Mục lục
Lời mở đầu Tran
g
Chương I
Những vấn đề cơ bản về hiệu quả tín dụng đối với
hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội
1.1 Đói nghèo và sự cần thiết phải giảm đói nghèo 6
1.1.1 Đói nghèo và hậu quả của đói nghèo 6
1.1.1.
1
Khái niệm người nghèo 6
1.1.1.
2
Hậu quả của đói nghèo 9
1.1.2 Sự cần thiết phải giảm đói nghèo 13
1.2.3 Các biện pháp để giảm đói nghèo 15
1.2 Hiệu quả tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội
đối với hộ nghèo
16
1.2.1 Ngân hàng Chính sách xã hội 16
1.2.1.
1
Tổ chức, bộ máy, mục tiêu hoạt động của NHCSXH 16
1.2.1.
2
Các hoạt động cơ bản của NHCSXH 18
1.2.1.
3
Tín dụng đối với người nghèo 18
1.2.2 Hiệu quả tín dụng đối với người nghèo 24
1.2.2.
2
Cho vay đối với hộ nghèo tại PGD NHCSXH huyện Giao
Thuỷ
36
2.3.2 Hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 39
2.3.3 Đánh giá hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo 42
Chương III
Giải pháp nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo
tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội
huyện Giao Thuỷ
3.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước về xoá đói giảm
nghèo
45
3.2 Định hướng của Ngân hàng Chính sách xã hội về tín
dụng
đối với hộ nghèo
49
3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ
nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội
huyện Giao Thuỷ
51
3.4 Kiến nghị 56
2
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
3
Lời mở đầu
1- Tính cấp thiết của đề tài:
Trong tiến trình đổi mới của đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam
đã dành sự quan tâm đặc biệt của mình vào xoá đói, giảm nghèo. Mục tiêu
(NHCSXH).
NHCSXH hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà thực hiện
chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách
khác. Với mục đích khắc phục những tồn tại về mô hình tổ chức và cơ chế
hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo trước đây, tách tín dụng
chính sách ra khỏi tín dụng thương mại, thúc đẩy quá trình hiện đại và lành
mạnh hoá hoạt động ngân hàng trong giai đoạn hiện nay; đồng thời nhằm
tập trung và quản lý thống nhất những chương trình tín dụng ưu đãi, phối
hợp lồng ghép có hiệu quả những dự án hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, tạo việc
làm, nâng cao chất lượng nguồn lực, phát triển thị trường lao động.
Xuất phát từ yêu cầu thực tế này, tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu
quả tín dụng đối với hộ nghèo tại Phòng giao dịch Ngân hàng chính
sách xã hội huyện Giao Thuỷ tỉnh Nam Định” làm chuyên đề tốt nghiệp
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng
nói chung và tín dụng đối với hộ nghèo của NHCSXH nói riêng.
5
- Phân tích thực trạng về hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo trong
giai đoạn 2004 - 2006 tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội
huyện Giao Thuỷ (PGD NHCSXH).
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tín
dụng ngân hàng đối với hộ nghèo tại PGD NHCSXH huyện Giao Thuỷ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tín dụng đối với hộ nghèo của
PGD NHCSXH huyện Giao Thuỷ
- Phạm vi nghiên cứu: Tín dụng đối với hộ nghèo của PGD NHCSXH
huyện Giao Thuỷ
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2004 đến năm 2006.
4. Phương pháp nghiên cứu:
nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình
độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng,
từng quốc gia.
Tại Hội nghị về chống đói nghèo do Uỷ ban kinh tế xã hội khu vực
Châu á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào
tháng 9/1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng:
“Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào
trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và
những phong tục tập quán ấy được xã hội thừa nhận”.
Nhà kinh tế học người Mỹ Galbraith thì cho rằng: “ Con người bị coi
là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể
8
tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập của cộng đồng coi như cái cần
thiết tối thiểu để sống một cách đúng mức”.
Hội nghị thượng đỉnh về phát triển xã hội tổ chức tại Copennhagen
Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như
sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la
(USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản
phẩm thiết yếu để tồn tại”.
Các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh chủ yếu
của người nghèo:
- Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu dành cho con
người.
- Có mức thu nhập thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân
cư.
- Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng
đồng.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo:
Đói nghèo do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể chia đói nghèo thành
Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín
10
dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách trong
giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh, định cư, kinh tế mới
và nguồn lực đầu tư còn hạn chế…
- Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội:
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đã tác động đến sản xuất nông nghiệp
của các hộ gia đình nghèo, ở những vùng có khí hậu khắc nghiệt: thiên tai,
lũ lụt, hạn hán, dịch bệnh, đất đai cằn cỗi, diện tích canh tác ít, địa hình
phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả của
chiến tranh để lại, cơ sở hạ tầng thiếu hoặc không có là những vùng có
nhiều hộ nghèo đói nhất.
