Đạo đức môi trường truyền thống và ý nghĩa của nó đối với việc bảo vệ môi trường ở việt nam hiện nay - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ GIANG

ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

U N

NTI NS TRI

HÀ NỘI - 2019

THỌC


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ GIANG

ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 62 22 03 02

Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. .5

1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức môi trường.............................................. 5
1.2. Những công trình nghiên cứu đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam
.............................................................................................................................................................. 13
1.3. Những công trình đề cập đến ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống
đối với việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay...................................................... 20
1.4. Khái quát kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan và những vấn
đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu đối với luận án...................................................................... 28
Chương 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ

Ý U N VỀ ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG VÀ

ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG.............................................................. 31
2.1. Một số quan niệm chủ yếu về môi trường và đạo đức môi trường....................31
2.1.1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường..................................................... 31
2.1.2. Đạo đức và đạo đức môi trường.............................................................................. 33
2.1.3. Khái niệm đạo đức môi trường truyền thống và cơ sở hình thành đạo
đức môi trường truyền thống ở Việt Nam........................................................................ 48
2.2. Một số chuẩn mực của đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam................57
2.2.1. Người Việt yêu thiên nhiên, sống hài hòa với thiên nhiên............................57
2.2.2. Người Việt biết khai thác tự nhiên một cách hợp lý, linh hoạt trong
đối xử với tự nhiên.................................................................................................................... 61


2.2.3. Thái độ ứng xử hợp lý với tự nhiên được thể hiện qua tính cách tiết
kiệm, cần cù và tình yêu lao động của người Việt xưa............................................... 65
2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc kế thừa và sử dụng đạo đức môi trường
truyền thống trong việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay............................... 68
2.3.1. Ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến việc kế thừa và sử dụng đạo đức

4.1. Ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống trong việc phát triển kinh tế,
hoạch định chính sách và bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.........................119
4.1.1. Việc hoạch định chủ trương, chính sách ở Việt Nam hiện nay cần
phải tính đến các chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống nhằm phát
triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường................................................................... 119
4.1.2. Chú trọng phát triển “Kinh tế xanh”, một phương án phát triển kinh
tế theo hướng bền vững, phù hợp với các quan niệm đạo đức môi trường
truyền thống Việt Nam.......................................................................................................... 123
4.2. Tiếp thu, kế thừa một cách có chọn lọc các giá trị đạo đức môi trường truyền
thống trong hoạt động bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay............................... 128
4.2.1. Cần có tƣ duy biện chứng trong việc tiếp thu những giá trị đạo đức
môi trƣờng truyền thống trong hoạt động bảo vệ môi trƣờng.............................. 128
4.2.2. Bổ sung và phát triển các chuẩn mực đạo đức môi trường truyền
thống trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay..........131
4.3. Ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức môi trường truyền thống trong sự nghiệp
bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay............................................................................. 138
4.3.1. Giáo dục đạo đức môi trƣờng truyền thống có tầm quan trọng đặc
biệt trong việc bảo vệ môi trƣờng.................................................................................... 138
4.3.2. Kết hợp nội dung và phương pháp trong giáo dục đạo đức môi
trường truyền thống bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay............................... 140
Tiểu kết chƣơng 4........................................................................................................................ 147
K T U N....................................................................................................................................... 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA T C GIẢ IÊN QUAN Đ N U N N
DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO


BVMT
CNH, HĐH
ĐĐTT
ĐĐMT

của con người với môi trường tự nhiên được mỗi cộng đồng thể hiện qua hương ước
và luật tục để quy định cho mỗi cá nhân trong cộng đồng mình sinh sống làm theo
và đây là những những yếu tố đạo đức môi trường cao nhất được thể hiện qua trong
lịch sử cộng đồng Việt Nam.
Người Việt trong truyền thống đã có những quy định đạo đức trong việc bảo
vệ thiên nhiên, nhận thức được vai trò quan trọng của tự nhiên trong cuộc sống của
mình và điều đó đã được minh chứng qua hàng ngàn năm lịch sử. Theo quy luật, khi
xã hội phát triển, khi xã hội phong kiến bị thay thế bằng một xã hội mới, tiến bộ
hơn. Một phương thức sản xuất mới ra đời kéo theo nó là những yếu tố khác cũng

1


thay đổi theo, nói một cách khác đó là khi tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã hội
cũng thay đổi theo cho phù hợp. Ở Việt Nam những thập kỷ gần đây, kinh tế thị
trường ra đời, từ sự thay đổi về kinh tế dẫn đến những thay đổi trong đạo đức. Kinh
tế thị trường bản thân nó đã tạo nên một kỳ tích trong sự phát triển kinh tế ở Việt
Nam nhưng cùng với nó là mặt trái mà chúng ta hiện nay đang phải đối mặt, một
trong số đó là sự ô nhiễm môi trường hay đằng sau của sự phát triển công nghiệp đó
là những bãi rác thải do nghành công nghiệp ấy sinh ra đã thải vào môi trường và
ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển bền vững của xã hội loài người.
Hiện trạng môi trường ở Việt Nam hiện nay đang ở mức độ báo động bởi sự
tàn phá nặng nề của con người đối với môi trường tự nhiên. Sự tàn phá của người
Việt hiện nay với rừng nguyên sinh, với sự khai thác không hợp lý các tài nguyên
thiên nhiên và càng nguy hại hơn nữa đó là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm gần
đây làm cho chúng ta phải giật mình, con người sao lại có thể đối xử với con người,
đối xử với giới tự nhiên như thế, đó là vấn đề đạo đức, trong đó có đạo đức môi
trường. ĐĐMT quy định mối quan hệ ứng xử của con người với giới tự nhiên trong
quá trình tồn tại và phát triển của mình.
ĐĐMT đến nay đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm thuộc các lĩnh vực

Đối tượng nghiên cứu của luận án là đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận án nghiên cứu đạo đức môi trường truyền thống dưới góc độ triết học.
- Những nội dung và chuẩn mực đạo đức môi trường truyền thống Việt Nam hiện

đang còn tồn tại và ảnh hưởng đến việc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận án là Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa

duy vật lịch sử.
- Cơ sở phương pháp luận của luận án là Phép biện chứng duy vật.
- Luận án được thực hiện trên cơ sở các chỉ dẫn lý luận và phương pháp luận

về con người và môi tường tự nhiên; về đạo đức con người đối với giới tự nhiên của
C.Mác - Ph.Ăngghen; tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam; các văn kiện, Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam có liên
quan trực tiếp đến con người, môi trường và đạo đức con người.
4.2. Về phương pháp nghiên cứu
Phù hợp với phương pháp luận biện chứng duy vật, luận án sử dụng các
phương pháp như logic - lịch sử; phân tích hệ thống; quy nạp - diễn dịch; tổng hợp phân tích; so sánh - đối chiếu, thống kê,…
- Luận án chú trọng kế thừa những kết quả của các nghiên cứu lý luận và

thực tiễn có liên quan đến đề tài của các tác giả đi trước.

3



trường truyền thống.
Chương 3: Thực trạng đạo đức môi trường truyền thống ở Việt Nam hiện nay
và một số vấn đề đặt ra.
Chương 4: Ý nghĩa của đạo đức môi trường truyền thống trong việc bảo vệ
môi trường ở Việt Nam hiện nay.

4


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU IÊN QUAN Đ

N ĐỀ TÀI

Trên cơ sở nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, những quan điểm của Đảng về vấn đề ĐĐMTTT trong việc BVMT ở Việt
Nam hiện nay, tác giả đã nghiên cứu các công trình của các học giả trong nước và
thế giới có đề cập về đạo đức môi trường, ĐĐMTTT, BVMT…
Cho đến nay, vấn đề ĐĐMTTT đã có nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều
góc độ, nhiều cách tiếp cận khác nhau. Căn cứ vào nội dung, logic triển khai trong
luận án, tác giả khái quát tổng quan tài liệu liên quan đến đề tài theo các lát cắt sau:
1.1. Những công trình nghiên cứu về đạo đức môi trường
Trong thế giới ngày nay, vấn đề môi trường không chỉ là vấn đề riêng của
một quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, nó có mối liên hệ tác động lẫn nhau,
bởi ô nhiễm môi trường có thể từ quốc gia này ảnh hưởng đến các quốc gia khác.
ĐĐMT có tính toàn cầu, do đó các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học
luôn quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu. Điều này, được thể hiện thông qua rất nhiều các
công trình khoa học của các học giả trên thế giới, các hội nghị quốc tế về môi
trường được tổ chức, cụ thể như sau:
Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trƣờng con ngƣời [86] diễn ra ở Stockholm,

Trong cuốn Môi trƣờng sinh thái [151] của Jacques Vernier (2002). Sách của
Jacques Vernier được chia làm hai phần chính. Phần thứ nhất, tác giả đã phân tích
các đối tượng của môi trường bị ô nhiễm như: nước, không khí, tiếng ồn, chất thải,
sản xuất sạch, an toàn, và về các tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Đó là sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, đô thị. Thông qua các đối tượng này, tác giả chỉ
vai trò của giới tự nhiên đối với đời sống con người, khẳng định chúng ta phải
BVMT và bảo vệ động vật, thực vật. Ở phần thứ hai, tác Jacques Vernier đã đưa ra
công cụ đòn bẩy và cho rằng nó hữu hiệu đối với việc ngăn chặn ô nhiễm môi
trường do hoạt động của con người gây ra. Cuốn sách là sự tổng kết những thành
tựu trong hơn 20 năm, từ những năm 70 - 90 của thế kỷ XX của công cuộc đấu
tranh chống ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra kết
luận nếu thế giới này không tự kiềm chế được mình thì với sự phát triển của dân số,
sự tàn phá rừng, sự tiêu dùng năng lượng quá mức có thể làm rối loạn bộ máy đẹp

6


đẽ là thế giới sinh vật. Trong tác phẩm này, tác giả đã thấy được mâu thuẫn giữa sự
phát triển kinh tế với việc BVMT nhưng các giải pháp mà ông đưa ra còn chung
chung, các giải pháp chưa cụ thể, vì với mỗi khu vực và quốc gia khác nhau cần có
những giải pháp BVMT khác nhau.
Hai tác giả Paul Wapner and Richard A.Matthew (2009) với bài viết The
Humanity of Global Environmental Ethics [153], tạm dịch Khía cạnh nhân văn
trong đạo đức học môi trƣờng toàn cầu, đã nghiên cứu về cách con người ứng xử
với thế giới tự nhiên, phân tích quá trình ra đời của đạo đức học môi trường từ
những năm 1970 của thế kỷ XX. Các tác giả cho rằng, cần phải có một nền đạo đức
học môi trường toàn cầu chứ không phải của riêng từng quốc gia. Bài báo đã phân
tích những quan niệm khác nhau của con người trong cư xử với giới tự nhiên. Các
ông đã phê phán quan điểm truyền thống của Cơ đốc giáo và sự khẳng định của nó
khi cho rằng: Chúa ban cho con người quyền thống trị đối với hệ động, thực vật trên

triết học, cuốn sách đã đề cập đến những quan điểm sống ảnh hưởng đến môi
trường, đó là các quan niệm lấy con ngƣời làm trung tâm, ông ủng hộ quan điểm
lấy cuộc sống làm trung tâm và cho rằng cứ là sinh vật sống đều cần được tôn trọng.
Các công trình khoa học trên đã đưa ra những vấn đề lý luận về ĐĐMT. Đây là
những tư liệu quý đối với NCS, để NCS có thể vận dụng khi hệ thống hóa cơ sở lý
luận về ĐĐMT.
Công trình: Những tƣ tƣởng cơ bản của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin về
mối quan hệ giữa con ngƣời, xã hội và tự nhiên [139] của nhà nghiên cứu Phạm Thị
Ngọc Trầm (1992), đã phân tích quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác Lênin khi cho rằng con người có mối quan hệ hữu cơ, có sự tác động đối với môi
trường tự nhiên. Trong đó, con người là sự thống nhất giữa yếu tố tự nhiên và xã
hội. Ba mối quan hệ tự nhiên - con người - xã hội tác động biện chứng với nhau, sự
tác động của con người với giới tự nhiên phụ thuộc vào trình độ của PTSX, đây
cũng là đối tượng mà ĐĐMT nghiên cứu. Bài báo chỉ ra đối tượng nghiên cứu của
ĐĐMT là mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên.
Bài báo Về đạo đức môi trƣờng [114] của tác giả Hồ Sĩ Quý (2005), đã phân
tích quan điểm đạo đức học môi trường của các triết gia trên thế giới như: Aldo
Leopold, Paul Taylor, Arne Naiess và khoa học đạo đức học môi trường với các
trường phái: đạo đức duy sinh vật, đạo đức duy sinh thái. Trong bài viết, tác giả đưa

