Luận văn "Phương pháp đánh giá nhanh sinh khối và ảnh hưởng của độ sâu ngập lên sinh khối rừng tràm tỉnh Cà Mau" - Pdf 68


1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
Năm học 2004 - 2005 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ NHANH SINH KHỐI
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐỘ SÂU NGẬP LÊN SINH KHỐI
RỪNG TRÀM (Melaleuca cajuputi) TRÊN ĐẤT THAN BÙN
VÀ ĐẤT PHÈN KHU VỰC U MINH HẠ TỈNH CÀ MAU
(Evaluation biomass and Effect of submergence depth on growth of
Melaleuca planting on peat soil and acid sulfate soil
in U Minh Ha area - Ca Mau province) Lê Minh Lộc

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG CẦN THƠ - 2005

CẦN THƠ – 2005

3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận án Lê Minh Lộc

Trưởng phòng kỹ thuật

4/2000-12/2002

Công Ty Dịch vụ kỹ thuật Lâm
Nghiệp Minh Hải
Đội phó Dội Điều tra
Thiết kế rừng
1/2003 - nay Trung tâm Nghiên cứu & Ứng
dụng Kỹ thuật rừng ngập Minh
Hải, Viện Khoa học Lâm nghiệp
Việt Nam.
Trưởng phòng Khoa
Học
TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1. Bồi dưỡng kiến thức trong và ngoài nước (từ sau ngày tốt nghiệp đại học)
- Hệ sinh thái rừng ngập mặn – chương trình MHO8 – Đại học Cần thơ từ
11-19/10/1996.
2. Các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài:
- Sinh khối rừng Đước (Rhizophora apiculata), 1998.

Tên đề tài: Phương pháp đánh giá nhanh sinh khối và Ảnh hưởng của độ sâu ngập
lên sinh khối rừng Tràm (Melaleuca cajuputi) trên đất than bùn và đất phèn khu vực
U Minh Hạ tỉnh Cà Mau.
Người hướng dẫn chính:

Ts. Võ Thị GươngNgười hướng dẫn phụ:

Tuy nhiên, Sau thời gian dài nỗ lực, đề tài đã được hoàn thành. Chúng tôi xin chân
thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệ
t tình của Ts. Võ Thị Gương PGs. Ts. Lê Quang Trí
đã động viên và chỉ dẫn tận tình trong quá trình thực hiện luận án. Cảm ơn Ban
Giám Đốc, các CB khoa học cùng các kỹ thuật viên Trung tâm Nghiên cứu và Ứng
dụng Kỹ thuật Rừng ngập Minh Hải đã tạo điều kiện hỗ trợ về thời gian, trang thiết
bị, tài liệu và nhân lực tham gia công tác ngoại nghiệp tại hiện trường. Cảm ơn tập
thể cán bộ, công nhân viên các Lâm Ng
ư Trường U Minh I, U Minh III, huyện U
Minh và Lâm Ngư Trường Trần Văn Thời huyện Trần Văn Thời và Khu Bảo Tồn
Thiên Nhiên Vồ Dơi tỉnh Cà Mau đã tạo điều kiện ăn, ở và làm việc trong suốt quá
trình thu thập số liệu ở hiện trường. Đồng thời chúng tôi cũng xin chân thành cảm
ơn sự hỗ trợ kinh phí đào tạo và nghiên cứu của Dự án CAULESS Đan Mạch trong
suốt thờ
i gian học tập và triển khai thực hiện đề tài. Chúng tôi cũng xin ghi nhận và
cảm tạ sự động viên, khuyến khích của Ts. Viên Ngọc Nam, ThS. Hồ Văn Phúc,
ThS. Nguyễn Vũ Khôi trong quá trình xây dựng đề cương và thực hiện đề tài.
Tuy nhiên, dù thời gian thực hiện đề tài không quá ngắn, nhưng do điều kiện thực
hiện có những khó khăn khách quan bởi nạn cháy rừng, địa bàn khảo sát tương đối
hẹp, nên kết quả
nghiên cứu của đề tài chắc chắn còn có những điểm chưa thật hoàn
chỉnh. Rất mong, nhận được sự chỉ dẫn của các thầy cô, sự đóng góp ý kiến của các
nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn chỉnh hơn.

Xin chân thành cảm ơn !
Cà Mau, ngày 2 tháng 05 năm 2005
Lê Minh Lộc

6
TÓM LƯỢC ĐỀ TÀI

Với a = 0.258 và b = 2.352
Sinh khối (tươi và khô) của thân, cành, lá của cây Tràm sinh trưởng trên đất than
bùn và đất phèn cũng có thể xác định nhanh ngoài thực địa thông qua mối liên hệ
của chúng với DBH
Trên cùng loại đất và tuổi rừng, sinh khối rừng Tràm có sự khác biệt rõ rệt theo độ
sâu ngập. Tổng sinh khối của rừng Tràm đạt lớn nhất ở độ ngập <30cm, và kém
nhất ở độ ngập > 60cm. Sự khác biệt về sinh khối khô cũ
ng có ý nghĩa giữa các độ
sâu ngập khác nhau. Ngoài ra, mật độ cây rừng ở độ sâu ngập cao luôn thấp hơn ở
độ ngập trung bình và thấp đã dẫn đến tổng sinh khối cũng thấp hơn.

7
So với đất phèn, mật độ cây rừng tuổi 5, 8 và 11 trên đất than bùn cũng thấp hơn.
Đường kính trung bình trong từng cấp tuổi rừng ở đất than bùn luôn lớn hơn trên
đất phèn nhưng chiều cao trung bình lại thấp hơn. Tổng sinh khối và năng suất sinh
khối khô ở rừng trên đất phèn cao hơn từ 1.3 đến 1.6 lần sinh khối trên đất than bùn.
ĐIều nầy có thể được giải thích bởi mật độ cây rừng
ở đất phèn cao hơn gấp đôi so
với mật độ cây trên đất than bùn

_________________________________________________________

Evaluation of biomass and effect of submergence depth on growth
of Melaleuca planting on peat soil and acid sulfate soil
in U Minh Ha area Ca Mau province
ABSTRACT
The objectives of the study are (i) to find a fast evaluation method to measure
Melaleuca forest biomass on the field based on measuring diameter at breast height
(DBH) of plant. (ii) clarify a number of sylviculture characteristics of five to eleven
years old Melaleuca forests and relation between the biomass of above - ground

different flood levels. In addition, the density of Melaleuca forest at high
submergence level was always lower than that at average and shallow levels which
resulted in reduced total biomass.
The density of Melaleuca forests at the ages of 5, 8 and 11 found on peat soil was
lower than that on acid sulphate soil. Average diameter of trees in Melaleuca forests
at the ages of 5, 8 and 11 on peat soil was larger than that on acid sulphate soil, but
their average height was lower. Total dry biomass and biomass products of forests
on acid sulphate soil were 1.3 – 1.6 higher than those on peat soil. This result can be
explained due to the density of Melaleuca forest on acid sulphate soil was about
twice as much as that on peat soil. 9
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lý lịch khoa học iii
Cảm tạ v
Tóm lược vi
Abstract viii
Danh sách ký hiệu, chữ viết tắt xiii
Danh sách bảng xiv
Danh sách hình xv

Chương 1:MỞ ĐẦU 1
Chương 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3
2.1. Lịch sử và nguồn gốc cây Tràm 3
2.2. Các đặc điểm sinh thái, phân bố, sinh trưởng và giá trị sử dụng
của loài tràm (Melaleuca cajuputi) 3

4.2.2. Rừng tràm trên đất phèn 37
4.2.3. Thảo luận chung về quan hệ giữa các bộ phận sinh khối 41
4.3. Xây dựng biểu sinh khối rừng Tràm 42
4.4. Ảnh hưởng của địa hình và đất đến sinh khối rừng Tràm ở Cà Mau 51
4.4.1. Ảnh hưởng của độ sâu ngập đến sinh khối rừng Tràm 51
4.4.2. Ảnh hưởng của đất đến sinh khối rừng Tràm 53
4.4.3. Thảo luậ
n về ảnh hưởng của độ sâu ngập và loại đất đến sinh khối Tràm 58
4.5. Một số đề xuất 59
4.5.1. Phương pháp xác định nhanh sinh khối rừng Tràm ở ngoài rừng. 59
4.5.2. Biện pháp nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng rừng Tràm
và giảm thấp sự phân hoá cấp sinh trưởng của cây Tràm. 60
Chương V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1. Kết luận 63
5.2. Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ
LỤC
Phụ lục 1: Kiểm định phân bố N - D
Phụ lục 2: Tương quan giữa sinh khối rừng Tràm với DBH trên đất than bùn
Phụ lục 3: Quan hệ giữa sinh khối cây Tràm với DBH trên đất Phèn
Phụ lục 4: Kiểm nghiệm sinh khối cây Tràm
Phụ lục 5: Kiểm định sự khác biệt về mật độ cây thheo độ sâu ngập
Phụ lục 6: Kiểm nghiệm sự khác biệt sinh khối thân khô giữa hai loại đất
Phụ lục 7: Số liệu sinh khối thực đo ngoài thực địa

11
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT


12
DANH SÁCH BẢNG
Bảng Tựa bảng Trang
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6

4.7

4.8

4.9

4.10


than bùn (n = 44)
Quan hệ giữa sinh khối rừng Tràm trên đất than bùn với đường kính
thân cây cả vỏ
Ma trận tương quan giữa các bộ phận sinh khối tươi của rừng Tràm
trên đất phèn (n = 52)
Ma trận tương quan giữa các bộ phận sinh khối khô của rừng Tràm
trên đất phèn (n = 52)
Quan hệ giữa sinh khối rừng Tràm trên đất phèn với đường kính thân
cây cả vỏ

Biểu sinh khối cây Tràm trên đất than bùn (tính theo các hàm
41 - 4.8)
Biểu sinh khối cây Tràm trên đất than bùn đã được hiệu chỉnh (tính
theo các hàm 4.1 - 4.8)
Biểu sinh khối cây Tràm trên đất phèn (tính theo các hàm 4.10 - 4.17)
Biểu sinh khối cây Tràm trên đất phèn đã được hiệu chỉnh (tính theo
các hàm 4.10 - 4.17)
Kiểm nghiệm sinh khối thân cây Tràm trên đất than bùn
Kiểm nghiệm sinh khối thân cây Tràm trên đất phèn
Năng suất gỗ thân phát triển trung bình/năm của rừng Tràm theo độ
sâu ngập
So sánh sinh khối của cây Tràm cùng cấp DBH trên loại đất khác nhau
ở Cà Mau (tính theo các hàm 4.1 – 4.8)
Sinh khố
i bình quân theo tuổi rừng trên 2 loại đất
Sự khác biệt giữa sinh khối rừng Tràm trên đất than bùn (I) và đất phèn
(II)
Năng suất sinh khối trung bình/năm của rừng Tràm trên đất phèn và
đất than bùn


56
57

57
13
DANH SÁCH HÌNH
Hình Tựa hình Trang
3.1
4.1

4.2

4.3

4.4

4.5

4.6

4.7a

4.7b

4.8a

4.8b

Sự thay đổi tỉ lệ sinh khối tươi (kg) các thành phần theo DBH(cm) trên
đất than bùn
Sự thay đổi sinh khối khô của cây Tràm (kg) theo DBH (cm) trên đất than
bùn ở Cà Mau
Sự thay đổi tỉ lệ sinh khối khô (kg) các thành phần theo DBH (cm) trên
đất than bùn
Sự thay đổi sinh khối tươi của cây Tràm (kg) theo DBH(cm) trên đất phèn
Sự thay đổi tỉ lệ sinh khối tươi (kg) các thành phần theo DBH(cm) trên
đất phèn
Sự thay đổi sinh khối khô của cây Tràm (kg) theo DBH(cm) trên đất phèn
Sự thay đổ
i tỉ lệ sinh khối khô (kg) các thành phần theo DBH (cm) trên
đất phèn
Biến động sinh khối khô của rừng Tràm trên đất than bùn theo tuổi và độ
ngập
Biến động sinh khối khô của rừng Tràm trên đất phèn theo tuổi và độ
ngập
Sinh khối (tươi và khô) của cây Tràm mọc trên đất than bùn và đất phèn
Sinh khối khô của rừng Tràm trên đất than bùn và đất phèn
14
35

36

36

39

40


Sim (MYRTACEAE). Là loài cây gỗ nhỏ, thường xanh, có phạm vi phân bố rộng
trên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Thường được tìm thấy ở những vùng đất nghèo
dinh dưỡng và ẫm ướt. Ở Đồng bằng sông Cửu Long, rừng tràm phát triển mạnh ở
các vùng đất phèn ngập nước không hoặc ít bị nhiễm mặn.
Tỉnh Cà Mau là một trong những địa phương có diện tích rừng tràm tậ
p trung khá
lớn, phân bố chủ yếu ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời, Thới Bình trên hai nhóm
đất phèn điển hình là đất phèn than bùn và đất phèn không có lớp than bùn.
Lợi ích của rừng tràm đã được biết đến trong việc phòng hộ chắn gió bão, là nơi cư
trú của rất nhiều loài động vật hoang dã nhất là các loài bò sát, cá, các loài chim …
Những sản phẩm kinh tế từ rừng tràm cũng rất đa dạng: Tinh dầu tràm, mật ong,
được sử
dụng trong chế biến dược phẩm, gỗ tràm được sử dụng phổ biến trong việc
gia cố nền móng các công trình xây dựng, làm chất đốt… Đặc biệt, trên các khu vực
giao đất giao rừng trên địa bàn U Minh tỉnh Cà Mau cùng một số địa phương ở
đồng bằng sông Cửu Long, tràm được xem là loài cây chủ lực trong việc phát triển
kinh tế nông hộ.
Trong những năm gần đây để tăng cường hiệu quả và
đẩy mạnh công tác bảo vệ và
phòng chống cháy rừng tràm, việc đắp các đập giữ nước trong mùa khô và hoàn
thiện dần hệ thống kênh mương nội đồng trong khu vực rừng U Minh đã đem lại kết
quả khả quan, tình trạng cháy rừng được từng bước ngăn chặn. Tuy nhiên, bên cạnh
những ưu điểm do việc giữ nước mang lai, một số yếu tố bất lợi đã phát sinh nh
ư đã
có một số diện tích rừng Tràm bị chết đồng loạt (1998) mà không rõ nguyên nhân
cụ thể, chủ yếu là trên các vùng đất bị ngập quanh năm (do việc quản lý nước phòng
chống cháy rừng). Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của độ sâu ngập với các chế
độ ngập nước khác nhau (độ ngập thấp, ngập thường xuyên; độ ngập cao, không/ít
ngập và độ ngập trung bình, ngập theo mùa) đến sinh trưở
ng và phát triển của rừng

rừng Tràm
ở ngoài thực địa và biện pháp cải thiện rừng Tràm nhằm nâng cao
năng suất rừng Tràm.
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, những nội dung chính sau đây đã được thực
hiện:
(1) Nghiên cứu đặc trưng lâm học của rừng Tràm 5 - 8 - 11 tuổi
(2)
Nghiên cứu quan hệ giữa các bộ phận sinh khối của cây Tràm và giữa chúng
với đường kính thân cây cả vỏ tại vị trí ngang ngực (DBH)

(3) Xây dựng biểu sinh khối rừng Tràm
(4) Nghiên cứu ảnh hưởng của độ sâu ngập và đất đến sinh khối rừng Tràm

Chương II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

16
2.1. Lịch sử và nguồn gốc cây Tràm
Vào giữa thế kỹ XVIII (1744 – 1755), cây Tràm được nói đến lần đầu tiên trong tác phẩm
“HEBARIUM AMBOINENSE” của Georges Everhard Rumph. Năm 1754, cây Tràm có
tên là Myrtus leucadendra L. in Stickman và đến năm 1767, Linné đặt ra chi Melaleuca với
một loài duy nhất là Melaleuca leucadendron L. Đến năm 1790. cây Tràm được tìm thấy ở
Việt Nam bởi ông Jean Loureiro (Lâm Bỉnh Lợi và Nguyễn Văn Thôn, 1972)
Về mặt phân loại học, trong hầu hết các tài liệu khoa học xuất bản ở nước ta trước
năm 1993 đều định danh khoa học cây Tràm mọc tự nhiên ở ta là Melaleuca

4mm, khai thành 3 lỗ trên 3 buồng, có nhiều hạt tròn hay nhọn dài 1mm, tử diệp
dày. Trổ hoa vào tháng 5, kết trái vào tháng 11.

17
Về kích thước, theo tài liệu “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của Viện Sinh
Thái và tài nguyên sinh vật thuộc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc
Gia, Nhà xuất bản Nông Nghiệp năm 2003 thì Tràm là loài cây gỗ nhỏ, cao khoảng
10m; nhưng theo Lâm Bỉnh Lợi & Nguyễn Văn Thôn (1972) cây Tràm cao đến 20 –
25m, đường kính đến 60cm và theo Hoàng Chương (2004) thì đại đa số các loài
Tràm là các cây bụi hoặc cây nhỏ, cây trưởng thành chỉ cao từ 1 – 2m đến không
quá 20m; chỉ riêng nhóm loài Melaleuca leucadendron trong đó có loài Tràm (M.
cajuputi) và Tràm lá dài (M. leucadendra) là những loài mà cây tr
ưởng thành có
kích cỡ lớn, có thể cao được tới 30m hoặc

hơn.

Về mặt phân loại học, căn cứ vào hình thái vỏ thân cây người ta chia các loài Tràm
thành nhiều nhóm, trong đó quan trọng hơn cả là nhóm loài có vỏ dầy gồm nhiều
lớp xốp xếp trồng lên nhau giống như xấp giấy mà cây Tràm ở Viêt Nam là một
điển hình của nhóm này. Nhóm này có một đặc điểm sinh thái khá đặc biệt, khác
với các nhóm Tràm khác, đó là hầu hết các loài thuộc nhóm này thường gặp trên lập
địa đất tốt, ẩm mọ
c trong loại rừng thưa hỗn loại với các loài cây khác mà thường là
với các loài Bạch đàn như Bạch đàn vỏ trắng (Eucalyptus alba), Bạch đàn têrê
(E. tereticornis)... Chỉ ở các lập địa đầm lầy nước ngập theo mùa các loài Tràm này
mới mọc thuần loại.
Cũng theo Hoàng Chương (2004), Melaleuca cajuputi là loài Tràm bản địa duy nhất của
nước ta và là loài có vùng phân bố tự nhiên rộng nhất của chi Tràm. Theo các tài liệu khoa
học mới được công bố gần đây thì loài Tràm có thể gặp trên nhiều loại đất khác nhau ở vùng

