NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẺ TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. THẺ TÍN DỤNG - SẢN PHẨM ĐA TIỆN ÍCH CỦA NGÂN HÀNG
1.Lịch sử hình thành
Một trong những phát minh quan trọng nhất của con người có tính chất đột
phá, đẩy nền văn minh nhân loại tiến một bước dài là sự phát minh tiền tệ. Tiền tệ
ra đời không ngừng được nghiên cứu hoàn thiện nhằm vào hai mục tiêu chính: sự
tiện lợi và an toàn. Qua nhiều hình thái phát triển, ngày nay tiền tệ đã đạt đỉnh cao
chất lượng: tiền điện tử- một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt tiên tiến
và hiện đại. Thẻ tín dụng là một dạng của loại tiền điện tử không dùng tiền mặt đó.
Thẻ tín dụng ra đời không những đạt được hai mục tiêu nói trên mà còn thể hiện
tính văn minh, hiện đại của thời kỳ hiện đại hoá và toàn cầu hoá.
Thẻ tín dụng ra đời xuất phát từ một trường hợp ngẫu nhiên. Năm 1949
trong một bữa ăn tối tại một nhà hàng, doanh nhân người Mỹ Frank Mc Namarac
chợt nhận ra rằng mình không mang theo tiền để thanh toán, ông đành gọi điện về
nhà nhắn người mang tiền đến giúp. Chính trong tình huống đó ông chợt nảy ra ý
tưởng về một loại phương tiện thanh toán thay thế cho tiền mặt có thể sử dụng ở
mọi nơi. Thẻ tín dụng đầu tiên ra đời với tên gọi Dinner Club và sau đó nó được
người Mỹ sử dụng trả tiền ăn tại 27 nhà hàng trong hoặc ven thành phố New York.
Xuất phát từ một ý tưởng, nhưng những tiện ích mà thẻ tín dụng mang lại đã nhanh
chóng chinh phục được khách hàng. Một thị trường to lớn đầy hứa hẹn mở ra đối
với các dịch vụ thẻ. Cuộc cách mạng về thẻ diễn ra sau đó đã nhanh chóng đưa thẻ
tín dụng trở thành một công cụ thanh toán phổ biến toàn cầu.
Trên phương diện khách hàng, chủ sở hữu thẻ được hưởng không ít tiện ích,
thẻ mang đến cho họ sự tiện lợi (gọn nhẹ, nhanh chóng đi liền với văn minh không
phân biệt giá) có thể thanh toán xuyên quốc gia. Thẻ tín dụng có thể sử dụng như
tiền nhưng lại thuận tiện hơn tiền. Ngày nay sử dụng thẻ tín dụng đồng nghĩa với
việc sử dụng một công cụ có tính chất an toàn cao vượt bậc so với tiền mặt. Chính
vì vậy khách hàng sẵn sàng trả một mức phí cao khi sử dụng thẻ. Trước sự hứa hẹn
về lợi nhuận tiềm năng, phạm vi hoạt động toàn cầu hoá thẻ tín dụng buộc các
ngân hàng, các hãng xe hơi, bảo hiểm liên kết với các ngân hàng phát hành thẻ làm
làm giả. Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin đặc biệt là kỹ
thuật mã hoá từ tính, gần đây là việc sử dụng vi mạch điện tử, thẻ thông
minh”Smart Card” dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học gắn vào thẻ một chip điện tử
có cấu trúc giống một máy tính hoàn hảo.
Các loại thẻ tín dụng đều có cấu tạo giống nhau, đều làm bằng nhựa
cứng(plastic) kích cỡ 96mmx54mmx0,76 có góc tròn hai mặt.Trên mặt trước của
thẻ có: huy hiệu của tổ chức phát hành, biểu tượng logo- đó là yếu tố cho biết tổ
chức phát hành, đây là yếu tố khó giả mạo. Mặc khác trên đó còn có các thông số
khác như số thẻ, họ tên chủ thẻ(tuỳ theo thẻ phát hành cho cá nhân hay cho công
ty), số mật mã đợt phát hành và một số đặc điểm riêng của từng loại. Mặt sau có
dãy băng từ có khả năng lưu trữ thông tin: số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ,
BIN(mã số chỉ tên ngân hàng phát hành), PIN(mã số bí mật cá nhân chủ thẻ) và
băng chữ ký để đối chiếu chữ ký chủ thẻ.
2.3/ Nội dung kinh tế
Về mặt kinh tế, đối với khách hàng thẻ tín dụng là một dịch vụ được ngân
hàng cung cấp. Với ngân hàng, nó là loại hình tín dụng đặc biệt - tín dụng để phục
vụ mục đích thanh toán tiêu dùng. Khi khách hàng sử dụng thẻ tín dụng để mua
hàng hoá dịch vụ là họ đang sử dụng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt
qua ngân hàng. Đồng thời đây cũng là quá trình ngân hàng cho khách hàng vay
tiền trên tài khoản tín dụng. Số dư phát sinh sẽ được ghi vào bên nợ tài khoản tín
dụng của khách hàng, hàm ý về một khoản vay. Khách hàng phải tiến hành thanh
toán theo sao kê khi đáo hạn. Tài khoản thẻ tín dụng giống như một tài khoản tín
dụng tuần hoàn, chỉ cần khách hàng tuân thủ các qui định về thanh toán và chi tiêu
như hợp đồng sử dụng thì anh ta luôn có quyền sử dụng thẻ, hay nói cách khác là
vay ngân hàng trong phạm vi hạn mức.