8


ra khái niệm về ĐĐMT, phân tích thực trạng cư xử hiện nay của người Việt với tự
nhiên xung quanh mình từ trong cuộc sống hàng ngày đến các lễ hội văn hóa. Tác
giả đã tổng kết những cách cư xử của người Việt với môi trường tự nhiên trong đời
sống văn hóa từ xưa đến nay vẫn còn có rất nhiều hạn chế, những việc như bẻ cành
cây cối, ngắt hoa lá nơi công cộng, các lễ hội đâm trâu, chọi trâu, đánh dê trƣớc
khi giết thịt… Điều này, cho thấy mặt trái trong cách ứng xử của người Việt trong
truyền thống đối với thiên nhiên và các động vật khác. Trên cơ sở phân tích đó, tác
giả cũng đã đưa ra các giải pháp kinh tế - kỹ thuật nhưng giải pháp này chỉ là tạm

có điểm tương đồng khi trong các công trình này, tác giả đã làm rõ các thuật ngữ
đạo đức học môi trƣờng và đạo đức môi trƣờng, đưa ra khái niệm về ĐĐMT, đưa
ra chuẩn mực đạo đức chính của đạo đức môi trường, coi đó là yếu tố trung tâm của
ý thức đạo đức. Tác giả khẳng định: ĐĐMT có từ rất lâu trong lịch sử, đó là cách
ứng xử của con người đối với tự nhiên. Quan niệm này đã có ở cả phương Đông và
phương Tây, có thể được coi là truyền thống nhưng trong các tác phẩm này, tác giả
chưa nghiên cứu về ĐĐMT trong truyền thống của người Việt Nam.
Phan Văn Thạng (2011), Mối quan hệ giữa con ngƣời và môi trƣờng trong sự
phát triển bền vững ở nƣớc ta nhìn từ góc độ xã hội học [127], tác giả đã phân tích
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong phát triển sự bền vững ở nước ta
hiện nay. Trên cơ sở phân tích vai trò của tự nhiên trong đời sống con người, tự
nhiên quyết định sự sinh tồn và phát triển của xã hội loài người, đồng thời cũng
phân tích rõ sự tác động trở lại của con người đối với tự nhiên theo cả hai hướng
tích cực và tiêu cực. Bước đầu, tác giả đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến xấu đến
môi trường, là: áp lực của sự gia tăng dân số và tăng trƣởng kinh tế, con người đã
khai thác tự nhiên không có kế hoạch hợp lý, sự gia tăng của các khu công nghiệp
không đáp ứng đủ các tiêu chí về môi trường trong tiến trình CNH, HĐH cũng đã
tác động đến môi trường một cách nghiêm trọng, đó là sự ô nhiễm không khí, ô
nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất... và đặc biệt sự ô nhiêm này dẫn đến ảnh hưởng
sức khỏe của con người, dẫn đến các bệnh do ô nhiễm môi trường, như bệnh hô hấp,
bệnh phổi và các bệnh về đường ruột. Từ đó, chỉ ra con người cần phải BVMT tự
nhiên. Nhiệm vụ này không chỉ thuộc vể các cơ quan đoàn thể, các tổ chức chính trị
- xã hội mà còn phải vận dụng đến một hình thức đó là hương ước. Kết hợp hương
ước với luật BVMT, vận dụng các giá trị ĐĐTT để nâng cao nhận thức, hiểu

10


biết của người dân để BVMT. Vấn đề hương ước này đã từng được người Việt áp
dụng từ rất lâu trong các làng xã nhằm BVMT và có những quy định rất rõ ràng.



đưa ra các số liệu chứng minh sự ô nhiễm môi trường trên thế giới đang diễn ra trên
quy mô rộng và khẳng định tất cả những sự ô nhiễm này là do con người gây ra. Từ
đây, tác giả cũng phân tích các vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam; đưa ra các
nhân tố dẫn đến ô nhiễm môi trường hiện nay, đó là sự tác động của dân số đến môi
trường, sự gia tăng dân số dẫn đến những hệ lụy về môi trường, vấn đề sản xuất
lương thực liên quan đến suy thoái môi trường. Cuốn sách đưa ra vấn đề cần phải có
ĐĐMT trong sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam, chỉ ra Việt Nam muốn phát
triển kinh tế bền vững, phải quan tâm đến vấn đề môi trường, đưa môi trường trở
thành mục tiêu, nguyên tắc, nội dung phát triển bền vững.
Với tác giả Nguyễn Thị Lan Hương (2016), Đạo đức môi trƣờng và chủ nghĩa
vị lợi [70], lại có cách tiếp cận ĐĐMT dưới góc độ của chủ nghĩa vị lợi với những
đặc trưng điển hình như: thừa nhận lợi ích của hành vi là tiêu chuẩn đạo đức cơ bản
nhất, chủ nghĩa này tối đa hóa toàn bộ lợi ích theo nghĩa tạo ra nhiều ích lợi cho
nhiều người nhất. Những kết quả mang lại lợi ích tối ưu và cho nhiều người nhất thì
đó là hành động hợp đạo đức, còn ngược lại là hành động phi đạo đức. Tác giả cũng
đã phân tích những nguyên tắc của chủ nghĩa vị lợi đối với ĐĐMT, những hạn chế
của chủ nghĩa này ảnh hưởng của chủ nghĩa vị lợi trên thế giới hiện nay. Theo như
cách nhìn nhận của chủ nghĩa vị lợi thì lợi ích phát triển kinh tế vẫn đứng trên cả
đạo đức.
Tác giả Lê Văn Khoa (2016) với bài Đạo đức môi trƣờng - Từ tƣ duy đến
hành động [77], đã khẳng định cần phải xây dựng ĐĐMT trong các lĩnh vực: sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, làng nghề và việc sử dụng các nguồn tài nguyên,
thực phẩm. Các ngành nghề đều phải coi việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm về
mặt pháp lý và cũng là trách nhiệm đạo đức đối với toàn xã hội. Tác giả đã đề xuất
các biện pháp tăng cường giáo dục đạo đức môi trường, trong đó tác giả nhấn mạnh,
luật tục, hương ước, lệ làng, lễ hội, phong tục.. là một trong những biện pháp nhanh
nhất, dễ đi vào lòng người nhất và có hiệu quả cao. Đồng thời cũng đưa ra, cần phải
giữ những phong tục tốt đẹp của dân tộc phù hợp với bảo vệ môi trường hiện nay ở

do tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002), (Đồng chủ biên) bao
gồm các bài viết về giá trị truyền thống Việt Nam những vấn đề đặt ra trong quá
trình TCH; TCH là xu thế tất yếu xảy ra trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại
lệ, bên cạnh những ích lợi do toàn cầu hóa mang lại còn có những ảnh hưởng tiêu
cực, đặc biệt là trong văn hóa. Toàn cầu hóa đã và đang làm mất dần đi các giá

13


trị truyền thống dân tộc, trong đó có các giá trị đạo đức của người Việt về tình yêu
thiên nhiên, đất nước cũng bị ảnh hưởng. Với nghiên cứu này, giúp NCS nhận thấy
TCH cũng là một trong các nhân tố làm thay đổi đạo đức của người Việt ngày nay
trong vấn đề BVMT dưới góc độ đạo đức. Đây là một cơ sở lý luận quan trọng, giúp
NCS phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ĐĐMTTT của người Việt hiện nay.
Trong bài báo Vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái trong điều kiện kinh tế thị
trƣờng [140] Phạm Thị Ngọc Trầm (2002), qua việc phân tích những giá trị đạo đức
sinh thái truyền thống của Việt Nam như: cái Thiện của người Việt Nam, tình yêu
của con người đối với thiên nhiên, tình yêu lao động, tình yêu con người luôn được
thể hiện ở tính cộng đồng, đoàn kết, lối sống tình nghĩa, nhân ái. Tác giả đã đưa ra
một số cách ứng xử của người Việt đối với môi trường sinh thái. Dưới tác động của
nền kinh tế thị trường hiện nay, đã từng bước làm biến đổi cách ứng xử của con
người trước đây, mối quan hệ con người sống hòa đồng với tự nhiên (mối quan hệ
Thiên - Nhân hợp nhất) nay không còn nữa, mà chuyển dần sang lý tưởng (Nhân
định thắng Thiên). Tác giả cũng đưa ra giải pháp mà chúng ta cần phải xây dựng, đó
là một ĐĐMT phù hợp với nền kinh tế thị trường. ĐĐMT mới này phải dựa vào nền
tảng là đạo đức đối với môi trường truyền thống của người Việt, nhưng có những
thay đổi cho phù hợp.
Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007), trong bài Toàn cầu hóa và nguy cơ suy
thoái đạo đức, lối sống con ngƣời Việt Nam hiện nay [66], đã phân tích những tác
động của TCH đến kinh tế, văn hóa, tinh thần của người Việt Nam. TCH mang lại

hệ giữa con người với giới tự nhiên, yêu cầu con người phải có cách nhìn đúng đắn
và sống hài hòa theo quy luật của tự nhiên. Tác giả cũng chỉ ra, khi muốn giải quyết
vấn đề môi trường cần phải giải quyết theo hướng môi trường sinh thái - nhân văn,
đây là nguyên tắc cơ bản. Để giữ gìn môi trường tự nhiên cần phải tiến hành giáo
dục môi trường, đây là hoạt động đóng vai trò đặc biệt cho mỗi cá nhân có thể tham
gia hiệu quả nhất trong việc BVMT. Tác giả cũng đưa ra cần phải xây dựng một ý
thức sinh thái mới phù hợp với sự phát triển xã hội bền vững.
Quan tâm nghiên cứu cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên của
các dân tộc ít người ở Việt Nam, các các tác giả như: Hà Công Tuấn (2006), Sử
dụng luật tục, hƣơng ƣớc một chiến lƣợc quản lý rừng [147]. Tác giả đã nêu ra các
khái niệm có liên quan đến luật tục và các văn bản pháp quy được nhà nước công

15


nhận khi cho các làng tự xây dựng hương ước trong việc quản lý rừng tại làng mình.
Tác giả phân tích một số luật tục về bảo vệ rừng của các dân tộc như: luật tục của
người H’mông, người Thái, người Tày, người Nùng (ở Hà Giang), người Khơ Mú,
… và các hình phạt của luật tục đối với những người vi phạm. Những luật tục này,
có tác dụng lớn đối với việc bảo vệ rừng nơi sinh sống, đồng thời cũng dựa vào ý
thức cộng đồng xây dựng nên ý thức phải bảo vệ rừng, BVMT tự nhiên. Bên cạnh
đó, cũng giáo dục cộng đồng về vai trò của rừng, của tự nhiên đối với đời sống của
con người, đời sống của buôn làng. Trong công trình này, tác giả cũng chỉ ra nhiều
bất cập của luật tục, hương ước đối với xã hội ngày nay. Từ đó, đưa ra một vài giải
pháp như kế thừa, phát huy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của luật tục, hương ước
trong việc bảo vệ rừng, đồng thời cũng cần xây dựng cơ chế, xác định trách nhiệm
của các cơ quan quản lý trong việc hướng dẫn, giúp đỡ, kiểm tra, giảm sát việc xây
dựng và thực thi hương ước trong cộng đồng, để những nội dung trong hương ước
phù hợp với pháp luật hiện hành.
Tác giả Hoàng Văn Quynh (2009) trong bài Quy định về quyền sở hữu tài

tự nhiên của các tộc người, nhưng đây là nguồn tư liệu quý giá để NCS triển khai
nghiên cứu dưới góc độ triết học, trên nền tảng đạo đức về mối quan hệ giữa con
người với tự nhiên.
Phạm Quang Tiến, Nguyễn Thị Hồi (2010) trong bài báo Tập quán và luật tục
bảo vệ môi trƣờng của một số dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam [136], đã phân tích vai
trò của tập quán và luật tục đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật. Các tác
giả đã phân tích tập quán và luật tục của một số dân tộc ít người về BVMT như: luật
tục BVMT của người Ê Đê, người M’nông ở miền trung Tây Nguyên, người Thái ở
các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình... Trong luật tục của những dân tộc ít người
này, có những điều được cộng đồng quan tâm để BVMT đó là; bảo vệ rừng, chim
thú, đất đai và nguồn nước. Trong luật tục còn đưa ra những hình thức tuyên truyền
phổ biến những yếu tố BVMT trong cộng đồng và đặc biệt còn tuyên truyền trong
gia đình qua các thế hệ như: ông bà, cha mẹ dạy con cháu đi rừng không được mang
đầu cây cháy dở gây cháy rừng, cây ở đầu nguồn và ở bờ suối thì không được chặt.
Đây chính là một hình thức giáo dục BVMT. Những dân tộc trên hiểu được môi
trường ảnh hưởng đến cuộc sống và có vai trò quan trọng đối với con người cũng
như sự tồn tại của tộc người. Thấy được vị trí của rừng, tầm quan trọng của nguồn

17


nước, cũng như môi trường để cho sinh vật có thể phát triển. Với công trình nghiên
cứu này, giúp NCS có thêm cơ sở để khẳng định từ rất lâu người Việt Nam đã thấy
được vai trò của môi trường sinh thái và đưa ra những luật tục để BVMT, những
luật tục này ra đời cũng là đạo đức của dân tộc.
Dựa trên sự khảo cứu một số bản hương ước ở Hà Nội, tác giả Nguyễn Tá Nhí
(2010), trong cuốn Tