Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc bảo đảm quyền của người bào chữa trong luật tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh hà tĩnh) - Pdf 68

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH VIT PHNG

TRáCH NHIệM CủA CáC CƠ QUAN TIếN HàNH Tố TụNG
ĐốI VớI VIệC BảO ĐảM QUYềN CủA NGƯờI BàO CHữA
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)

LUN VN THC S LUT HC

H N I - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH VIT PHNG

TRáCH NHIệM CủA CáC CƠ QUAN TIếN HàNH Tố TụNG
ĐốI VớI VIệC BảO ĐảM QUYềN CủA NGƯờI BàO CHữA
TRONG LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh s v T tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN VN TUN



CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA .........................................................7
Một số vấn đề chung về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự .............7
Quyền bào chữa và ngƣời bào chữa trong tố tụng hình sự ...........................7

1.1.2.

Quyền của ngƣời bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền của ngƣời bào
chữa trong tố tụng hình sự ...........................................................................13

1.2.

Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc bảo
đảm quyền của ngƣời bào chữa ...............................................................20

1.2.1.

Sự cần thiết và ý nghĩa của việc quy định trách nhiệm của các cơ quan
tiến hành tố tụng đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa ............20
Khái niệm trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc
bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa ............................................................22

1.2.2.
1.3.

1.3.1.

Khái quát sự hình thành và phát triển quy định của pháp luật
TTHS về trách nhiệm của các CQTHTT đối với việc bảo đảm

Thực tiễn thực hiện trách nhiệm của các CQTHTT đối với việc
bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
giai đoạn từ năm 2011 đến 2016 ...............................................................61

2.2.1.

Những kết quả đạt đƣợc ..............................................................................61

2.2.2.
2.2.3.

Những tồn tại và hạn chế .............................................................................66
Nguyên nhân của thực trạng trên ................................................................78

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2..........................................................................................84
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA .......................................................85
3.1.

Giải pháp về pháp luật ..............................................................................85

3.1.1.

Những quy định mới về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng đối
với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa trong BLTTHS năm 2015 .......85
Một số kiến nghị để tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật
trách nhiệm của các CQTHTT của trong việc bảo đảm quyền của
ngƣời bào chữa trong thời gian tới ............................................................100
Giải pháp khác .........................................................................................104

CQTHTT:

Cơ quan tiến hành tố tụng

HĐXX:

Hội đồng xét xử

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TGPL:

Trợ giúp pháp lý

TGVPL:

Trợ giúp viên pháp lý

TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:




MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vấn đề bảo đảm quyền bào chữa nói chung và bảo đảm quyền của ngƣời bào
chữa nói riêng là một trong những vấn đề quan trọng trong tố tụng hình sự. Bảo
đảmquyền của ngƣời bào chữa là góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể bị buộc tội cũng nhƣ các chủ thể khác có quyền và nghĩa vụ liên quan,
hạn chế sự lạm quyền từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) cũng nhƣ
làm sáng tỏ sự thật của vụ án và bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự (TTHS).
Việc nâng cao hơn nữa chất lƣợng tranh tụng tại phiên tòa xét xử là một
trong những nội dung quan trọng của cải cách tƣ pháp nhận đƣợc nhiều sự quan tâm
của Đảng và Nhà nƣớc trong thời gian qua. Lần đầu tiên, nguyên tắc tranh tụng
trong xét xử đƣợc Hiến pháp năm 2013 - văn bản có giá trị pháp lý cao nhất ghi
nhận. Bên cạnh đó, Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về
chiến lƣợc Cải cách tƣ pháp đến năm 2020 cũng đã nhấn mạnh sự cần thiết phải xác
định vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố
tụng theo hƣớng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh, nâng cao chất
lƣợng tranh tụng tại phiên tòa xét xử. Trong đó, nâng cao vị trí, vai trò của ngƣời
bào chữa là một trong những yếu tố quan trọng để góp phần nâng cao chất lƣợng
tranh tụng tại phiên tòa xét xử.
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã có những quy định cụ thể về
quyền của ngƣời bào chữa, đồng thời cũng quy định trách nhiệm của các CQTHTT
đối với việc bảo đảm cho ngƣời bào chữa đƣợc thực hiện các quyền của mình trong
hoạt động bào chữa. Tuy nhiên, pháp luật TTHS hiện hành về bảo đảm quyền của
ngƣời bào chữa vẫn đang còn tồn tại nhiều bất cập. Các cơ chế bảo đảm và xác định
trách nhiệm của các CQTHTT đối với việc phải bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa
vẫn còn chƣa thật đầy đủ. Chƣa có những quy định mang tính bắt buộc thực hiện;
chƣa chỉ rõ trách nhiệm của các CQTHTT trong việc bảo đảm thực hiện quyền đó,
thiếu cơ chế giám sát việc thực hiện các quyền của ngƣời bào chữa. Chƣa có đủ

của bị cáo trong tố tụng hình sự, (Khoa Luật, Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội)
của tác giả Nguyễn Thị Phƣơng Thảo; “Hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự nhằm nâng cao hiệu quả việc tham gia tố tụng của người bào chữa” (Đại
học Luật Hà Nội) của tác giả Đinh Kiều Anh;...

