PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN
PHẨM CỦA CÔNG TY GAS PETROLIMEX
I. ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY GAS PETROLIMEX
1. Quá trình hình thành phát triển của công ty
Gas hoá lỏng (LPG) đã tồn tại và phát triển tại khu vực phía Nam từ cuối thập
niên 50 của thế kỷ 20. Nhu cầu trong thời gian này khoảng 400 tấn/năm. Sau đó
tăng lên 1900 tấn/năm (1965) và mức tiêu thụ đã đạt tới 15 ngàn tấn/năm thời kỳ
trước giải phóng (tương đương 1kg/ đầu người/năm) với mức tiêu thụ này Việt
Nam được coi là quốc gia tiêu thụ nhiều LPG trong khu vực.
Khi đất nước thống nhất, do thiếu ngoại tệ và mặt hàng LPG được xem là mặt
hàng xa xỉ nên không được khuyến khích sử dụng, việc nhập khẩu và kinh doanh
LPG đã chính thức biến mất khỏi thị trường Việt Nam vào những năm 1984.
Năm 1991 chỉ sau vài năm nước ta thực hiện chính sách đổi mới do Đảng và
Nhà nước khởi xướng, đời sống nhân dân được cải thiện đi lên rõ rệt, sản phẩm
LPG đã quay lại thị trường Việt Nam thông qua các kênh phân phối không chính
thức. Thời điểm tuy giá rất cao ( 14.000 đồng/kg) nhưng ngay sau khi được giới
thiệu LPG đã được người tiêu dùng phía nam chấp nhận lượng tiêu thụ ngày càng
gia tăng.
Nhận thức được nhu cầu của thị trường Việt Nam đối với sản phẩm LPG một
số hang như : Elf của Pháp đã tiến hành nghiên cứu thị trường. Tháng 2/1993 liên
doanh giữa hãng Elf và công ty vật liệu xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đã được
thành lập, sau đó là sài Gòn Petro trực thuộc uỷ ban nhân thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 11/1993 tổng Công ty xăng dầu Việt Nam đã chính thức tham gia vào
thị trường LPG sau khi hoàn thành công tác nâng cấp hệ thống bồn bể tại kho xăng
dầu Nhà Bè- TP Hồ Chí Minh với sự giúp đỡ cuả công ty Australian Westtarmers
Kleenheat Gas (úc).
Nhận thấy tiềm năng và sự phát triển của ngành hàng LPG tổng công ty xăng
dầu Việt Nam đã thành lập các xí nghiệp gas hoá lỏng tại thị trường trọng điểm: Tp
Hồ Chí Minh, Tp Hà Nội, Tp Hải Phòng, Tp Đà Nắng. Tại tổng công ty mặt hàng
này được giao cho một phòng gọi là phòng kinh doanh gas hoá lỏng phụ trách.
Đến năm 1998 sau khi thị trường gas hoá lỏng có sự cạnh tranh rõ rệt và ngày
về mọi mặt.
- Tổ chức bộ máy và tổ chức kinh doanh có hiệu quả nhằm bảo toàn và phát
triển vốn của công ty
- Chỉ đạo điều hành các phòng ban các đơn vị trực thuộc trong việc xây dựng
và thực hiện chiến lược kinh doanh tháng, quí, năm trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị
trường, kế hoạch phát triển dài hạn của công ty. Các qui chế qui đinh của công ty
về quản lý nghiệp vụ kỹ thuật, chất lượng, nội quy kỷ luật lao động, khen thưởng,
đào tạo tuyển dụng... để giúp việc cho giám đốc có 2 phó giám đốc: là phó giám
đốc kỹ thuật và phó giám kinh doanh.
+ Phó giám đốc kỹ thuật: chỉ đạo và điều hành các phòng ban có liên quan
trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất tháng, quí, năm định mức sử dụng các yếu
tố đầu vào, sửa chữa duy tu bảo dưỡng các thiết bị vật tư, đầu tư xây dựng đào tạo
và nâng cao tay nghề cho cán bộ công nhân viên.
+ Phó giám đốc kinh doanh: Chỉ đạo điều hành phòng ban phân xưởng có liên
quan trong việc thực hiện mua sắm, bảo quản, lưu kho các nguyên vật liệu phụ
tùng, thiết bị... Phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, phụ trách mặt tiêu thụ sản phẩm
thực hiện các công việc giám đốc giao. Báo cáo giám đốc xem xét giải quyết
những vấn đề về thẩm quyên giải quyết của mình.
* Phòng tổ chức - hành chính
Phòng tổ chức – hành chính có các chức năng nhiện vụ sau:
Lập kế hoạch về lao động tiền lương, đào tạo cán bộ, nhu cầu sử dụng lao
động các biên pháp an toàn lao động xây dựng các định mức lao động chế độ chính
sách trả lương và phân phối lợi nhuận theo dõi các phong trào trong công ty chế độ
thưởng phạt. Thay mặt giám đốc tiếp đón khách, quản lý công văn, giấy tờ lưu trữ
thực hiện các công việc hành chính quản trị
* Phòng kinh doanh
Giúp giám đốc lập kế hoạch ngắn hạn, dài hạn cho công ty cùng các biện pháp
thực hiện, yêu cầu tương ứng về vật tư máy móc lao động. Lập phương án định giá
sản phẩm. Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch báo cáo kịp thời cho giám đốc để
điều hành nhằm hoàn thành tốt kế hoạch, phát hiện tốt những khó khăn đê xuất
cùng bao giờ cũng là mối quan tâm lớn nhất, nó quyết đinh sự sống còn, quyết định
các hoạt động tiếp theo của công ty. Mặc dù mới được thành lập nhưng công ty đã
đạt được những kết quả đáng kế . Nó được thể hiện qua bảng sau.
Qua bảng trên ta thấy.
- Sản lượng bán ra năm 2000 đạt 62.470 tấn, tăng 53,17% so với năm 1999.
Sản lượng bán ra tăng làm cho doanh thu bán hàng tăng. Doanh thu xuất
bán năm 2000 đạt 362 tỷ đồng, tăng52.25% so với năm 1999, tốc độ tăng
doanh thu thấp hơn so với tốc độ tăng sản lượng theo đánh giá của công ty.
Vì lượng gas rời xuất bán chiếm tỉ trọng lớn đạt 26,420 tấn tăng so với
năm 1999 là 97% nhưng do tình hình cạnh tranh gay gắt của các hàng gas
khác buộc công ty phải giảm giá. Cụ thể công ty đã giảm 3,19%(năm 1999
là 5650đ/kg xuống 5442đ/kg năm 2000). Ngoài ra do chi phí vận chuyển
và các khoản chi phí khác đều tăng.
Năm 2000 các khoản nộp ngân sách nhà nước đạt 8,671 tỷ đồng, tăng 3,9% so
với năm 1999. Trong đó VAT phải nộp là 4,379 tỷ đồng, tăng 73% so với năm
1999.Do biến động của giá dầu thô trên thị trường thế giới, để bảo vệ các hoạt
động kinh doanh gas lỏng và kích thích tiêu dùng nhà nước đã hạ thuế từ 20% năm
1999 xuống 5% rồi 0% trong năm 2000. Đây là nguyên nhân chủ yếu giải thích tại
sao sản lượng tăng mà mức đóng góp của công ty lại giảm.
- Lợi nhuận sau thuế năm 2000 đạt 3,5tỷ tăng 5,53% so với cùng kỳ năm
1999. Đây là mức tương đối khả quan với tình hình cạnh tranh quá gay gắt trong
lĩnh vực gas.
- Thu nhập bình quân đầu người của công ty tăng từ1,278 triệu năm 1999 đến
1,897 triệu năm 2000 (48%). Đời sống cán bộ công nhân viên ổn định hơn họ gắn
bó và tận tình với công ty hơn, giúp công ty đứng vững và phát triển.