NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DNVVN - Pdf 68

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ MỞ RỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
DNVVN
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.1.1. Khái niệm về tín dụng
Theo quan điểm của Mác thì “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời
một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định
sẽ thu hồi lại một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu”.
Theo nhà kinh tế Pháp, Louis Baundin, định nghĩa: “ Tín dụng là một sự trao
đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa ở tương lai.”
Theo luật ngân hàng các nước định nghĩa: “ Cấu thành một nghiệp vụ tín
dụng bất cứ động tác nào, qua đó một người đưa hoặc hứa đưa vốn cho một người
khác dùng, hoặc cam kết bằng chữ ký cho người này như đảm bảo, bảo chứng hay
bảo lãnh mà có thu tiền”
Theo tôi, tín dụng biểu hiện mối quan hệ vay mượn và hoàn trả. Trong quan
hệ này thể hiện các nội dung sau:
+ Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.
+ Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau
khi khoản vay đó hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận giữa người đi vay và người
cho vay, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay phần vốn gốc cộng với
khoản chi phí cơ hội mà người cho vay mất đi khi bỏ lỡ cơ hội đầu tư tốt hơn.
+ Thông thường, giá trị được hoàn trả lớn hơn lúc hai bên kí kết hợp đồng tín
dụng.
1.1.2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến và có vai trò quan trọng
nhất trong nền kinh tế. Đồng thời, đây là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần
lớn các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng.
Như đã đề cập ở trên, ta có thể hiểu “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng
bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng - một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh
vực tiền tệ- với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trong đó ngân hàng
vừa là người đi vay, vừa là người cho vay”
Với định nghĩa trên thì ta có thể hiểu khi đề cập đến tín dụng ngân hàng là đề

Theo quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng cùng với quyết định
1627/2001/QĐ- NHNN/ ngày 31/12/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, khi phân loại theo thoiừ hạn cấp tín dụng thì:
- Cho vay ngắn hạn: Tối đa đến 12 tháng,được xác định phù hợp với chu kỳ
sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
- Cho vay trung hạn: từ trên 12 tháng đến 60 tháng, thời hạn cho vay được xác
định phù hợp với thời hạn thu hồi của vốn đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng
và tính chất nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng.
- Cho vay dài hạn: từ 60 tháng trở lên nhưng không quá thời hạn hoạt động
còn lại theo quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập đối với pháp nhân và
không quá 15 năm đối với các dự án đâu tư phục vụ đời sống.
* Tín dụng không kỳ hạn: Là khoản tín dụng được ứng dụng đối với khoản
vay mà không xác định rõ thời hạn trả nợ.
1.1.4.2. Phân loại theo thành phần kinh tế
Trên cơ sở Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, khi phân theo
thành phần kinh tế, ta có thể chia các khoản cho vay thành:
- Cho vay doanh nghiệp Nhà nước
- Cho vay kinh tế tập thể
- Cho vay kinh tế tư nhân
- Cho vay kinh tế cá thể
- Cho vay kinh tế hỗn hợp
Mỗi thành phần kinh tế lại có những đặc điểm riêng nên ngân hàng cần phải
có thái độ ứng xử rất khác nhau khi cho các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
này vay vốn. Tuy nhiên, đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong nền
kinh tế TBCN nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN như
nước ta thì việc phân loại này rất có ý nghĩa thực tiễn. Bởi lẽ, đối với chúng ta,
thành phần kinh tế Nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết và định hướng và sẽ quyết
định tới khối lựơng cũng như cơ cấu cho vay đối với các thành phần kinh tế còn
lại.
1.1.4.3. Phân loại theo phương thức hoàn trả