2


Trên các tạp chí khoa học chuyên ngành cũng có nhiều bài viết nhƣ: Các yếu
tố bảo đảm sự tham gia tố tụng của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự (Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 8/2013, tr. 12-15) của tác giả Vũ Huy Khánh;
Thực trạng quy định của pháp luật về hoạt động tham gia tố tụng của luật sư với tư
cách là người bào chữa và hướng hoàn thiện (Tạp chí Tòa án nhân dân, Số 8/2012,
tr. 23-26) của tác giả Vũ Huy Khánh; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc
thực thi các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền của luật sư trong quá
trình tham gia tố tụng hình sự, dân sự (Tạp chí Kiểm sát, Số 4/2007, tr. 7-14) của
tác giả Phan Trung Hoài; Nâng cao vị thế của người bào chữa tại phiên toà hình sự
(Tạp chí Luật học, Số 7/2008, tr. 25-30) của tác giả Nguyễn Ngọc Khanh; Cần bảo
đảm các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa(Tạp chí Toà án nhân dân, Số
15/2004, tr. 17-19) của tác giả Phạm Thanh Bình;...
Các công trình này đã đề cập đến các góc độ khác nhau về lý luận của vấn đề
trách nhiệm của các CQTHTT đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa và hoàn
thiện quy định của pháp luật về vấn đề này. Tuy nhiên, chƣa có một công trình nào
nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và đồng bộ về trách
nhiệm của các CQTHTT đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa trong tố tụng
hình sự. Điều này một lần nữa cho phép khẳng định việc nghiên cứu đề tài: “Trách
nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với việc bảo đảm quyền của người bào
chữa trong luật Tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)”
là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

kết hợp với việc nghiên cứu, đánh giá tình hình áp dụng những quy định này. Từ đó
tìm ra những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế để đề xuất những giải pháp hoàn
thiện pháp luật thực định và nâng cao trách nhiệm của các CQTHTT đối với việc
bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa.
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm của các
CQTHTT đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa trong luật TTHS trên địa
bàn tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 2011-2016.
5. Cơ sở khoa học
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và
chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng

4


và Nhà nƣớc ta về xây dựng nhà nƣớc pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề
cải cách tƣ pháp đƣợc thể hiện trong Hiến pháp, trong các nghị quyết Đại hội Đảng,
Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 2/6/2005 về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm
2020 của Bộ Chính trị.
5.2. Cơ sở thực tiễn
Đề tài thực hiện trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm của
các CQTHTT đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa trong luật TTHS trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2011-2016.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phƣơng pháp cụ thể
và đặc thù của khoa học TTHS nhƣ: phƣơng pháp phân tích và tổng hợp; phƣơng
pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp diễn dịch; phƣơng pháp quy nạp; phƣơng
pháp thống kế, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học về luật TTHS
và luận chứng các vấn đề tƣơng ứng đƣợc nghiên cứu trong luận văn.
7. Điểm mới của luận văn

chữa và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
- Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành
tố tụng đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa.

6


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC
CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM
QUYỀN CỦA NGƢỜI BÀO CHỮA
1.1. Một số vấn đề chung về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
1.1.1. Quyền bào chữa và người bào chữa trong tố tụng hình sự
1.1.1.1. Quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong tố
tụng hình sự
Quyền bào chữa là một trong các quyền cơ bản của công dân đƣợc Hiến
pháp nƣớc CHXHCN Việt Nam ghi nhận nhƣ sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm
giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người
khác bào chữa” [35, Điều 31]. Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của
ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Có thể hiểu rằng:
Quyền bào chữa trong TTHS là tổng hòa các hành vi tố tụng do
ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện trên cơ sở phù hợp với các quy
định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của
các CQTHTT, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình
trong vụ án hình sự [46, tr.10].
Quyền bào chữa không những đƣợc pháp luật ghi nhận mà còn đƣợc bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải tuân thủ những trình tự, thủ tục đƣợc quy
định chặt chẽ trong pháp luật. Quyền bào chữa đƣợc cụ thể hóa bằng các nguyên tắc
cơ bản của BLTTHS và đƣợc quy định chi tiết thông qua các điều luật quy định về
trách nhiệm của các CQTHTT, quyền, nghĩa vụ của ngƣời bào chữa cũng nhƣ các