trên các bãi đất trũng quanh các hồ nước nằm xen giữa những quả đồi đất thấp.
Cách vùng phân bố cực Bắc hơn 3
o
vĩ về phía Nam mãi tận Nghệ An mới lại gặp
Tràm mọc tự nhiên và kể từ đây suốt dọc miền duyên hải Trung Trung bộ kéo dài
tới tận Cà Mau qua Kiên Giang và An Giang đều gặp cây hoặc mọc rải rác hoặc
thành những quần thụ nhỏ hoặc trung bình trên nhiều loại đất khác nhau (Hoàng
Chương, 2004).
2.2.2.2. Sinh Thái học
Trên quan điểm hệ sinh thái, Thái Văn Trừng (1999) đã đề nghị gọi tên hệ sinh thái
rừng tràm là “Hệ sinh thái rừng úng phèn” tuy cây Tràm là loài cây phổ biến của hệ
sinh thái nầy và đã mọc thành những quần hợp thuần loại, bởi rừng Tràm không
phải là rừng “đỉnh cực” trong hệ sinh thái và cũng không phải là rừng nguyên sinh
(Phùng Trung Ngân, 1986 trong Thái Văn Trừng, 1999). Whitmore T.C. (1975)
trong Thái Văn Trừng (1999) cũng cho rừng Tràm là một quần hợp thứ sinh, do tác
nhân lửa r
ừng đã tiêu diệt những cây con hỗn hợp nhiều loài.
Theo Lâm Bỉnh Lợi & Nguyễn Văn Thôn (1972) cây Tràm sinh trưởng mạnh thành
quần thụ đơn thuần, tái sinh tự nhiên mạnh và lan tràn nhanh chóng trên đất phèn có
độ pH trên dưới 4. Là loài cây ưa sáng, tán tương đối thưa, tăng trưởng nhanh trong
10 năm đầu và kết trái vào khoảng 5 – 7 tuổi.
Về mặt thủy chế, theo Phùng Trung Ngân (1986) trong Thái Văn Trừng (1999) thì
trong hệ sinh thái rừng úng phèn, Tràm là loài cây thích nghi nhất, từ lúc hạt nẩy
mầm thành cây mạ
đã có thể sinh trưởng trong nước ngập phèn, nhưng không có
năng suất cao.
2.2.2.3. Địa chất thổ nhưỡng
Lịch sử địa chất của hệ sinh thái rừng úng phèn trên Đồng Tháp Mười, Tứ giác
Long Xuyên và U Minh Cà Mau có liên quan mật thiết với lịch sử thành tạo Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Theo Hồ Chín và Võ Đình Ngô (1985) trong Thái Văn

ưu thế của Tràm giãm đi rõ rệt
với sự xuất hiện của các loại thảo mộc khác như: Dây choại (Stenochloena palustris), Dớn
(Polybotrya appendiculata), Mốp (Alstonia spathulata) vv… Đồng thời, trên loại đất nầy
cũng hàm chứa nhiều yếu tố bất lợi đến sinh trưởng của rừng Tràm: (1) Hệ rễ của cây
Tràm không hợp với loại đất nầy và dễ bị đổ ngã d
ưới tác dụng ngoại lực (gió…) sinh
trưởng trên vùng đất nầy cây Tràm không có được 1 hình dáng cân đối và do đó ít có giá
trị; (2) Đất mùn thường chứa nhiều sâu bọ, mầm bện và cây ký sinh và (3) Các loài Dương
xỉ, Dớn, Choại phát triển nhanh trên đất mùn sẽ bao phủ mặt đất và làm cây Tràm con bị
“chết ngạt” (Lâm Bỉnh Lợi & Nguyễn Văn Thôn, 1972).
Với Rừng tràm trên đất phèn, theo Whitmore TC (1975) thì cây Tràm đã phát triển ở phía
Nam và Đông Nam Indonesia, ở Thái Lan, Malaisia và cũng mọc thành rừng thuầ
n loại
trong vùng ngập nước ngọt, chứ không thấy nói đến rừng mọc trong môi trường úng ngập
nước phèn như ở Việt Nam và nhận định Tràm là loài cây mọc dưới tán của một kiểu rừng
hỗn giao nhiều loài. Do lửa rừng hằng năm tiêu diệt các loài cây khác mà Tràm trở thành
thuần loại do có lớp vỏ cấu tạo đặc biệt chịu được lửa. Khi lớp than bùn bị cháy và sau
cùng hoàn toàn bị huỷ diệt sẽ
để lộ ra lớp đất sét ở bên dưới. Tuỳ đặc tính của lớp đất này,

20
rừng Tràm-Dớn-Choại trên đất than bùn đã chuyển thành rừng Tràm-Sậy hoặc Tràm-Sậy-
Năng trên đất sét, với cây tràm ở tầng trên, cao khoảng 10-15m thân thẳng đứng, tán lá
hình tháp và ở bên dưới là sậy cao từ 1 đến 2m nơi đất phèn nhẹ, sậy năng nơi đất phèn
nhiều (Võ Nguơn Thảo, 2004). Trên loại đất nầy Tràm sinh trưởng thuận lợi hơn, thân cây
thẳng, ít cành nhánh do mật độ cao hơ
n vì ít cạnh tranh với các loài cây khác. Mặt khác,
Tràm thường thích đất sét, có phèn và ẫm ướt (Lâm Bỉnh Lợi & Nguyễn Văn Thôn, 1972)
2.2.4. Công dụng
2.2.4.1. Gỗ


21
Số liệu trích lượng dầu trong lá Tràm ở Đức Hòa Long An năm 1961 – 1962 được ghi
nhận như sau:

Tháng/Năm Lá già (g tinh dầu/kg lá) Lá non (g tinh dầu/kg lá)
3/1961
4/1961
5/1961
6/1961
7/1961
8/1961
9/1961
10/1961
11/1961
12/1961
01/1962
02/1962
7.70
7.00
4.87
4.20
7.30
7.60
9.54
9.50
5.00
7.80
4.20
2.9

ng quy mô sử dụng gỗ cũng đòi hỏi phải hoàn thiện các
phương pháp tính sinh khối các bộ phận của cây rừng. Nếu phương pháp điều tra gỗ thân
cây đã được nghiên cứu một cách chi tiết thì phương pháp điều tra các thành phần cành, lá,
hoa, quả và hệ rễ cây còn chưa được nghiên cứu chi tiết.
Trên thế giới đã có rất nhiều tác giả xây dựng phương pháp nghiên cứu sinh khối
của rừng (A.A. Molchanov, 1971; B. B. Xmirnov, 1971; A. I. Utkin, 1975; et al.,

22
theo Yxpenxkii B.B, 1983 trong Nguyễn Văn Thêm, 2002
)
. Mặc dù vậy, theo N. P.
Anuchin (1978), phương pháp nghiên cứu sinh khối cây rừng vẫn còn là một trong
những nhiệm vụ mới của điều tra rừng. I. X. Melekhov (1978) trong Nguyễn Văn
Thêm (2002) đã đưa ra khái niệm “năng suất tổng hợp của rừng” - đó là năng suất
toàn bộ các thành phần của rừng, kể cả những bộ phận rất khó xác định như hàm
lượng O
2
thải ra không khí và ý nghĩa sinh thái của rừng. Nhiều nhà lâm học cũng
nhấn mạnh cần phải xây dựng biểu sinh khối (tươi và khô) của cây cá thể và toàn bộ
quần thụ tùy theo tuổi và lập địa.
Lê Hồng Phúc (1996) đã mô tả quá trình biến đổi sinh khối Thông ba lá ở khu vực
Đà Lạt trên hai cấp đất II và III bằng hàm Schumacher có dạng:
Pt = a*Exp(-b/A
-c
)
Trong đó Pt = sinh khối, A = tuổi rừng, a = sinh khối lớn nhất ở tuổi
thành thục, c = tham số lấy giá trị từ 0.2 - 2.0.
Khi lập biểu sinh khối cho cây cá thể và lâm phần Thông ba lá, Lê Hồng Phúc
(1996) đã sử dụng mối quan hệ đa tuyến tính giữa tổng sinh khối (P(kg)) với đường
kính thân cây (D(cm)) và chiều cao thân cây (H(m)) theo dạng

