
dự đoán xu hướng vận động của các cơ chế, sự điều tiết và khuynh hướng điều
tiết của chính phủ đối với các vấn đề có ảnh hưởng tới doanh nghiệp.
4.1.2. Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm những nhân tố phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế,
tốc độ tăng trưởng GDP, lãi suất tiền vay - tiền gửi, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối
đoái, mức lương tối thiểu, sự kiểm soát về giá cả, thu nhập bình quân dân cư, cơ
cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng,… Tất cả những nhân tố đó tạo nên tính hấp dẫn
của thị trường, tạo ra sức mua khác nhau đối với các thị trường hàng hoá khác
nhau, từ đó nhận biết được các điều kiện thuận lợi hay các rào cản khi doanh
nghiệp quyết định tham gia vào nền kinh tế, vào ngành kinh doanh hay một
vùng lãnh thổ nào đó. Môi trường kinh tế là một môi trường đa nhân tố nhưng
dạng mang lại cho doanh nghiệp nhiều cơ hội kinh doanh hơn, cạnh tranh cũng
ngày càng khốc liệt hơn. Doanh nghiệp cần có sự hiểu biết sâu rộng về truyền
thống, phong tục tập quán của đối tượng khách hàng ở khu vực thị trường của
mình để có các quyết định kinh doanh mang lại hiệu quả.
4.1.4. Môi trường tự nhiên và hạ tầng cơ sở vật chất xã hội
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều
mặt tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Sự thiếu hụt nguyên liệu thô, nhiên liệu đang là vấn đề nóng hiện
nay dẫn đến sự gia tăng chi phí ngày càng trở nên nghiêm trọng. Bên cạnh đó
các vấn đề duy trì và bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, bảo vệ
các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên khoáng sản,…vấn đề ô nhiễm môi
trường, bảo vệ cảnh quan, thắng cảnh, vấn đề thiếu tài nguyên, lãng phí tài
nguyên,…cũng là các nhân tố tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh, hiệu
quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hạ tầng cơ sở vật chất xã hội bao gồm hệ thống giao thông vận tải (đường,
phương tiện, nhà ga, bến đỗ,…), hệ thống thông tin (bưu điện, điện thoại, viễn
thông,…), hệ thống bến cảng, nhà kho, cửa hàng cung ứng xăng dầu, điện nước,
… Nhóm yếu tố này cũng có những ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu hạ tầng cơ sở vật chất xã hội tốt thì doanh nghiệp
có các điều kiện thuận lợi để tiến hành các hoạt động kinh doanh, tiết kiệm
được một số chi phí không cần thiết, từ đó đóng góp vào việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại, cơ sở hạ tầng yếu kém sẽ gây khó
khăn cho doanh nghiệp như chi phí cao và gặp nhiều rủi ro.
4.2. Nhóm nhân tố thuộc môi trường vi mô:
Môi trường vi mô là môi trường bao gồm các yếu tố liên quan chặt chẽ đến
doanh nghiệp, nó là các yếu tố nội tại của doanh nghiệp, người cung ứng, khách
hàng, đối thủ cạnh tranh…Đây là nhóm yếu tố mà trong một chừng mực nào đó
doanh nghiệp có thể tác động để cải thiện môi trường vi mô của doanh nghiệp
mình.
4.2.1. Các yếu tố thuộc nội tại doanh nghiệp: