LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong thời kì hội nhập với một nền kinh tế đang dần
dần được hình thành và hoàn thiện cùng với nó là bao nhiêu sự đổi thay lớn
lao.Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với sự chỉ đạo từ trên xuống
dưới: sản xuất cho ai? , sản xuất cái gì ?sản xuất như thế nào?,các yếu tố
đầu vào mua ở đâu? giá cả như thế nào? cách tiêu thụ sản phẩm đầu ra?…
đều có sự sắp xếp từ phía các cơ quan nhà nước đến một nền kinh tế thị
trường đa thành phần , đa sản phẩm đa cạnh tranh-nền kinh tế mà ở đó mỗi
doanh nghiệp là một chủ thể mang tính tự chủ cao, tự mình quyết định mọi
vấn đề và tự chịu tránh nhiệm về tất cả những quyết định đó. Một đặc trưng
nổi bật của nền kinh tế thị trường là sự đa dạng và phong phú của các
chủng loại hàng hoá và cũng chính vì vậy mà khách hàng dần dần trở thành
thượng đế thực sự. Khách hàng có vô số sự lựa chọn còn các doanh nghiêp
đương nhiên luôn luôn muồn được phục vụ họ.Vấn đề đặt ra cho doanh
nghiệp bây giờ là làm sao để kéo khách hàng tới và tiêu dùng sản phẩm của
mình.Và tất nhiên tự họ phải trả lời câu hỏi đó.
Khi nói tới những sản phẩm mà thị hiếu của người tiêu dùng thay đổi
không ngừng thì không thể không nói tới thời trang và những sản phẩm dệt
may.Có thể nói rằng để kinh doanh trong ngành này thì nếu một doanh
nghiệp muốn sản phẩm của mình được tiêu thụ thì luôn luôn phải đặt câu
hỏi “sản xuất cái gi?” và câu trả lời mỗi tháng sẽ thay đổi một lần, thậm chí
còn nhanh hơn. Vì vậy mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải vận
động không ngừng để tồn tại và phát triển.Và thực tế đã chứng minh rằng
các doanh nghiêp dệt may Việt Nam đã hoàn thành khá tốt công việc của
mình khi mà sản phẩm của ta đã xuất khẩu sang hầu hết các nước với tỉ
trọng lớn,và giờ đây Việt Nam đã có trong danh sách nhưng nước xuất
khẩu dệt may hàng đầu trên thế giới.Có một doanh nghiệp góp phần không
1
nhỏ trong thành tích trên đó là Công ty cổ phần May 10. Trong suốt hơn 60
năm quaMay 10 từ những nhà xưởng bằng tre, nứa thành một doang nghiệp
mạnh của nghành dệt may Việt Nam. Với 8000 lao động, mỗi năm sản xuất
trò của quá trình tiêu thụ sản phẩm đã được khẳng định:
+Tiêu thụ hàng hoá giúp cho hàng hoá từ hình tháI hiện vật sang hình
thái giá trị và động thời vòng chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp
được hình thành.
+Tiêu thụ sản phẩm giúp cho qua trình tái sản xuất được giữ vững và
có điều kiện phát triển.
3
+Qua quá trình tiêu thụ sản phẩm mới biểu hiện được tính hữu ích của
mình, và loa đọng của người lao động lúc đố mới được thừa nhận.
Vậy hoạt động tiêu thụ sản phảm giữ vai trò quyết định đến hoạt động
kinh doanh .Thông qua hoạt đọng tiêu thụ sản phẩm doanh nhiệp được tiếp
xúc với người tiêu dùng với khách hàng của mình từ đó họ hiểu được
khách hàng,biết họ muốn gí và tìm cách thoả mãn.việc lắm bắt được xu
hướng tiêu dùng của khách hàng là đặc biệt quan trọnh, bởi trong thời buổi
kinh tế thị trường ngày nay mọi hàng háo , mọi công nghệ đều thay đổi một
cách chóng mựt lên doanh ngi\hiệp cũng phảI vân đông theo ,và quan trọng
là phảI đúng hướng.
II. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ
SẢN PHẨM
1. Các yếu tố bên trong
1.1Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm có lẽ là yếu tố hàng đầu trong tiêu trí lựa chọn
mua của phần lớn người tiêu dùng.Một sản phẩm được coi là chất lượng tốt
khi nó làm thoả mãn nhu cầu đùng với kỳ vọng của người tiêu dùng.Hay
chất lượng sản phẩm còn được coi là sự phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của
khách hàng.
Mọi doanh nghiệp nếu muốn sản phẩm của mình được khách hàng
chấp nhận và tiêu dùng thì vấn đề đầu tiên có lẽ là phải đảm bảo đươc chất
lượng sản phẩm.Nhà nước ta đã đưa ra các hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất
lượng nhằm bảo vệ chính quyền lợi của người tiêu dùng .Song chính các
thường dùng biện pháp giá thấp để khuyến khích sự tiêu dùng của người
dân sau đó mới nâng giá lên để tìm kiếm lợi nhuộn.
1.3 Phân phối hàng hoá.
Hàng hoa muốn bán chạy thì phải dựa vào nhu cầu của người tiêu
dùng va người tiêu dùng ở các nơi khác nhau thì có những nhu cầu khác
5
nhau.Vậy nên việc sẽ phân phối sản phẩm ở đâu lán như thế nào là vô cùng
quan trong.
Việc đặt các địa điểm bán hàng cần có sự xem xét một cách kỹ
lưỡng.Các của hàng không lên dặt quá gần nhau vì có thể vô tình trở thành
đối thủ cạnh tranh của nhau.Khi chọn địa điểm đặt của hàng cần quan tâm
đến các vẩn đề như đặc điểm dân cư: mật độ dân cư thu nhập,phong
tục,nghề nghiệp,thu nhập …;Các loại hàng hoá được bán xung quanh;…
Các kênh phân phối hàng hoá cũng hết sức quan trọng.Đó có thể là
kênh trực tiếp: người sản xuất bán trực tiếp cho người tiêu dung,hay kênh
gián tiếp :hàng hoá từ người sản xuất qua trung gian rồi mới đến tiêu
dùng.Tuỳ vào đặc tính của sản phẩm cũng như nhu cấu của khách hàng mà
doanh nghiệp nên bố trí các kênh phân phối cho phù hợp.
1.4 Các hoạt động xúc tiến.
Xúc tiến thương mại là những công cụ để làm năng động và gây ảnh
hưởng định hướng giữa người bán và người mua, và là hình thức tuyên
truyền nhằm mục tiêu tạo ra sự chú ý và chỉ ra được những lợi ích của hàng
hóa và dịch vụ đối với khách hàng tiềm năng.
Bản chất của xúc tiến thương mại là truyền tin về sản phẩm, doanh
nghiệp tới khách hàng để thuyết phục họ mua sản phẩm.hoạt động xúc tiến
thương mại bao gồm khuyến mại, quảng cáo thương mại, hội chợ, triển lãm
thương mại.Trong đó loại hình xúc tiến được sử dụng rộng rãi hiện nay
phải kể đến các chương trình quảng cáo.Ngày nay người ta không chỉ
quảng cáo trên ti vi đài bái ,qua mang mà con sử dụng cả phim ảnh ,rồi các
ngôi sao nổi tiếng…Đây là các hình thức quảng cáo rất tốn kém nhưng hiệu
Có rất nhiều khái niệm về đối thủ cạnh tranh nhưng nhìn chung đối
thủ cạch tranh là nhưng doanh nghiệp mà mặt hàng doanh nghiệp kinh
doanh có khả năng làm giảm doanh thu cũng như lợi nhuận của công ty.
Các sản phẩm má đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất có
thể cùng chủng loại hay không cùng chủng loại với mặt hàng mà doanh
7
nghiệp đang kinh doanh.Nếu có càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì sản phẩm
của doanh nghiệp càng bị đe doạ, nếu chất lượng sản phẩm của đối thủ mà
càng tốt thì khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp càng bị đe doạ…
Nhìn chung doanh nghiệp muốn tồn tai và phát triển thì phải luôn đổi mới
mình đúng cách,tự mình tìm ra những ưu điểm và phát huy để có thể vượt
qua các đối thủ cạnh tranh.Không có doanh nghiệp nao không có đối thủ
cạnh tranh và đã là đối thủ thì lợi ích không đồng thuận song không vì vậy
mà ta có thể dùng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh vì điều đố sẽ
làm suy giảm kinh tế đất nước.
2.3 Nhà cung ứng
Nhà cung ứng là những người cung ững những nguyên liệu đầu vào
cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn tiêu thụ được nhiều sản phẩm thì cần cần giảm
các chi phí.Trong khi đó chí phí nguyên vật liệu là một trong những thành
phần chính cấu thành lên giá sản phẩm.Giá thành là một chuyện song
doanh nghiệp cần phải để ý đến chất lượng nguyên vật liệu,thời gian giao
hàng cách thức giao hàng .Các nhà cung ứng có thể coi là một dạng đối thủ
cạnh tranh của doanh nghiệp vì nếu lợi nhuân của họ trên một đơn vị sản
phẩm của họ càng lớn thị lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm.
Trong nhiều trường hợp nhà cung ứng có thể gây sức ép lên doanh
nghiệp nếu nguyên vật liệu của họ là loại tốt hoặc hiếm.Để vhủ động hơn
doanh nghiệp có thể lấy hàng từ một số nhà cung ứng thay vì chi trung thuỷ
với một nhà cung ứng.
2.4Các sản phẩm liên quan
trường
Lập các kế hoạch
tiêu thụ sản phẩm
Hàng hoá dinh
vụ
Quản lý hệ thống
phân phối
Quản lý dự trứ và
hoàn thiện sản
phẩm
Quản lý lưc lượng
bán
Tổ chức bán hàng
và cung cấp dịnh
vụ
Thị trường
Sản phẩm
Dịch vụ
Giá.doanh số
Phân phối vá
giao tiếp
Ngân quỹ
Phối hợp và tổ
chức thực hiện các
kế hoạch
10
nhu cầu thị trường.Trước kia trong nền kinh tế kế hoach hoa tập trung thì
thị trường dường như đồng tính,mọi sản phẩm sản xuất ra đều sẽ được tiêu
thụ,Song giờ là thời buổi kinh tế thị trường với rất nhiều sự cạng trạnh vậy
lên khôngcó chỗ cho những sản phẩm không phù hợp.
bản:
+Khối lượng tiêu thụ sản phẩm về hiện vật và giá trị còn phân theo
tiêu thức : lượng tiêu thụ phải được xác định dựa trên cơ sở của việc nghiên
cứu nhu cầu của khách hàng, khách hàng có nhu cầu về những loại sản
phẩm gì,số lượng bao nhiêu; đặc điểm đặc trưng của bản thân sản phẩm:sản
phẩm có dễ bảo quản không,có dễ hỏng không?…
+Cơ cấu sản phẩm và cơ cấu thị trường tiêu thụ: việc tìm hiểu thị
trường phân đoạn thị trường là rất quan trọng,doanh nghiệp phải biết được
rằng đoạn thị trường nào cần những sản phẩm nào? từ đó có nhưng kế
hoạch tiêu thụ sản phẩm cụ thể.
+Giá cả tiêu thụ:có thể nói giá cả của sản phẩm ảnh hưởng rất nhều tới
sự lựa chọn của người tiêu dùng,vậy nên việc xác định giá cả là rất quan
trọng.Nhưng không phải là cứ giá rẻ là có hiệu quả trong việc tiêu thụ sản
phẩm.Viêc xac đinh giá tất nhiên phải phụ thuộc vào chi phí song ngoài ra
nó còn phụ thuộc vào tính chất của sản phẩm,sản phẩm thiết yếu hay sản
phẩm sa sỉ,phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của công ty...
Các chỉ tiêu về tiêu thụ sản phẩm có thể tính theo hiện vật và giá
tri,chỉ tiêu tương đối và tuyệt đối tuỳ vào đặc điểm tính chất của các chủng
loại sản phẩm.
Việc xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm không phải dễ dàng , song
ta có thể sửng dụng các phương pháp cân đối,phương pháp quan hệ động
và phương pháp tỷ lệ cố định…Trong xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
thì phương pháp cân đối được coi là phương pháp chủ yếu.A3.Chuổn bị để
xuất bán hàng hoá
12
Chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cho khách hàng là hoạt độn của quá
trình sản xuât kinh doanh trong khâu lưu thông.Muốn cho qua trình lưu
thông hàng hoá được liên tục, không bị gián đoạn thì các doanh nghiệp
phải chú trọng tới nghiệp vụ sản xuất ở kho như:
+Tiếp nhận: tiếp nhận phải đầy đủ về mặt số lượng và chất lượng hàng
Việc chuẩn bị hàng hoá để xuất bán cân phải thực hiện một cách có tổ
chức cụ thể và rõ ràng tránh làm gián đoạn ảnh hưởng tới tiến trình sản
xuất
4 Lựa chọn các hình thức tiêu thụ sản phẩm.
Để sản phẩm đến được với người tiêu dùng cuối cùng thì doanh
nghiệp phải sử dụng các kênh phân phối.Mỗi kênh phân phối là một hình
thức vận động khác nhau của sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu
dùng.Muốn chọn một kênh phânphối phì hợp cho từng loại sản phẩm ta cân
dựa trên cơ sở đặc điểm của sản phẩm, các điều kiện vận chuyển,bảo quản
và sử dụng…
Có nhiều cách để sản phẩm vận dộng từ nhà sản xuất đến tay người
tiêu dung.Nếu căn cứ vào quan hệ giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng
cuối cùng thì có thể chia ra kênh phân ơhối trực tiếp và kênh phân phối
gián tiếp:
Kênh phân phối trực tiếp là hình thức mà doanh nghiệp sản xuất bán
trực tiếp sản phẩm cho người tiêu dùng.Hình thức tiêu thụ này có nhiều ưu
điểm song cũng không ít hạn chế. Ưu điểm chủ yếu ở đây là tiết kiệm được
chi phí lưu thông hay nói đúng hơn là doanh nghiệp không mất hoa hông
cho các trung gian bán hàng;thời gian sản phẩm tới tay người tiêu dùng
nhanh hơn;các doanh nghiệp có điều kiện trực tiếp tiếp xúc với người tiêu
dùng,từ đó có thể thăm dò về nhưnh đặc điểm tiêu dùng của ho,xem họ có
hài lòng về sản phẩm của mình không hay chưa hài lòng ở chỗ nào…từ đó
dần dần hoàn thiện của công ty mình.Song cach này cúng mang lại nhiều
14
bất cập cho doanh nghiệp như là họ phải tiếp xúc với quá nhiều khách
hàng,mất nhiều thời gian và công sưc để phục vụ họ,hạn chế khả năng cung
ứng,tôc độ chu chuyển vốn chậm do quá trình bán hàng đi sâu vào từng đối
tượng cụ thể.Ngay nay khi mà công nghệ thông tin đang phát triển thì xuất
hiện nhiều kênh phân phối trưc tiêpnhư:bán hang qua truyền hình,qua mạng
qua điện thoại.
các hoạt động nhằm hố trợ,thúc đẩy ,tạo điều kiện thuận lợi cho doanh
nghiệp thực hiên tốt công viẹc tiêu thụ sản phẩm.Xúc tiến bán hàng vả yểm
trợ là các hoạt động rất quan trọng có tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy công tác
tiêu thụ sản phẩm,giúp cho doanh nghiêp có diền kiện mở rộng các mối
quan hệ với khachd hàng ,củng cố phát triển thị trường.Những nội dung
chủ yếu của hoạt đông xúc tiến, yểm trợ bán hàng phải kể đến là quảng
cáo,chào hàng,khuyến mại.tham gia hội trợ triểm lãm…Các hoạt động xúc
tiến bán hàng ngày nay đang trở nên vô cùng quan trọng và chiếm trọng
lớn trong giá thành sản phẩm.