Thẻ tín dụng khác với bất kỳ hình thức tín dụng truyền thống nào trước đó.
Trên thực tế nó là một sản phẩm kết hợp của tín dụng và thanh toán. Trong các hợp
đồng tín dụng truyền thống, khi ngân hàng đồng ý cho khách hàng vay là đồng ý
với việc trực tiếp giao cho khách hàng quyền sử dụng một lượng vốn nhất định.
Còn khi ngân hàng cấp cho khách hàng một thẻ tín dụng, chưa hề có lượng tiền
♦ Theo chủ thể xin phát hành:
+ Thẻ tín dụng cá nhân do công ty uỷ quyền sử dụng: được phát hành cho
các cá nhân thuộc tổ chức công ty, công ty đứng tên xin phát hành thẻ, uỷ quyền
cho cá nhân đó sử dụng thẻ.
+Thẻ tín dụng cá nhân: được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp
ứng đủ các điều kiện phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản
chi tiêu thẻ bằng nguồn tiền của bản thân mình. Thẻ cá nhân có hai loại thẻ chính
và thẻ phụ.
- Thẻ chính: do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử
dụng và cá nhân đó là chủ thẻ.
- Thẻ phụ: chủ thẻ chính có thể đứng tên xin phát hành thẻ phụ cho người
khác sử dụng(chủ thẻ phụ) và chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ các
khoản chi tiêu của chủ thẻ phụ.
♦ Theo hạn mức:
+Thẻ tín dụng vàng(Gold card): phục vụ cho thị trường cao cấp, loại thẻ ưu
hạng phù hợp với mức sống nhu cầu tài chính của khách hàng có thu nhập cao. Thẻ
được phát hành cho các đối tượng có uy tín, trình độ phát triển, điểm chung có hạn
mức tín dụng cao hơn thẻ thường.
+Thẻ tín dụng thường(Standard card): loại thẻ này căn bản mang tính phổ
thông đại chúng được hơn 14 triệu người trên thế giới sử dụng mỗi ngày.
3. Các tiện ích của thẻ tín dụng
3.1/ Đối với khách hàng:
Thẻ tín dụng là sự kết hợp hoàn hảo của cơ chế thanh toán và cho vay chính
vì thế nó mang lại cho khách hàng lợi ích kết hợp của cả hai dịch vụ ngân hàng
này.
♦ Sự thuận tiện và linh hoạt trong thanh toán trong nước và ngoài nước :
Với tư cách là một phương tiện thanh toán, thẻ tín dụng cho phép chủ thẻ
mua hàng hoá dịch vụ thông qua mạng lưới rộng rãi các đại lý chấp nhận thẻ, các
ngân hàng thanh toán trong và ngoài nước hay rút tiền mặt khi cần thiết tại các máy
rút tiền tự động khắp nơi. Điều bất lợi chính của việc sử dụng thẻ tín dụng là nó
vì vậy chống việc làm giả và ngăn chặn người khác sử dụng thẻ. Bên cạnh đó thẻ
được sản xuất chế tạo dựa trên công nghệ cao, kỹ thuật hết sức tinh vi hiện đại như
mã hoá thông số từ tính hoặc kỹ thuật vi mạch điện tử. Đặc biệt từ khi thẻ thông
minh được tung ra thị trường, độ an toàn của thẻ được nâng lên rất nhiều. Việc so
sánh chữ ký mẫu trên thẻ với chữ ký chủ thẻ khách hàng với các thông tin được mã
hoá trên thẻ tạo nên một bức tường vững chắc trước nguy cơ bị người khác lạm
dụng. Có thể nói đây là một công cụ an toàn hoàn hảo. Khi mất thẻ hay lộ số PIN
chủ thẻ thông báo cho ngân hàng phát hành biết để phong toả tài khoản.
♦ Gọn nhẹ nhanh chóng và hiệu quả
Với kích thước gọn nhẹ của thẻ, chủ thẻ có thể dễ dàng mang theo người, tạo
cảm giác thoải mái khi đi mua sắm thậm chí với khối lượng trả lớn. Khi mua sắm
hàng hoá dịch vụ, khách hàng chỉ cần xuất trình thẻ, ký vào hoá đơn thanh toán thì
coi như việc mua bán đã được hoàn tất, khách hàng chỉ nhận hoá đơn hay sử dụng
dịch vụ đã mua. Với việc sử dụng thẻ một cách gián tiếp khách hàng đã tiết kiệm
được các chi phí vận chuyển tiền và chi phí kiểm đếm, với số tiền chưa dùng đến
khách hàng còn được hưởng lãi thay vì cất giữ bên mình. Ngoài ra khách hàng có
thể thực hiện bất cứ một giao dịch nào bằng ngoại tệ trên thế giới nhưng chỉ phải
thanh toán cho ngân hàng phát hành bằng đồng bản tệ.
♦ Mang đến cho khách hàng sự văn minh :
Thanh toán bằng thẻ tạo thêm vẻ văn minh lịch sự, sang trọng cho khách
hàng khi thanh toán. Thẻ tín dụng dường như trở thành một thứ mốt, một phong
cách sống. Điều này có thể là không mấy ý nghĩa với những người thực sự am hiểu
về kinh tế nhưng đối với cộng đồng khách hàng, nó lại là một sức mạnh tâm lý
không phải nhỏ. Mặt khác giúp khách hàng tiếp cận phương thức mua hàng gián
tiếp hiện nay như đặt hàng qua thư hay điện thoại, mua hàng qua mạng. Tuy nó chỉ
có ý nghĩa thiết thực như một yếu tố tâm lý giúp ngân hàng phát triển thị trường
nhưng với khách hàng cũng có thể coi đây là một tiện ích
Đặc biệt đối với thẻ tín dụng công ty ngoài tiện ích trên nó còn giúp cho các
công ty giảm các khoản tạm ứng công tác phí, giúp cho công ty quản lý kiểm soát
hiệu quả chi tiêu của nhân viên, thậm chí công ty còn được cấp ngay một nguồn
Trong nền kinh tế thị trường, được hưởng ưu đãi trong vay vốn ngân hàng một
khoản lợi lớn đối với các đơn vị kinh doanh. Bên cạnh đó, hàng năm các hiệp hội
du lịch quốc tế có xuất bản những ấn phẩm giới thiệu địa chỉ cung ứng hàng hoá
dịch vụ đáng lưu ý điều đó sẽ giúp cho các đơn vị này quảng bá cho hoạt động của
mình.
Tuy nhiên, một rào cản lớn trong việc mở rộng mạng lưới cơ sở chấp nhận
thẻ là mức phí mà ngân hàng đặt ra cho các cơ sở này, đặc biệt là ở những nước mà
thẻ tín dụng còn là một phương tiện thanh toán mới mẻ như Việt Nam.
3.3/ Đối với hoạt động của ngân hàng
Sự phát triển bùng nổ của thẻ tín dụng trong thời gian ngắn như vậy có thể
lý giải bằng hai nguyên nhân. Trước hết là lợi ích mà nó mang lại cho khách hàng,
thứ nữa là lợi nhuận mà nó đem lại cho ngành ngân hàng. Không chỉ vậy, thẻ tín
dụng có tác động đến nhiều hoạt động quan trọng khác của ngân hàng.
♦ Một dịch vụ chiếm ưu thế và tác động đến lợi nhuận của ngân hàng .
Kết hợp các đặc tính của tín dụng và thanh toán, một cơ chế vay trả tuần
hoàn, mạng lưới các điểm tiếp nhận thẻ rộng rãi, tất cả những điều đó làm nên sức
mạnh vượt trội của thẻ tín dụng. So với những hình thức thanh toán khác như sec,
uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu hoặc L/C... thẻ tín dụng ưu việt hơn ở chỗ nó gắn tín
dụng với thanh toán như một qui trình khép kín. Vì vậy ngay sau khi xuất hiện, thẻ
tín dụng nhanh chóng chiếm vị trí độc tôn trong số các dịch vụ của ngân hàng phục
vụ chi tiêu các nhân. Nó được coi là phương cách số một để tiếp cận đến thị trường
ngân hàng bán lẻ.
Không được xem là một phương thức phát triển dư nợ tín dụng, tuy nhiên
các khoản của khách hàng khi mua hàng hoá dịch vụ tại các điểm tiếp nhận thẻ vẫn
mặc nhiên là các khoản vay ngân hàng. Dạng tín dụng thẻ là một loại tín dụng
không có thời hạn rõ ràng với số dư có tính tuần hoàn. Do thẻ tín dụng có thị
trường riêng là phục vụ chi tiêu cá nhân nên nó không được coi là một dịch vụ
cạnh tranh với các loại tín dụng truyền thống.
Thẻ tín dụng một sản phẩm có tính hướng công nghệ cao mà nó còn thực sự
là một phương cách ưu việt để thâm nhập vào thị trường ngân hàng bán lẻ(thị
của thị trường thẻ tín dụng tăng lên đi kèm với số lượng gia tăng các điểm tiếp
nhận thẻ trong quan hệ giao dịch với ngân hàng. Bản thân các Merchant cũng là tổ
chức kinh tế và nó cũng có nhiều nhu cầu trong sử dụng các loại hình giao dịch
dành cho giới doanh nhân. Vì thế phát triển thị trường thẻ tín dụng sẽ góp phần
phát triển thị trường các hình thức thanh toán khác. Ngoài ra, khi phát triển thẻ tín
dụng ngân hàng luôn phải trang bị các phương tiện máy móc hiện đại nhất, đó cũng
là tiền đề và là một bước đột phá để các hình thức thanh toán khác tận dụng được
những thành tựu công nghệ mới.
♦ Với công tác huy động vốn quĩ