thức này.
1.1.4.5. Phân loại theo hình thức cấp tín dụng
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng dưới các hình thức sau :
- Chiết khấu thương phiếu: Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, cổ
điển của các NHTM, dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân hàng và người kí tên trên
thương phiếu. Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ Tín dụng ngắn hạn trong đó
khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho NH để
nhận một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi số tiền lãi và phí hợp
đồng.
- Tín dụng thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ cho vay qua đó Ngân hàng cho
phép người vay được chi trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến
một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi
là hạn mức thấu chi. Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với khách hàng có
độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn, kỳ thu nhập ngắn.
- Tín dụng thuê mua (leasing): Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thuê
mua rất phát triển. Đây là hình thức cho thuê bất động sản như: nhà cửa, máy móc
thiết bị, xe chuyên dụng, thiết bị văn phòng…Các chủ thể thuê có thể là: các NH
trực tiếp, các công ty con của ngân hàng hoặc các công ty chuyên doanh thuê mua
độc lập thực hiện nghiệp vụ. Ngân hàng cũng có thể liên kết với các nhà kinh
doanh bất động sản để đầu tư dưới hình thức tín dụng thuê mua.
Tiền thuê bao gồm giá vốn, chi phí, thuế và lãi kinh doanh Tuỳ từng loại đối
tượng khác nhau mà giá cả thuê mua được tính khác nhau.
Thời hạn thuê mua có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn. Tuy nhiên, thời hạn
trung và dài hạn vẫn là chủ yếu. Tín dụng thuê mua ngắn hạn thường ít được sử
dụng.
- Tín dụng trả góp: Ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần
trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với
các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định hoặc hàng lâu bền.
Tín dụng trả góp có ưu điểm là không những phù hợp với đặc điểm sử dụng
vốn của vay mà còn kích thích được lưu thông hàng hoá, mở rộng sản xuất và tiêu

như : Tổng vốn đầu tư, giá trị tài sản cố định, số lượng lao động thường xuyên, giá
trị bằng tiền của sản phẩm hay dịch vụ, lợi nhuận, vốn bình quân cho một lao động.
Tuỳ vào tình hình cụ thể ở mỗi quốc gia mà các tiêu thức nào được lựa chọn, tuy
nhiên phổ biến là:
- Số lao động thường xuyên được sử dụng trong doanh nghiệp.
- Tổng số vốn đầu tư huy động và sản xuất kinh doanh
Sự phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam cũng dựa trên hai tiêu thức này. Trước
đây, theo công văn số 681/CP-KTN do Chính phủ ban hành ngày 20/6/1998,
DNVVN là các doanh nghiệp có vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương
387.000 USD theo tỷ giá giữa đồng VNN và đồng đô la Mỹ tại thời điểm đó) và
số lao động thường xuyên không quá 200 người.
Hiện nay, cùng với sự phát triển chung của đất nước, số lượng các doanh
nghiệp ngày một tăng, có không ít doanh nghiệp có số vốn vượt quá 5 tỷ đồng
nhưng chưa đủ mạnh để được coi là doanh nghiệp lớn. Vì vậy, Chính phủ ban hành
Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ra ngày 23/11/2001 về hỗ trợ và phát triển DNVVN,
trong đó có nêu ra định nghĩa sau :
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc
số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh
tế-xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp,
chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao
động hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên”. Đây cũng là khái niệm về doanh nghiệp
vừa và nhỏ được sử dụng trong bài luận văn để làm cơ sở cho những phân tích sau
này.
Theo định nghĩa trên, các DNVVN gồm có các loại hình, cơ sở sản xuất kinh
doanh nằm trong những tiêu thức và giới hạn tiêu chuẩn quy định sau:
- Các DNNN đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh Nghiệp
- Các Công ty cổ phần, Công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân đăng ký hoạt
động theo Luật Doanh Nghiệp.
- Các hợp tác xã đăng ký hoạt động theo Luật Hợp tác xã.

mô nhỏ. Trước sự thay đổi liên tục của thị trường, các DNVVN có thể chuyển
hướng kinh doanh, thay đổi mặt hàng nhanh chóng, đồng thời có thể tăng giảm lao
động hay sử dụng lao động thời vụ, đáp ứng đuợc nhu cầu của thị trường. Hơn nữa,
khi chuyển địa điểm sản xuất các DNVVN không gặp nhiều khó khăn như các
doanh nghiệp lớn. DNVVN có thể nắm bắt được cả những yêu cầu nhỏ lẻ mang
tính khu vực, địa phương. DNVVN có thể dễ dàng chuyển đổi mặt hàng, chuyển
hướng kinh doanh. Điều này càng làm cho DNVVN khai thác hết năng lực của
mình, đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất.
- Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi vốn nhanh. Điều này hấp dẫn
nhiều cá nhân, tổ chức ở mọi thành phần kinh tế đầu tư vào khu vực này.DNVVN
có tỷ suất vốn đầu tư trên lao động thấp hơn nhiều so với doanh nghiệp lớn, cho
nên chúng có hiệu suất tạo việc làm cao hơn.
- Hệ thống tổ chức sản xuất và quản lý ở các DNVVN gọn nhẹ, linh hoạt. Nhờ
có bộ máy quản lý gọn nhẹ, việc điều hành được thực hiện một cách trực tiếp
không phải qua các khâu trung gian nên việc ra quyết định hay việc thực hiên công
việc được thực hiên một cách nhanh chóng và hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác
giám sát diễn ra trực tiếp, đảm bảo hiệu quả công việc. Nhờ đó nên có thể tiết kiêm
đựoc chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Các DNVVN dễ dàng và nhanh chóng đổi mới thiết bị công nghệ, thích ứng
với cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại :
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, nên nhiều khi thời
gian tồn tại của một mặt hàng ngắn hơn thời gian tồn tại của thế hệ máy móc sản
xuất ra nó. Vì vậy đòi hỏi phải khấu hao nhanh để chuyển sang sản xuất mặt hàng
mới với thiết bị công nghệ mới. Trong trường hợp này, các DNVVN lại sẽ có lợi
thế hơn. Hơn nữa, việc phải thay đổi những tư bản cố định để chuyển hướng kinh
doanh cũng thuận lợi hơn do không phải chịu nhiều thiệt hại và có thể nhanh chóng
ứng dụng và đưa vào hoạt động những công nghệ tiên tiến, hiện đại.
- Quan hệ giữa những người lao động và người quản lý trong các DNVVN
khá chặt chẽ:
Do số lượng lao động trong các DNVVN là không nhiều nên lãnh đạo doanh

lợi. Cụ thể:
- Quy mô về vốn và lao động còn quá nhỏ bé:
Nếu xét kết hợp tiêu chí về vốn với tiêu chí về lao động, các số liệu thống kê
cho thấy, trong tổng số 88.222 doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2004 có 2.211.895
lao động, tương đương với tỷ lệ bình quân mỗi doanh nghiệp có 25 lao động. Như
vậy, quy mô về vốn và lao động của doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn quá
nhỏ so với quy mô doanh nghiệp thông thường của các nước phát triển và có nền
kinh tế mới nổi. Đây cũng là lý do khiến cho các NHTM còn e dè trong việc cấp
tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi lẽ họ chưa có kinh nghiệm trong
sản xuất kinh doanh, nguồn trả nợ nhỏ bé nên độ rủi ro là khá cao. Chính vì vậy,
việc mở rộng kinh doanh, tăng cường thên các trang thiết bị công nghệ hiện đại
hay cải htiện chất lượng lao động đối với các DNVVN là rất khó khăn. Đặc điểm
này là bất lợi trong cạnh tranh khi Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào WTO.
- Hiệu quả kinh doanh thấp:
Do quy mô của các doanh nghiệp vừa và nhỏ như vậy kéo theo hiệu quả
kinh doanh không cao. Theo thống kê, lợi nhuận bình quân của doanh nghiệp vừa
và nhỏ là 240 triệu đồng (khoảng 16.000 USD), thấp hơn nhiều so với mức lợi
nhuận bình quân/ doanh nghiệp của cả nước (khoảng 1,14 tỷ đồng). Các tiêu chí về
tỷ suất lợi nhuận/ vốn và lợi nhuận/ doanh thu cũng thấp, ở mức 3 tỷ đồng và 2,57
tỷ đồng so với các mức bình quân chung các doanh nghiệp cả nước là 4,85 tỷ đồng
và 5,99 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung vào các ngành
thương mại, sửa chữa động cơ, xe máy (chiếm 40,6% doanh nghiệp của cả nước),
tiếp đến là các ngành chế biến (20,9%), xây dựng (13,2%) và các ngành còn lại
như kinh doanh tài sản, tư vấn, khách sạn, nhà hàng (25,3%). Việc tập trung như
vậy sẽ tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các DNVVN với nhau. Chính điều này sẽ
làm giảm sự đa dạng của thị trường, giảm thị phần của bản thân các DNVVN.
- Phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh:

Trích đoạn Kinh nghiệm của một số TCTD tại Việt Nam.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status