Các hình thức xúc tiến cũng ngay một đa dạng và phong phú.Nếu
như ngày trước quảng các trên ti vi,giói thiệu sản phẩm qua các triển lám
thì giớ đây giới thiệu sản phẩm đã thâm nhậm vào mọi mặt của cuộc
sống.Từ phim ảnh,thể thao,rồi cả trong từ thiện và dùng cả cuộc sống riêng
tư của các ngôi sao để quảng bá cho sản phẩm của mình.
6.Tổ chức hoạt động bán hàng
Trong cơ chế thị trường nay thì khẩu hiểu khách hàng là thượng đế
đang được sử dụng một cách rộng rãi.Do khách hàng giờ đây có vô số sự
lưa chon nên việc kéo khách hàng đên với sản phẩm của mình là cả một
vấn đề không hề đơn giản. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào việc bán hàng,
một trong những khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh.Hay nói đung
hơn bàn hàng là hoạt động mang tính nghệ thuật, tác động tới tâm lý ngưởi
mua nhằm đạt được mục tiêu bán hàng.
16
Hoạt động bán hang tất nhiên phụ thuộc rất nhiều vào người bán hàng.
Người bán hàng phải đặc biệt quan tâm đến quá trịnh tác động vào tâm lý
của khách hàng vì những bước tiến triển của tâm lý ,tinh thần, tính chủ
quan và khách quan diễn ra rất nhanh chóng trong khách hàng.Sự diễn biến
tâm lý của khách hàng thường trải qua 4 giai đoạn:từ sự chú ý đến quan
tâm rồi nguyện vọng mua và cuối cung đến quyết định mua.Và người bán
hàng phải biết được tâm lý của khách hàng trong từng giai đoạn,từ đó có
đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong chu kỳ tiếp theo.Thông qua việc
đánh giá doanh nghiệp có thể quyết định xem có nên mở rộng hay thu hẹp
thị trường tiêu thụ, hiệu quă hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp,
18
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA DỆT
MAY VIỆT NAM VÀ CÔNG TY MAY 10
I. KHÁI QUẢT CHUNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1. Vai trò của nghành dệt may trong nền kinh tế quốc dân.
Dệt may là nhgành có vai trò vô cùng quan trong trong nền kinh tế
dân đặc biệt trong thời ki hội nhập như ngày nay .Vai trò cụ thể của nghàng
được thể hiện cụ thể như sau:
1.1 Tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn người lao động:
Việt Nam là nước có dân số trẻ với khoảng 50% số người trong độ
tuổi lao động.Vậy nên vấn đề việc làm luôn là bài toán khó giải cho các nhà
lãnh đạo và các cấp chính quyền. Số người trong độ tuổi lao động đã nhiều
mà trình độ học vấn và tay nghề của họ lại không cao vậy nên việc tìm ra
những công việc phù hợp là rất khó.
Trước kia nước ta là nước thuần nông, phần lớn người lao động xuất
phát từ nông dân,học vấn của họ không cao nhưng lại có tính cần cù và
chụi khó vậy nên nghành dệt may có thể tận dụng được.