tấn/ha).
Wang et al (1991) trong Lê Hồng Phúc (1997) đã nghiên cứu năng suất sinh khối
của Eucalyptus robusta, Casuarina equisetifolia, Albizia procera, Leucaena
leucocephala. Kết quả cho thấy, ở tuổi 5.5 năm, C. equisetifolia cho năng suất cao
nhất (tổng sinh khối trên mặt đất là 199 tấn/ha), kế đến là A. procera – 124 tấn/ha
và E. robusta – 67 t
ấn/ha, thấp nhất là L. leucocephala – 47 tấn/ha.
Năng suất rừng phụ thuộc chặt chẽ vào mật độ. Nói chung, mật độ cao cho năng
suất cao hơn mật độ thưa. Nguyên nhân là vì: (1) diện tích lá và rễ đạt cao nhất ở
tuổi sớm hơn, (2) giảm cạnh tranh với cây bụi và cỏ dại, (3) rừng khép tán sớm cả
theo chiều đứng và ngang. Khi nghiên cứu về tăng trưởng của rừng E. tereticornic

tại Ấn Độ, Adlard (1992) trong Lê Hồng Phúc (1997) nhận thấy, khi mật độ rừng
thay đổi từ 375 đến 30.000 cây/ha (0.3 - 27 m
2
/cây), tăng trưởng hàng năm đạt lớn
nhất ở tuổi 4 (10 - 12 m
3
/ha/năm) ứng với mật độ 2500 – 3000 cây/ha.
Cần nhận thấy rằng, tăng trưởng lớn nhất có thể xuất hiện ở mật độ cao, nhưng rừng
cho kích thước cá thể nhỏ. Mật độ thấp thường tạo ra những cây có kích thước thân
lớn hơn 3 lần so với rừng có mật độ cao tạo ra trữ lượng lớn nhất trên một hécta.
Không gian tối ưu của một cây trong qu
ần thụ phụ thuộc vào năng suất trên một
hécta và có ảnh hưởng đến sản lượng rừng.
Nhiều nghiên cứu cho thấy, ảnh hưởng của mật độ đến năng suất và lượng vật rụng
dưới rừng biểu hiện rất phức tạp. Qua nghiên cứu 10 cấp mật độ của rừng Tếch
(Tectona grandit), Ola – Adams và Egunjobi (1992) trong Nguyễn Văn Thêm
(2002) nhận thấy rằng, nă
ng suất và lượng vật rụng trên sàn rừng không có sự khác

FW: Trọng lượng tươi; DBH: Đường kính thân cây ở vị trí ngang ngực
Các tác giả trên đã cho rằng phương trình nầy sử dụng tốt cho cả 2 loài Tràm
Melaleuca cajaputi và Melaleuca viridiflora, với sinh khối được tính bằng trọng
lượng tươi.
Viên Ngọc Nam (1996) trong báo cáo nghiên cứu sinh khối và năng suất sơ cấp của
rừng Đước (Rhizophora apiculata) tại Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng
phương trình tương quan giữa sinh khối các thành phần trên mặt đất với chu vi thân
cây tại v
ị trí ngang ngực (GBH) có dạng:
Log W = a + b log GBH
Với W là giá trị sinh khối của các đối tượng (Tổng, thân, cành, lá, rễ, …), a
và b lấy các giá trị khác nhau tùy theo đối tượng.
Việc chọn GBH làm biến độc lập trong phương trình có nhiều ý nghĩa thực tiển, bởi
đây là chỉ tiêu rất dễ đo với độ chính xác cao ở thực địa.
Phương trình tương quan nầy cũng đã được Đặng Trung Tấn và cộng sự (1999) sử
dụng để tính sinh khối các thành phần trên mặt đất của rừng Đước tại Cà Mau, trong
đó biến độc lập GBH được thay bằng chỉ tiêu
đường kính ngang ngực (DBH).
Phương trình có dạng:
Log sinh khối = a + b log DBH

Trích đoạn Thảo luận chung về các đặc trưng lâm học của rừng Tràm Thảo luận chung về quan hệ giữa các bộ phận sinh khối Phương pháp xác định nhanh sinh khối rừng Trà mở ngoài rừng Biện pháp nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng rừng Tràm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status