* Những đặc trưng cơ bản của hộ nghèo:
- Đặc trưng cơ bản và dễ nhận diện nhất đó là hộ gia đình nghèo
thường thiếu việc làm.
- Người nghèo đa phần là những nông dân sống ở các vùng nông
thôn, cơ bản họ vẫn còn tư liệu sản xuất như ruộng đất. Nhưng họ thiếu
vốn, thiếu kinh nghiệm, thiếu kiến thức sản xuất.
- Đa số người nghèo có trình độ học vấn thấp, bị hạn chế về khả năng
tiếp cận kỹ năng, kỹ thuật sản xuất tiên tiến và những thông tin thị trường.
- Những hộ nghèo thường rất dễ bị tổn thương bởi những biến cố
khách quan mang tính thời vụ hoặc những biến động bất thường xảy ra.
- Các hộ nghèo thường có nhiều con hoặc có ít lao động trong gia
đình, chịu những áp lực lớn về chi phí y tế, giáo dục, phải tốn kém nhiều để
giữ gìn, nâng cao nguồn nhân lực.
- Các hộ nghèo thuộc dân tộc ít người thường chịu nhiều bất lợi do bị
tách biệt về mặt địa lý và về mặt xã hội.
11
- Những hộ nghèo ở thành thị đa phần là những người thất nghiệp
tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những người có mức thu nhập (hoặc chi tiêu)
ở trên chuẩn này là người không nghèo.
Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một
thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của
chính phủ tới nghèo đói; cho phép so sánh nghèo đói theo thời gian; tạo
điều kiện so sánh với các nước khác và giám sát chi tiêu xã hội theo hưóng
có lợi cho người nghèo. Ngoài ra còn định hướng chính sách hướng vào
người nghèo để cải thiện vị thế của họ như: xây dựng các chính sách hỗ trợ
người nghèo theo các nguyên nhân nghèo đói khác nhau, xây dựng các
chính sách hỗ trợ giảm nghèo theo vùng, tình trạng việc làm, văn hoá, giới
tính.
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều thước đo khác nhau, tuỳ vào từng
điều kiện cụ thể mà các quốc gia có thể lựa chọn để sử dụng cho mình
phương pháp xác định cho phù hợp.
Chỉ tiêu đánh giá về đói nghèo của Việt Nam là lấy thu nhập bình
quân đầu người một tháng (hoặc năm) được đo bằng giá trị hay hiện vật
quy đổi bằng lương thực (gạo) để đánh giá.
+ Thực trạng xác định chuẩn nghèo của nước ta thời kỳ 2001-2005:
Trong những năm qua, Việt Nam tồn tại song song một số phương
pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ các mục đích khác nhau. Đó là cách
13
xác định chuẩn nghèo và hộ nghèo của Bộ Lao động Thương binh và xã
hội, Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới. Cụ thể như sau:
Vùng đô thị là 150 nghìn VNĐ/tháng/người (1,8 triệu
VNĐ/tháng/người).
Vùng nông thôn đồng bằng là 100 nghìn VNĐ/tháng/người (1,2 triệu
VNĐ/tháng/người).
Vùng nông thôn miền núi là 80 nghìn VNĐ/tháng/người (9,6 triệu
VNĐ/tháng/người).
+ Chuẩn nghèo mới áp dụng cho Việt Nam thời kỳ 2006 - 2010:
- Đặc điểm cơ bản người nghèo ở Việt Nam:
Những người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống
khác hẳn với những khách hàng khác thể hiện:
+ Những người nghèo thường rụt rè, tự ti, ít tiếp xúc, phạm vi giao
tiếp hẹp thường bó gọn trong làng, xã…
+ Bị hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh.
Vì vậy, người nghèo thường tổ chức sản xuất theo thói quen, chưa biết mở
mang ngành nghề và chưa có điều kiện tiếp xúc với thị trường. Do đó, sản
xuất mang nặng tính tự cung tự cấp, chưa tạo ra được sản phẩm hàng hoá
và đối tượng sản xuất kinh doanh thường hay thay đổi.
15
+ Phong tục, tập quán sinh hoạt và những truyền thống văn hoá của
người nghèo cũng tác động tới nhu cầu tín dụng.
Khoảng cách giữa ngân hàng và nơi người nghèo sinh sống đang là
trở ngại, người nghèo thường sinh sống ở những nơi mà cơ sở hạ tầng còn
yếu kém.
Người nghèo thường sử dụng vốn vào sản xuất nông nghiệp là chủ
yếu hoặc những ngành nghề thủ công, buôn bán nhỏ. Do vậy, nhu cầu sử
dụng vốn của người nghèo mang tính thời vụ.
1.1.2. Sự cần thiết phải giảm đói nghèo:
Ngày nay, thế giới đã và đang phát triển ở đỉnh cao chưa từng có
trong lịch sử gắn liền với một nền văn minh rực rỡ. Nhưng bên cạnh đó vẫn
còn tồn tại đói, nghèo mang tính toàn cầu. Theo ước tính của Ngân hàng
thế giới, hiện nay có hơn 1 tỷ người trên hành tinh còn sống trong nghèo
đói với mức thu nhập bình quân đầu người dưới 1USD một ngày và trên 2
tỷ người có mức thu nhập dưới 2USD một ngày.
Với những nước chậm phát triển, đói, nghèo đang là vấn đề nhức
nhối, một thách thức lớn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đói, nghèo
không những chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần mà còn liên quan đến nhiều
vấn đề chính trị, văn hoá, xã hội và tính nhân đạo trong cuộc sống. Nghèo
đây, tỷ trọng phát triển kinh tế thế giới tăng lên với tốc độ cao gấp nhiều
lần so với các thế kỷ trước đó, nhưng tỷ lệ người nghèo cũng tăng lên
không ít. Đã có hơn một tỷ người sống trên trái đất này là nghèo khó. Do
17
vậy, trong quá trình thúc đẩy nền kinh tế phát triển, các quốc gia đều quan
tâm đến việc giảm thiểu sự đói, nghèo.
Đói, nghèo thường là nguyên nhân xảy ra bất ổn định xã hội, xung
đột giai cấp, xung đột chính trị. Là nhân tố tác động ngược lại quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Vì thế, hầu hết các quốc gia, nhất
là các nước đang phát triển, mặc dù có những thể chế chính trị xã hội khác
nhau nhưng đều có mục tiêu chung đó là làm thế nào để giảm thiểu tình
trạng đói, nghèo, ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế, làm cho quốc gia
mình, dân tộc mình giàu có hơn. Xoá đói giảm nghèo đóng một vai trò
quan trọng cần thiết.
Hơn nữa, trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và giảm
nghèo có mối quan hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiện
vật chất để giảm nghèo. Ngược lại giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự
tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững. Tuy nhiên trong mối quan hệ này,
giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu tố tăng
trưởng kinh tế.
1.1.3. Các biện pháp để giảm đói nghèo:
* Chủ trương chính sách và các biện pháp hỗ trợ người nghèo của
Việt Nam:
Quyết định cơ bản của chiến lược phát triển xã hội mà Đảng ta đã đề
ra là phát triển kinh tế, ổn định và công bằng xã hội nhằm thực hiện mục
tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
Do vậy, hỗ trợ người nghèo là một đòi hỏi khách quan. Xuất phát từ
căn nguyên của sự đói nghèo, nó khẳng định một điều: Mặc dù kinh tế đất
nước có tăng trưởng nhưng nếu không có chính sách và chương trình riêng
18
- Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội.
- Có 64 chi nhánh đặt tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,
có Sở giao dịch và Trung tâm đào tạo đặt tại Hà Nội.
- Có gần 600 đơn vị NHCSXH cấp huyện thuộc 64 tỉnh, thành phố
trong cả nước.
- Có hơn 8.000 điểm giao dịch của NHCSXH đặt tại UBND cấp xã
trên phạm vi toàn quốc.
Nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội sở chính, Sở giao
dịch, Trung tâm đào tạo, Chi nhánh và Phòng giao dịch thực hiện theo quy
định của Hội đồng quản trị.
Quản trị NHCSXH là Hội đồng quản trị với 12 thành viên, trong đó
có 9 thành viên kiêm nhiệm là đại diện có thẩm quyền của: Văn phòng
Chính phủ, Bộ tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Uỷ ban Dân tộc, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, quận, huyện, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh được thành lập Ban đại diện HĐQT do Chủ tịch hoặc
Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp làm Trưởng ban và các thành viên
20
là đại diện có thẩm quyền của các ngành, tổ chức như HĐQT nêu trên do
Chủ tịch UBND cùng cấp quyết định.
* Bộ máy hoạt động của NHCSXH:
- Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị và điều hành của Hội sở chính:
+ Hội đồng quản trị và bộ máy giúp việc.
+ Ban kiểm soát.
+ Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc.
+ Hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
- Tổ chức bộ máy điều hành của Sở giao dịch, Trung tâm đào tạo và
các Chi nhánh bao gồm:
+ Giám đốc, các Phó giám đốc.
1.2.1.3. Tín dụng đối với người nghèo:
* Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với người nghèo:
Thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo, cung cấp vốn tín dụng
ngân hàng cho người nghèo vay, luôn đóng một vai trò quan trọng, cần
thiết trong việc giúp đỡ về tài chính cho người nghèo khi thiếu vốn để sản
xuất kinh doanh nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, thoát cảnh đói
nghèo. Trong các nguồn tài chính cho người nghèo thì nguồn vốn tín dụng
của ngân hàng luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng nguồn vốn cung cấp đến
người nghèo, vừa mang tính thương mại hơn, phù hợp hơn với cơ chế kinh
22
tế thị trường, vừa phát huy hiệu quả hơn so với các nguồn vốn khác trong
công tác xoá đói giảm nghèo. Chính vì thế tín dụng ngân hàng đối với
người nghèo luôn giữ vai trò cần thiết, quan trọng trong chương trình xoá
đói giảm nghèo. Bởi vì tín dụng ngân hàng có những vai trò như:
Vai trò làm đầu mối huy động mọi nguồn vốn dành cho người nghèo:
tổ chức tín dụng cho vay người nghèo là nơi huy động các nguồn vốn phục
vụ cho chương trình xoá đói giảm nghèo, là địa chỉ cần thiết để các tổ chức,
cá nhân thể hiện mối quan tâm đối với người nghèo thông qua việc gửi vốn
có lãi hoặc không lãi để cho người nghèo vay.
Đồng thời, thông qua hoạt động huy động vốn để cho người nghèo
vay, được triển khai rộng rãi trong cộng đồng dân cư và những hộ nghèo
thông qua tổ nhóm tiết kiệm đã khơi dậy tinh thần trách nhiệm đối với sự
nghiệp xoá đói giảm nghèo, phát huy nội lực bản thân, nộ lực từng vùng và
khu vực, để thực hiện thành công công cuộc xoá đói giảm nghèo. Có thể số
lượng huy động trong cộng đồng người nghèo không nhiều, song qua đó
cũng hình thành dần ý thức tích luỹ đầu tư, tạo thói quen tiết kiệm và gửi
tiền vào ngân hàng, đồng thời sử dụng các dịch vụ ngân hàng như chuyển
tiền, nhận tiền...
Cung cấp vốn tín dụng đối với người nghèo, góp phần cải thiện thị
trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống: vốn tín dụng cho
giải quyết việc làm cho nhiều chục vạn lao động, giải quyết phần lớn thời
gian nông nhàn, tận dụng lao động để khai thác ngành nghề truyền thống,
24
khai thác tiềm năng nội lực, tạo cơ hội cho người nghèo tự vận động, phát
huy tính nhân bản, vượt qua khó khăn, nghèo đói hoà nhập dần dần vào cơ
chế kinh tế thị trường.
Vốn tín dụng cho người nghèo góp phần nâng cao thu nhập của hộ
nghèo: vốn cung ứng cho người nghèo thông qua hình thức tín dụng đã góp
phần tạo cơ hội cho người nghèo tăng thu nhập, nâng cao đời sống và giúp
nhiều vạn hộ nghèo vượt qua ngưỡng đói nghèo.
* Các hình thức cho vay:
Cơ bản hiện nay vận dụng cho vay theo hai phương thức. Cho vay
trực tiếp và cho vay cho vay uỷ thác thông qua các tổ chức tín dụng hoặc
các tổ chức đoàn thể. Mỗi loại phương thức cho vay có những ưu điểm
riêng nhưng cũng có tồn tại nhất định:
- Đối với phương thức cho vay trực tiếp phải có một tổ chức tín dụng
chuyên trách thực hiện cho vay hộ nghèo, khi cho vay sẽ quản lý vốn chặt
chẽ hơn, nghiệp vụ chuyên môn sâu hơn sẽ phát huy hiệu quả đồng vốn tốt
hơn và tiếp cận xã hội trên diện rộng nên thuận lợi cho việc huy động
nguồn vốn. Nhưng chi phí để thực hiện cho vay tốn kém hơn.
- Đối với phương thức cho vay gián tiếp, có mặt lợi là chi phí để thực
hiện cho vay tiết kiệm, cộng đồng trách nhiệm trong công tác xoá đói giảm
nghèo. Nhưng quản lý khó khăn hơn, dễ bị phân tán, hạn chế trong việc
huy động vốn.
Do vậy quá trình thực hiện xoá đói giảm nghèo để phát huy mặt lợi,
hạn chế mặt bất lợi trong các phương thức đã nảy sinh phương thức kết hợp
đó là phương thức uỷ thác từng phần, vừa kết hợp trách nhiệm cộng đồng
vừa nâng cao việc quản lý đồng vốn tín dụng.
25