Quy trình xuất của nghành dệt may:
Qua quy trình sản xuất trên ta thấy rằng ngoài công đoạn thiết kế thì
các công đoạn khác nghành dệt may có thể tận dụng được có trình độ học
vấn không cao và trình độ tay nghề có thể đào tạo được trong thời gian
ngắn.Các công đoạn cần nhiều nhân công nhất đó là cắt may hoàn thiện sản
phẩm và tiêu thụ sản phẩm thì người lao động việt Nam hoàn toàn có thể
thiết kế
lựa chọn
nhà cung
nhu cầu thiết yếu của con người mà người ta còn dùng trang phục để khẳng
định phong cách , địa vị và cá tính của bản thân mình.Và theo đó nghành
dẹt may cung đã luôn luôn lỗ lực để dáp ứng được nhu câu đó.Các sản
phẩm dệt may giờ đây vô cùng đa dạng với mẫu mã phong phú từ mùa sắc
đến kiểu dáng.Các sản phẩm giờ đây không chỉ phân loại theo mùa mà
phân theo rất nhiều tiêu th ức khác nhau:
+Theo gia trị sản phẩm:N ếu như trong xã hội con người ta có các m
ức thu nhập khác nhau thì trong nghành dệt may cung tạo ra nhưng sản
phẩm đáp ứng một cách phù hợp.Những người có thu nhập cao có thể chọn
20
lựa các sản phẩm có chất liệu tốt và đẹp như da thú,lụa,gấm và những chất
liệu tổng hơp đắt tiền khác, đó thường là sản phẩm của các thương hiệu nổi
tiếng hoăc được thiết kế bởi các nhà tạo mẫu có tên tuổi với những hoạ tiết
và nhưng đường may tinh tế và cầu kỳ…Tuy nhiên ở nước ta những người
tiêu dùng nghững sản phẩm nay không nhiều bởi nước ta những người có
thu nhầp thực sự cao như vậy là ít.Những sản phẩm hiện nay được tiêu
dùng nhiều thường chỉ ở mức gia trung bình.Nhưng sản phẩm này thì chất
liệu không thưc sự tốt thường là cotton hoăc sợi tổng hợp đơn thuần.Song
mẫu mã cũng vô cùng phong phú và đa dạng.
+Theo lứa tuổi: theo cách này hàng hoá có thể chia ra các sản phẩm
cho người giá, cho ngưới trung niên,cho giới trẻ và cho trẻ em.Các mặt
hàng ngày nay dang được chú ý đó là trang phục cho giới trẻ Thị hiếu thời
trang của giới trẻ thay đổi một cách nhanh chóng , đồng thời giớ trẻ cũng
luôn muốn thể hiện phong cách của mình vây nên những trang phục phục
vụ cho họ rất phong phú và đầy cá tính.Thời tranh cho trẻ em bây giờ cũng
được chú ý nhiều khi mà chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao sự
chăm sóc và đầu tư cho con cái cũng dược chú trọng .Hiện nay trên thị
trường giá cả của những bộ đồ trẻ em có giá cả không hề kém người lớn.
+Theo tinh chất công việc: hiện nay có những đồ công sở nói chung,
Đồng phục công ty, những đồ dạ tiệc, đồ mặc ở nhà hay những đồ đi
tăng khoảng 20%, thị trường Nhật Bản đạt khoảng 700 triệu USD, chiếm
9%, tăng khoảng 12%...Việt Nam đã trở thành 1 trong 10 nước xuất khẩu
hàng dệt may lớn nhất thế giới. Đây là kết quả không thể tốt hơn trong năm
đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kết của WTO.
1.4 Dệt may là ngành thu hút một lượng vốn đầu tư lớn từ nước ngoài.
Qua thống kê cho thấy, Đài Loan đầu tư nhiều nhất về giá trị vào
ngành dệt may Việt Nam là 1,690 tỷ USD vốn đăng ký, với 156 dự án.
22
Trong đó, có 45 dự án đầu tư vào ngành dệt, 93 dự án đầu tư vào ngành
may, còn lại đầu tư vào ngành phụ liệu. Tiếp đến là Hàn Quốc, mặc dù tính
về số dự án là 177 dự án, nhiều hơn Đài Loan, nhưng tính về tổng vốn đăng
ký lại đứng sau Đài Loan với 1,003 tỷ USD. Trong đó, đầu tư vào ngành
dệt là 40 dự án, ngành may là 122 dự án, còn lại là đầu tư vào ngành phụ
liệu. Ở mức độ vốn đăng ký lên trên 100 triệu USD có Hongkong và Nhật
Bản, còn lại là dưới mức 100 triệu USD, trong đó Đức và Thái Lan có tổng
vốn đăng ký ít nhất với 9 triệu USD. Bảng thống kê cũng cho thấy, số dự
án của các nước đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là ngành may, sau đó là
ngành dệt, cuối cùng là phụ liệu. Điều này cũng dễ hiểu bởi Việt Nam xuất
khẩu chủ yếu là các sản phẩm may mặc, nên các nước tập trung đầu tư vào
ngành này. Còn ngành phụ liệu, xu hướng ở Việt Nam chủ yếu là nhập
khẩu nguyên vật liệu cho ngành dệt may (trên 80%) nên các nhà đầu tư
chưa tập trung mạnh vào lĩnh vực này vì lợi nhuận không cao bằng ngành
may.
Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, các nhà phân tích từng đưa ra dự
báo rằng, Việt Nam sẽ thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có
ngành dệt may khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Thật vậy,
bước vào năm 2007, năm đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kết WTO,
hoạt động đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may của Việt Nam đã có những
chuyển động tích cực. Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) cho biết, các
dự án dệt may lớn đã thu hút được sự quan tâm đầu tư từ phía các đối tác
hướng tiêu dùng mặt hàng nay thay đổi một cách chóng mặt.
Về các măt hàng may mặc để nắm bắt được xu hướng tiêu dùnglà một
vấn đè không phải dễ dàng.trang phục phụ thuộc nhiều vào cá tính của
người tiêu dùng và việc nắm bắt được những cá tính này càng khó khăn
hơn trong một xã hội mà ai cũng muốn khẳng định mình.
24
Để nắm bắt được xu hướng này các doanh nghiệp trong ngành dệt
may phải tiến hành nghiên cứu thị trường một cách nghiêm túc và triệt
để.Qua nghiên cứu ngành dệt may đã quyết định sản xuất các sản phẩm
chính sau:
+Áo sơ mi: Đây là mặt hàng truyền thống, kiểu dáng đơn giản song
luôn lá mặt hàng được ưu tiên sản xuất và có lượng tiêu thụ lớn nhất trong
các mặt hàng dệt may. Đối với nam giới thì đây là mặt hàng không thể
thiếu.Vậy nên dây là mặt hàng phục vụ ch mọi tăng lớp khách hàng. Áo
nay có thể sử dụng trong mọi hoàn cảnh có thể là đồ công sở ,có thể là đồ
mặc đi chơi…ÁO sơ mi nam có đặc điểm là kiểu dáng không phức tạp dễ
mặc nên các doanh nhiệp dệt may thường chỉ tập trung vào màu sắc và chất
liệu của sản phẩm.Và đó cũng là căn cứ phân cấp các loại mặt hàng. Áo sơ
mi nữ thì khác giờ đây loại sản phẩm này được cách tân rất nhiều.Kiểu
dáng giờ đây không chỉ đơn thuần là đuôi tôm cổ đức mà được đình thêm
hoa văn hoạ tiết cầu kỳ hơn rất nhiều. ÁO sơ mi nữ thường là áo ôm sát
người nêm kiểu dáng cũng được các nhà thiết kế chú ý đến.Ngoài ra màu
sắc cũng là một yếu tố quan trọng tạo lên phong cách cho áo sơ mi nữ.
+Quần nam,quần nữ:Tương tư như áo sơ mi,quàn nam đơn giản hơn
quần nư rất nhiều.quân nam công sở và cho những người đứng tuổi thương
rộngnên chi tiết đường may không cần quá cầu kỳ song chất liệu lại giữ vai
trò quan trọng.Quân nam công sở thừong được ưu tiên các chất liệu mền và
sóng vải,ngoài ra các loại quần cho giới trẻ thì thường bằng các chất liệu
như bo,kaki,thô và kiểu dàn nghịch ngợm và phá cách.Cong quần nữ thì tất
nhiên đa kiểu dáng đa phong cách.Quần nữ bó sát nên dược chú ý tới các