Quản lý Nhà nước đối với các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam - Pdf 68

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

ĐINH TRẦN HÀ PHƯƠNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ
KHÁM CHỮA BỆNH TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI, NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
----------------------------

ĐINH TRẦN HÀ PHƯƠNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ
KHÁM CHỮA BỆNH TƯ NHÂN TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM

CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ

: QUẢN LÝ KINH TẾ
: 60 34 04 10


Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Y tế Hà Nam,
Phòng Y tế thành phố Phủ Lý, các phòng ban chức năng của Sở, các cơ quan, đơn vị
đã tạo điều kiện để tôi được tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề
tài.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và xin ghi nhận
sâu sắc tình cảm của gia đình, những người thân yêu đã luôn động viên, khích lệ,
giúp đỡ tôi mọi mặt để tôi vừa hoàn thành tốt công tác, vừa hoàn thành khóa học
cũng như mong muốn hoàn thành tốt Luận văn này.
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan, Luận vày
này không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Tôi rất mong nhận được sự chia sẻ
và đóng góp của các Thầy giáo, cô giáo để tôi bổ sung kiến thức bản thân và hoàn
thiện Luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nam, ngày 15 tháng 7 năm 2019
TÁC GIẢ

Đinh Trần Hà Phương


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................i
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một
học vị nào...................................................................................................................i
Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.......................i
Hà Nam, ngày 15 tháng 7 năm 2019..........................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................ii
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất

CP

Chính phủ

CSBVSK

Chăm sóc bảo vệ sức khỏe

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

CSSKND

Chăm sóc sức khỏe nhân dân

DSĐH

Dược sỹ đại học

ĐBSH

Đồng bằng sông Hồng

GB

Giường bệnh

HN


QLNN

Quản lý nhà nước

SDD

Suy dinh dưỡng


vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................i
Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một
học vị nào...................................................................................................................i
Tôi cũng xin cam kết rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.......................i
Hà Nam, ngày 15 tháng 7 năm 2019..........................................................................i
LỜI CẢM ƠN...........................................................................................................ii
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất
nhiều sự giúp đỡ quý báu, nhiệt tình của các Thầy giáo, Cô giáo là giảng viên của
Trường Đại học Thương mại đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tốt nghiệp................................................ii
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành với TS. Phạm Minh Đạt đã dành nhiều thời
gian trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và định hướng để tôi hoàn thành luận văn
này............................................................................................................................. ii
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Sở Y tế Hà Nam, Phòng Y
tế thành phố Phủ Lý, các phòng ban chức năng của Sở, các cơ quan, đơn vị đã tạo
điều kiện để tôi được tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài........ii
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và xin ghi nhận sâu

Thêm nữa là việc ngân sách Nhà nước hạn chế cũng như nguồn thu của hệ thống y
tế công còn thấp nên khả năng cung ứng dịch vụ không theo kịp nhu cầu và sự phát
triển về khoa học kỹ thuật. Điều này khiến cho hệ thống y tế công trở nên quá tải
bởi sự chật hẹp về không gian, hạn chế về cơ sở vật chất và chất lượng phục vụ,
chưa đáp ứng được các nhu cầu từ xã hội.
Trong bối cảnh đó, việc khuyến khích phát triển dịch vụ y tế tư nhân là điều
rất cần thiết, là hướng đột phá trong phát triển ngành y tế nước ta. Với thế mạnh là
tính linh hoạt trong cung ứng dịch vụ nên y tế tư nhân đã được đông đảo người dân
hưởng ứng và ủng hộ. Trong những năm qua, các cơ sở y tế tư nhân cùng với y tế
Nhà nước hình thành một mạng lưới khám chữa bệnh, cung cấp thuốc trong phạm
vi toàn quốc, góp phần đáng kể trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân
dân, tạo điều kiện cho người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế nhằm phát hiện
sớm bệnh tật, đáp ứng nhu cầu phòng và chữa bệnh, người dân được chăm sóc và
theo dõi sức khoẻ thường xuyên hơn, góp phần thực hiện công bằng xã hội trong


2
chăm sóc sức khoẻ. Hàng năm, các cơ sở y tế tư nhân đã khám chữa bệnh cho số
lượng bệnh nhân khá lớn, chia sẻ gánh nặng và góp phần giảm sự quá tải trong các cơ
sở y tế Nhà nước, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa y tế Nhà nước và y tế tư nhân.
Cũng như những địa phương khác trong cả nước, hoạt động của các cơ sở
khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàn thành phố Phủ Lý đã, đang phát triển nhanh
chóng về số lượng và chất lượng, góp phần đáng kể trong công tác bảo vệ, chăm sóc
sức khỏe (CSSK) người dân thành phố và các vùng lân cận. Nhiều cơ cở khám chữa
bệnh tư nhân được đầu tư trang thiết bị hiện đại; thủ tục hành chính nhanh, gọn, đơn
giản; thái độ phục vụ nhiệt tình, chu đáo…đã tạo được niềm tin cho người bệnh,
giúp họ có nhiều cơ hội lựa chọn dịch vụ y tế kỹ thuật cao CSSK cho mình.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực không thể không nhắc đến những
hạn chế cần khắc phục. Thời gian qua, tình trạng một số cơ sở hành nghề không có
chứng chỉ và giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề, hoặc chứng chỉ/giấy chứng

phạm pháp luật trong lĩnh vực y tế và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quản
lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực y tế.
- Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về phân cấp quản lý nhà nước về Y tế của tác
giả Nguyễn Xuân Chiến (2006). Luận văn thạc sĩ đã hệ thống hóa được các quy
định về phân cấp quản lý nhà nước về y tế đồng thời phân tích thực trạng của việc
phân cấp quản lý trong thời kỳ đổi mới và đưa ra các giải pháp kiện toàn cơ cấu tổ
chức, chức năng nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về y tế, phân
định rõ chức năng quản lý nhà nước của các cơ quan quản lý với vai trò chủ quản
chỉ đạo điều hành của cơ quan nhà nước các cấp nói riêng chung và quản lý nhà
nước về y tế nói riêng hiện nay.
- Luận văn thác sĩ “Kiện toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện chức năng nhiệm
vụ của tổ chức của mạng lưới y tế cơ sở” của tác giả Phan Văn Tiến (2006). Luận
văn đã hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, nhà nước và Chính
phủ liên quan đến việc đổi mới kiện toàn cơ cấu tổ chức và hoàn thiện chức năng
của mạng lưới y tế cơ sở Việt Nam.
- Dự án thành phần chính sách y tế “Báo cáo nghiên cứu thực trạng, vai trò
và tiềm năng của y tế tư nhân” của tác giả Nguyễn Hoàng Long, Hà Nội (2007).
Báo cáo đã mô tả thực trạng hành nghề y dược tư nhân ở Việt Nam và đánh giá vai


4
trò và tiềm năng của y tế tư nhân trong cung ứng dịch vụ y tế, đáp ứng nhu cầu bảo
vệ và CSSK ngày càng cao và đa dạng của nhân dân.[14]
- Luận văn thạc sỹ kinh tế “Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với
các dịch vụ y tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường (Lấy ví dụ trên địa bàn tỉnh
Nghệ An)” của tác giả Trần Thị Minh Huệ, Hà Nội (2007). Luận văn đã trình bày cơ
sở lý luận về quản lý Nhà nước đối với hoạt động y tế tư nhân. Đưa ra đề xuất những
quan điểm, phương hướng và giải pháp nhằm tạo điều kiện cho các dịch vụ y tế tư
nhân ở Nghệ An phát triển đúng hướng và có những đóng góp thiết thực vào chủ
trương xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh.[20]

ích mà người dân được thụ hưởng từ sự phát triển của các cơ sở khám chữa bệnh tư
nhân. Trong đó, theo nghiên cứu của KPMG (2010), thì đã tìm cách để giải quyết
các thách thức về chất lượng dịch vụ và công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế đối
với người dân ở Ấn Độ.[22][23][24][25]
2.3. Kết luận rút ra
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu các khác nhau cả trong và ngoài nước,
nghiên cứu về y tế tư nhân. Nhưng các nghiên cứu này ở các mức độ khác nhau chỉ
tập trung nghiên cứu về việc nâng cao chất lượng, cách thức để mở rộng cơ sở, hoặc
ý nghĩa và vai trò của hợp tác đầu tư trong phát triển các cơ sở khám chữa bệnh tư
nhân. Tuy nhiên chưa nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò quản lý nhà nước đối
với các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, đặc biệt là các cơ sở khám chữa bệnh tư
nhân trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Chính vì vậy đây vẫn là khoảng
trống để cao học viên có thể tiếp cận, nghiên cứu và đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao vai trò quản lý nhà nước với các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa
bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng quản lý nhà nước đối
với cơ sở khám chữa bệnh tư nhân để làm rõ được những kết quả đạt được, những
vấn đề tồn tại và nguyên nhân; từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý
nhà nước đối với cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh
Hà Nam.