gia tố tụng để đƣa ra những tình tiết xác định ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị
cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của ngƣời bị
tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ [40, tr.137,].
Bào chữa là một chức năng quan trọng không thể thiếu trong quá trình giải
quyết các vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời bị tạm
giữ, bị can, bị cáo. Muốn bào chữa đúng đắn, khách quan trên cơ sở các quy định
của pháp luật và thực sự có tác dụng đòi hỏi những ngƣời bào chữa phải có năng lực
thực sự, trong đó quan trọng là nắm chắc pháp luật, hiểu biết rõ về những ngƣời mà
họ đứng ra bảo vệ. Đối với các chủ thể có tƣ cách của ngƣời bào chữa, Khoản 1
Điều 56 BLTTHS 2003 quy định ba chủ thể bào chữa đó là (a) Luật sƣ; (b) Ngƣời
đại diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo; (c) Bào chữa viên nhân dân.

9


Ngoài ba chủ thể đƣợc BLTTHS 2003, còn một chủ thể đƣợc tham gia bào
chữa là Trợ giúp viên pháp lý theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 21 Luật Trợ
giúp pháp lý 2006 quy định: “Trợ giúp viên pháp lý được tham gia tố tụng với tư
cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để thực hiện việc
bào chữa” [33, tr.56]. Cụ thể hóa quy định cho phép Trợ giúp viên pháp lý đƣợc tham
gia tố tụng, Điều 10 Thông tƣ liên tịch số 11/2013/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTCVKSNDTC-TANDTC ngày 04/7/2013 cũng đã quy định trách nhiệm của các
CQTHTT trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho ngƣời bào chữa.
(a) Luật sƣ
Luật sƣ là ngƣời hoạt động chuyên nghiệp tham gia trong một Đoàn Luật sƣ
theo quy định của pháp luật. Trong thời đại hiện nay, vị trí, vai trò của Luật sƣ ngày
càng đƣợc nâng cao. Ở Việt Nam, sau khi Luật Luật sƣ 2006 sửa đổi bổ sung năm
2012 có hiệu lực thì đội ngũ luật sƣ của chúng ta ngày càng đƣợc nâng cao cả về số
lƣợng lẫn chất lƣợng.
Luật Luật sƣ quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành

bào chữa cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo” [31, Điều 305]. Nhƣ vậy, ngƣời đại
diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo
thì họ cũng có những quyền nhƣ ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ tham gia tố
tụng với tƣ cách là ngƣời đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tƣ cách là
ngƣời bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ nhƣ đối với ngƣời bào chữa.
Ngƣời đại diện hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết phải
là ngƣời đã thành niên; không bị tâm thần; có quốc tịch Việt Nam và cƣ trú tại Việt
Nam, trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác đối với ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị
cáo là ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài.
(c) Bào chữa viên nhân dân
Bào chữa viên nhân dân là chủ thể bào chữa rất ít khi tham gia bào chữa
trong TTHS vị trí, vai trò của họ trên thực tế cũng hết sức mờ nhạt.
Chức danh Bào chữa viên nhân dân ở nƣớc ta ra đời trên cơ sở Sắc lệnh số
69/SL ngày 08/6/1949, Nghị định số 01/NĐ-VY ngày 12/01/1950 của Bộ Tƣ pháp
quy định rõ tiêu chuẩn đối với Bào chữa viên nhân dân phải: Có quốc tịch Việt
Nam, không phân biệt đàn ông hay đàn bà; Từ 21 tuổi trở lên; có hạnh kiểm tốt,
chƣa can án. Theo đó, cũng qui định những trƣờng hợp không đƣợc cử làm Bào
chữa viên nhân dân để tránh tình trạng xét xử không vô tƣ, bảo đảm quyền và lợi

