TÍN DỤNG VÀ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
I.TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1.Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa một bên là: Ngân hàng (người
cho vay) và một bên là đối tượng đi vay (người dân, các thành phần
trong nền kinh tế…) trên nguyên tắc hoàn trả. Khi đáo hạn, khách hàng
thanh toán cho ngân hàng cả gốc và lãi thì quan hệ tín dụng là thành
công. Tuy nhiên, đối với một khoản vay, trong quá trình thực hiện, ngân
hàng luôn phải trích lập một khoản dự phòng rủi ro khi có tín hiệu rủi ro
từ phía đối tượng đi vay.
2.Những nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại
2.1. Huy động vốn
Đây là nghiệp vụ cơ bản đầu tiên của NHTM mà qua các nghiệp vụ
này thì các nghiệp vụ khác của NHTM mới có khả năng thực hiện được.
NHTM có thể huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội bằng cách nhận tiền
gửi của các cá nhân và các tổ chức kinh tế qua các hình thức như tiền
gửi có kì hạn, tiền gửi không kì hạn, tiền gửi tiết kiệm. Ngoài ra khi cần
thêm vốn, ngân hàng có thể huy động vốn bằng cách phát hành các
chứng chỉ tiền gửi, các trái phiếu ngân hàng hay vay vốn của ngân hàng
nhà nước hay các tổ chức tín dụng khác.
Tuy nhiên, ngân hàng phải thu hút vốn tự có. Vốn tự có được coi là
nền tảng cơ bản để chống đỡ các rủi ro trong kinh doanh. Tỷ trọng giữa
vốn huy động và vốn tự có được quy định cụ thể trong luật ngân hàng
mỗi nước, ở Việt Nam các ngân hàng thương mại không được phép huy
động vốn quá 20 lần vốn tự có.
2.2. Tín dụng và đầu tư
NHTM dùng vốn huy động để cho vay từ đó thu lợi nhuận trên cơ
sở chênh lệch lãi suất giữa vốn huy động và vốn cho vay. Thực hiện
nghiệp vụ này, các NHTM đã thực hiện chức năng kinh doanh của mình
nhưng đồng thời cũng đóng góp lợi ích cho xã hội như mở rộng vốn đầu
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế để thực hiện tái sản
xuất mở rộng, ứng dụng công nghệ, kĩ thuật tiên tiến hiện đại, nâng cao
năng suất và hiệu quả kinh tế tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa tiêu dùng
nội địa và xuất khẩu. Ngân hàng với chức năng tiêu dùng vốn, tập trung
nguồn vốn từ trong và ngoài nước đã phần nào đáp ứng nhu cầu về vốn
cho nền kinh tế.
Thứ ba: Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ cho các dự án tạo
công ăn việc làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
và các mục tiêu xã hội khác.
Muốn nâng dần thu nhập bình quân đầu người, giải quyết việc làm
thì không chỉ dựa vào ngân sách nhà nước hoặc trông chờ vào các
khoản vay nước ngoài. Tín dụng ngân hàng thực sự giữ vai trò trong
việc đầu tư cho các dự án có ý nghĩa kinh tế xã hội để giải quyết những
vấn đề như vậy.
Thứ tư: Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn
sản xuất mở rộng quá trình phân công lao động xã hội và hợp tác kinh
tế trong nước và quốc tế.Các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và uy tín
được ngân hàng tập trung đầu tư vốn tạo đà mở rộng quy mô sản xuất
và thị trường tiêu thụ.
Thứ năm: Thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng, nhà nước có
thể kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế để
đề ra các biện pháp chính sách quản lý kinh tế và pháp lý phù hợp. Nhà
nước có thể điều chỉnh cơ cấu kinh tế và hoạt động của các thành phần
kinh tế thông qua các chính sách ưu đãi về lãi suất và các điều kiện cho
vay cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất theo mục tiêu định hướng
kinh tế của nhà nước.
II.RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NHTM
1. Khái niệm rủi ro
Nhiều nhà kinh tế học đã định nghĩa rủi ro theo nhiều cách khác
nhau.