6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài luận văn tập trung hệ thống hóa các cơ sở lý luận về quản lý nhà nước
đối với cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trong hệ thống y tế của Việt Nam; Nghiên
cứu thực trạng quản lý nhà nước với các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàn
thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Đánh giá những kết quả đã đạt được, những vấn đề

- Tiến hành thu thập bằng lắng nghe, ghi chép và sao chép.
- Sau khi thu thập được chúng tôi tiến hành kiểm tra tính chính xác của thông
tin, sử dụng và trích dẫn đầy đủ.
Thông tin

Loại tài liệu

Nguồn thu thập

Cơ sở lý luận của đề
tài, các số liệu, dẫn
chứng về tình hình
QLNN các cơ sở
KCBTN trên thế
giới, ở 1 số tỉnh,
thành phố của Việt
Nam. Các nghiên cứu
gần đây có liên quan
và được tiến hành bởi
các
Trung
tâm
nghiên cứu, các cơ
quan chính phủ…

+ Các loại sách và bài giảng:
QLNN về kinh tế, Kinh tế phát
triển, Kinh tế công cộng…
+ Các bài báo từ các tạp chí có
liên quan tới đề tài


+ Báo cáo kết quả kinh tế- xã
hội của thành phố qua các năm.
+ Quy hoạch phát triển kinh tế
thời kỳ 2020-2030.
+ Niên giám thống kê tỉnh Hà
Nam.
+ Tình hình hoạt động của các
cơ sở KCBTN qua các năm.
+ Báo cáo công tác thanh tra,
kiểm tra với các cơ sở KCBTN
của thành phố qua các năm.

+ UBND thành phố
Phủ Lý.
+ Cục thống kê tỉnh
Hà Nam.
+ Sở Y tế Hà Nam.
+ Phòng Y tế Thành
phố Phủ Lý.


8
b. Thu thập thông tin, số liệu mới: chọn mẫu, điểm điều tra mang tính đại
diện, thu thập qua các phiếu điều tra, khảo sát. Tổng số phiếu phát ra là 120 phiếu,
tiến hành điều tra trong thời gian 03 tháng. Đối tượng điều tra, khảo sát là cán bộ,
lãnh đạo các phòng chuyên môn của Sở Y tế, Phòng Y tế Thành phố, chủ các cơ sở
và nhân viên của cơ sở KCBTN trên địa bàn Thành phố Phủ Lý.
Nội dung điều tra, khảo sát là tình hình nhân lực, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
của các cơ quan QLNN; tình hình hoạt động tuyên truyền, thanh kiểm tra , xử lý vi

Năm 1986 Chính Phủ Việt Nam bắt đầu cho phép y tế tư nhân hoạt động theo
Quyết định số 145/1986/ QĐ-CP ngày 12 tháng 10 năm 1986 của Chính phủ về việc
cho phép thành lập các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân (KCBTN). Tuy nhiên thời
gian này khối KCBTN chủ yếu tập trung vào hoạt động điều trị và chăm sóc ngoại
trú. Từ khi thực hiện chính sách Đổi mới vào năm 1986, song song với các thay đổi
trong tình hình kinh tế xã hội của đất nước, có nhiều sự đổi mới đang diễn ra trong
hệ thống y tế của Việt Nam, mà trung tâm là việc chính thức công nhận về luật pháp
hệ thống dịch vụ y tế tư nhân vào năm 1989.
Xét về mặt quan hệ sản xuất thì cơ sở KCBTN là biểu hiện của kinh tế tư
nhân trong lĩnh vực dịch vụ y tế, đó là loại hình dịch vụ mang tính kinh doanh mà
cá nhân, hộ gia đình hoặc một tổ chức tư nhân đứng ra tổ chức cung cấp các dịch vụ
khám chữa bệnh (KCB) ngoài quyền sở hữu của nhà nước.[13]
1.1.2. Phân loại
Các cơ sở KCBTN bao gồm: bệnh viện đa khoa; bệnh viện chuyên khoa;
phòng khám đa khoa; phòng khám chuyên khoa; nhà hộ sinh; cơ sở dịch vụ y tế
khác đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ
KCB.[8]
1.1.3. Vai trò:
Các bằng chứng về hiệu quả, chất lượng và công bằng trong cung cấp dịch
vụ KCB giữa công và tư cái nào hơn không thống nhất và không có tính khẳng định
rõ ràng. Tuy nhiên sự phát triển của khu vực tư nhân trong cung cấp dịch vụ và sự
đóng góp của cá nhân vào các nguồn tài chính y tế là không thể phủ định. Việc kết
hợp công và tư trong y tế là điều cần thiết để cải thiện chất lượng, hiệu quả và công
bằng trong CSSK.


10
Hiện tại ở Việt Nam khu vực tư nhân đang bị coi là đối tượng mà y tế công
phải đối phó nhiều hơn là xem họ như đối tác có thể hợp tác nhằm thúc đẩy chất
lượng, hiệu quả và công bằng trong CSSK. Vì vậy thời gian tới Nhà nước cần thay

hoạt động cung cấp dịch vụ KCBTN thì các cơ sở KCBTN chịu sự chi phối của cơ
chế thị trường, cụ thể là thực hiện các quan hệ hàng hóa - tiền tệ, cung - cầu, giá cả,
tiền công, lợi nhuận v.v..
Bốn là, xét về mặt bằng chung thì các cơ sở KCBTN hiện này đều thuộc loại
vừa và nhỏ, trang thiết bị đơn giản, đội ngũ y bác sỹ vừa thiếu về số lượng lại vừa
chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, số cơ sở tiếp cận được với những công
nghệ mới hiện đại trong khám, chữa bệnh còn ít.[16]
1.2. Quản lý nhà nước với các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân
1.2.1. Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và
tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước. Đó chính là hoạt động quản
lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước - bộ phận quan
trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối
với xã hội.[12]
Ngày nay, QLNN xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp của cơ
quan lập pháp (Quốc hội), hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ
thống hành chính nhà nước (Chính phủ) và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp.
Trong hệ thống xã hội, tồn tại rất nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như:
Đảng, Nhà nước, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội. Trong sự
quản lý đó, thì QLNN có những điểm khác biệt:
Một là, chủ thể QLNN là các cơ quan trong bộ máy nhà nước, gồm: lập
pháp, hành pháp, tư pháp;
Hai là, đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh
sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia;
Ba là, vì tính đa dạng về lợi ích, hoạt động của các nhóm người trong xã
hội, QLNN diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao;


12


13
Một là, KCBTN cần phải có sự định hướng của Nhà nước.
Trên thế giới, qua các thời kỳ lịch sử, mỗi chế độ nhà nước đều có bản chất
và sự định hướng phát triển riêng của mình. Mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã
hội đều bị chi phối, phụ thuộc vào bản chất và định hướng phát triển đó. Do đó, sự
lựa chọn về định hướng và quan điểm đối với KCBTN luôn phù hợp và gắn bó chặt
chẽ với đường lối, quan điểm phát triển của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, trong nền kinh tế nhiều thành phần phát triển theo cơ chế thị
trường, nếu Nhà nước không có định hướng thì các thành phần tham gia trong lĩnh
vực KCBTN sẽ phát triển một cách bừa bãi, tự phát, thiếu tổ chức đồng bộ, hằn sâu
thêm những khuyết tật của cơ chế thị, không thể có công bằng trong công tác
CSSK.
Hai là, đảm bảo công bằng trong hưởng thụ các dịch vụ y tế.
Chấp nhận kinh tế thị trường có nghĩa là chấp nhận phân tầng xã hội, phân
hóa giầu nghèo, ngay cả khi “Bàn tay vô hình” vẫn phát huy được ưu thế của nó, nó
đồng thời vẫn có thể tạo ra sự phân phối rất không công bằng. Ở những xã hội
nghèo khó, có rất ít thu nhập dư thừa mà người ta có thể lấy được từ những người
khá giả hơn và trao chúng cho những người không may mắn. Khi xã hội trở nên
sung túc hơn, nguồn lực được dành để cung cấp cho người nghèo sẽ nhiều hơn.
Ngày nay các quốc gia giàu có ở Bắc Mỹ và châu Âu giành một phần đáng kể trong
tổng nguồn thu của họ để duy trì tiêu chuẩn tối thiểu về sức khỏe, dinh dưỡng và
thu nhập.
Trên bình diện cả nước, kể từ khi Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối Đổi
mới, kinh tế tăng trưởng nhanh, thu nhập bình quân đầu người được nâng lên thì
nhu cầu được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cũng nhiều hơn. Thời gian đầu do nhận
thức chưa đầy đủ về lợi ích và vai trò của việc phát triển các dịch vụ KCBTN,
người ta vẫn quan niệm việc chữa bệnh và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe không giống
như việc tiêu dùng những dịch vụ thông thường, vì đây là dịch vụ liên quan đến tính
mạng con người, đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt về chuyên môn, về y đức