11


ích hợp pháp của bị can, bị cáo: Các nhân viên Ủy ban kháng chiến khu hay tỉnh,
Thẩm phán xử án hay buộc tội, các Lục sự và Thƣ ký thuộc quản hạt Tòa án đang
xét xử, các Trƣởng ty, Phó Trƣởng ty Công an thuộc tỉnh mà việc của đƣơng sự
đang mang ra xét xử. Trong suốt thời gian dài (từ năm 1949 đến năm 1987) Bào
chữa viên nhân dân đã giữ một vai trò quan trọng trong TTHS.
Tuy nhiên, kể từ khi Pháp lệnh tổ chức luật sƣ ban hành năm 1987 và sau
này là quy định tại khoản 3 - mục III Thông tƣ của Bộ Tƣ pháp số 313 – TT/LS
ngày 15/4/1989 Hƣớng dẫn thực hiện quy chế đoàn luật sƣ thì Bào chữa viên nhân

tụng trƣớc toà, bảo đảm cho ngƣời nghèo, đối tƣợng chính sách, ngƣời già cô đơn,
dân tộc thiểu số,... không có điều kiện thuê luật sƣ cũng đƣợc Trợ giúp viên pháp lý
bảo vệ, bào chữa quyền và lợi ích hợp pháp miễn phí cho họ trƣớc các CQTHTT.
Nhìn chung, hoạt động tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý gần giống
nhƣ của luật sƣ nhƣng cũng có một số điểm khác nhau cơ bản nhƣ: Thứ nhất, luật
sƣ thực hiện hoạt động tố tụng cho nhiều đối tƣợng, trong khi đó, đối tƣợng của Trợ
giúp viên pháp lý thu hẹp chỉ những ngƣời thuộc diện đƣợc Trợ giúp pháp lý theo
pháp luật Trợ giúp pháp lý mới đƣợc hƣởng dịch vụ pháp lý này. Thứ hai, luật sƣ
thực hiện hoạt động tố tụng ở tất cả các lĩnh vực, còn Trợ giúp viên pháp lý thực
hiện hoạt động tố tụng ở các lĩnh vực, trừ lĩnh vực kinh doanh, thƣơng mại. Thứ
ba, hoạt động tham gia tố tụng của luật sƣ là hoạt động có thu phí, còn hoạt động
tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý là hoạt động miễn phí. Tuy nhiên sự
khác nhau này là do quy định của pháp luật và xuất phát từ tính chất miễn phí, bản
chất nhân đạo của hoạt động Trợ giúp pháp lý chứ không phải do trình độ, chuyên
môn nghiệp vụ của đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý.
Tóm lại, dù chủ thể của ngƣời bào chữa là Luật sƣ, ngƣời đại diện hợp pháp
của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bào chữa viên nhân dân hay trợ giúp viên pháp
lý thì mục đích chung của sự tham gia của ngƣời bào chữa trong TTHS vẫn là nhằm
“chứng minh người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ, góp phần đảm bảo pháp chế
xã hội chủ nghĩa” [1, tr.3].
1.1.2. Quyền của người bào chữa và cơ chế bảo đảm quyền của người bào
chữa trong tố tụng hình sự
1.1.2.1. Quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự
Nghiên cứu về quyền của ngƣời bào chữa trƣớc hết chúng ta cần hiểu rõ

13


đƣợc khái niệm “quyền của người bào chữa”. Xét dƣới góc độ ngôn ngữ học,

14


Thứ hai, quyền đề nghị CQĐT báo trƣớc về thời gian địa điểm hỏi cung bị
can để có mặt khi hỏi cung bị can. Quy định quyền này nhằm tạo điều kiện để ngƣời
bào chữa có thể chủ động sắp xếp thời gian để thực hiện quyền có mặt trong các lần
hỏi cung mà mình thấy cần thiết. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 chỉ quy định
ngƣời bào chữa có quyền “đề nghị” nhƣng lại không quy định trách nhiệm của
CQĐT trong việc thông báo về thời gian, địa điểm lấy lời khai ngƣời bị tạm giữ, hỏi
cung bị can. Do đó, trên thực tế ngƣời bào chữa cũng gặp rất nhiều khó khăn để
thực hiện đƣợc quyền này.
Thứ ba, quyền đề nghị thay đổi ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời giám định,
ngƣời phiêm dịch nếu có căn cứ theo luật định và xét thấy việc những ngƣời này
tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể ảnh hƣởng không tốt tới quyền và lợi ích hợp
pháp của ngƣời mà mình bào chữa. Thực hiện quyền này sẽ góp phần bảo đảm sự
vô tƣ, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, bảo đảm cho những quyết định
có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo đƣợc
chính xác, công bằng.
Thứ tƣ, quyền thu thập tài liệu, đồ vật và tình tiết liên quan đến việc bào
chữa từ ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ngƣời thân thích của những ngƣời này hoặc
từ cơ quan tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu
không thuộc bí mật nhà nƣớc, bí mật công tác. Muốn bào chữa tốt cho thân chủ của
mình ngƣời bào chữa không chỉ dựa vào những chứng cứ, tài liệu do CQĐT thu
thập đƣợc, làm nhƣ vậy sẽ bị ảnh hƣởng của kết quả điều tra mà CQĐT đƣa ra hoặc
kết luận. Vì vậy ngƣời bào chữa phải có quyền tự mình thu thập tài liệu, đồ vật.
Việc pháp luật ghi nhận quyền này đã giúp ngƣời bào chữa chủ động hơn trong việc
tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ của mình. Đây cũng có thể coi là quyền
phục vụ cho các quyền khác của ngƣời bào chữa nhƣ quyền gặp ngƣời bị tạm giữ,
bị can, bị cáo; quyền đề nghị đƣợc gặp cơ quan, tổ chức, cá nhân để thu thập tài
liệu, đồ vật. BLTTHS năm 2003 cũng đã quy định về phạm vi, cách thức tiến hành