việc giải quyết những vấn đề xã hội này.
Công bằng trong hưởng thụ các dịch vu y tế là một dạng công bằng xã hội
nhưng nó khác ở chỗ sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người, và bất kể ai cũng


15
có nhu cầu được chăm sóc một cách tốt nhất. Và chỉ có Nhà nước đại diện cho lợi
ích chung của cả cộng đồng mới có thể đảm bảo sự công bằng trong việc cung cấp
các dịch vụ này cho cộng đồng.
Ba là, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cung cấp các dịch vụ
KCBTN.
Các cơ sở và cá nhân cung ứng dịch vụ KCBTN tham gia vào thị trường, tất
cả đều nhằm tối đa hóa về lợi nhuận, vì vậy, quan hệ cạnh tranh giữa các cơ sở và cá
nhân cung ứng dịch vụ sẽ là một tất yếu. Về cơ bản, có thể đánh giá quan hệ cạnh
tranh đó không chỉ có tác động tích cực đến chất lượng của các dịch vụ KCBTN mà
còn tác động đến các cơ sở y tế công, buộc họ cũng phải nâng cao chất lượng dịch
vụ và cải thiện thái độ phục vụ bệnh nhân. Cho đến nay, đánh giá một cách khách
quan và công bằng thì điều kiện chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân ở Việt
Nam đã có rất nhiều tiến bộ: cơ hội lựa chọn cho người dân rộng rãi hơn, nhu cầu
về thuốc men được đáp ứng một cách tiện lợi hơn, thái độ phục vụ người bệnh của
những người cung cấp dịch vụ y tế đã có trách nhiệm hơn, tận tụy hơn. Có thể nói
đó chính là lợi ích đạt được từ chủ trương xã hội hóa y tế trong đó có sự phát triển
của các dịch vụ KCBTN. Tuy nhiên hiện tại đã bắt đầu có những dấu hiệu của sự
cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các cơ sở KCBTN và các cơ sở y tế công, mà biểu
hiện rõ nhất là tình trạng các cơ sở KCBTN tìm cách lôi kéo, dụ dỗ y bác sỹ của các
bệnh viện công bằng chiêu bài thu nhập, lôi kéo bệnh nhân đến chữa bệnh tại cơ sở
của mình ngay cả đối với nhưng ca bệnh nặng vượt quá khả năng điều trị của cơ sở.
Tình trạng tung tin đồn gây ảnh hưởng xấu đến uy tín và hoạt động kinh doanh của
các cơ sở KCBTN trên cùng địa bàn. Thái độ thiếu tận tâm đối với bệnh nhân của
một số y, bác sỹ khi làm việc trong giờ ở các cơ sở y tế công, song lại hẹn bệnh

nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và Nghị định số 59/2014/NĐ-CP ngày
16/06/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP.
- Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27/09/2011 của Thủ tướng Chính phủ
về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khám bệnh,
chữa bệnh.
- Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế


17
- Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Thủ tướng Chính phủ
về việc quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy
phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 12/11/2018 của Chính phủ về việc sửa
đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ Y tế.
- Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế về hướng dẫn
cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối
với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Thông tư 35/2013/TT-BYT ngày 30/10/2013 của Bộ Y tế quy định về thu
hồi chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động và đình chỉ hoạt động chuyên môn
của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Thông tư số 41/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế sửa đổi, bổ
sung một số điều của Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ trưởng
Bộ Y tế hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy
phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
- Thông tư liên tịch số 51/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 11/12/2015 của Bộ Y
tế và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Sở Y tế thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Phòng
Y tế thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status