cạnh đó, việc đọc hồ sơ, tài liệu vụ án cũng tạo điều kiện cho ngƣời bào chữa phát
hiện những sai lầm, thiếu sót, vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra trên cơ sở
đó đƣa ra những yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền.
Thứ tám, quyền tham gia hỏi và tranh luận dân chủ tại phiên tòa trong giai
đoạn xét xử. Tại phiên tòa xét xử, vai trò của ngƣời bào chữa đƣợc thể hiện rõ nét

16


nhất. Ngƣời bào chữa có quyền hỏi bị cáo và những ngƣời khác về những vấn đề
của vụ án để có đƣợc những câu trả lời theo hƣớng có lợi cho bị cáo. Khi tranh luận
ngƣời bào chữa phải phân tích, lập luận, đƣa ra những lí lẽ để bảo vệ bị cáo và bác
bỏ những lời buộc tội bị cáo. BLTTHS năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung những quy
định về tranh luận, xét hỏi, đối đáp tại phiên tòa; tăng cƣờng tranh luận dân chủ
giữa VKS và ngƣời bào chữa. Đây là những quy định tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng,
dân chủ của ngƣời bào chữa trƣớc các CQTHTT, phù hợp với tinh thần cải cách tƣ
pháp, góp phần tăng cƣờng yếu tố tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm tính khách
quan, dân chủ và minh bạch trong việc xác minh chứng cứ tại phiên tòa.
Thứ chín, quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, ngƣời có
thẩm quyền tiến hành tố tụng. Quy định ngƣời bào chữa có quyền này bảo đảm cho
các hoạt động tố tụng đƣợc khách quan và toàn diện, không thể thiếu đƣợc sự giám
sát, kiểm tra đối với các quyết định cũng nhƣ hành vi tố tụng của các CQTHTT.
Quy định này là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong
TTHS tại Điều 31 BLTTHS năm 2003, dẫn chiếu tới một chƣơng mới để quy định
điều này, đó là chƣơng XXV về quyền khiếu nại trong tố cáo trong TTHS.
Cuối cùng là quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là
ngƣời chƣa thành niên hoặc có nhƣợc điểm về tâm thần hoặc thể chất quy định tại
điểm b Khoản 2 Điều 57 của BLTTHS năm 2003. Đây là quyền độc lập của ngƣời
bào chữa, ngƣời bào chữa kháng cáo không phụ thuộc ý chí của bị cáo cũng nhƣ đại
diện hợp pháp của bị cáo. Kháng cáo của ngƣời bào chữa phải có lợi cho bị cáo.

thể thấy đƣợc trách nhiệm tƣơng ứng của các CQTHTT trong việc thực hiện những
nghĩa vụ nhằm bảo đảm cho những quyền năng của ngƣời bào chữa đƣợc thực hiện
theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, bảo đảm từ phía CQTHTT và các tổ chức liên quan
Trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa của ngƣời bị tạm giữ, bị can, bị cáo
nói chung gắn liền với nhiệm vụ các CQTHTT và ngƣời tiến hành tố tụng. Sự bảo
đảm từ chính các CQTHTT chính là sự bảo đảm cần thiết nhất để những quy định
của pháp luật đƣợc đƣa vào thực tiễn. Để làm đƣợc điều này đòi hỏi mỗi CQTHTT
cần có các biện pháp để mỗi cán bộ tiến hành tố tụng nhận thức đƣợc trách nhiệm
của mình đối với việc bảo đảm quyền của ngƣời bào chữa là góp phần bảo đảm tính
khách quan của vụ án và bảo đảm pháp chế. Ngoài ra, việc thƣờng xuyên kiểm tra

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status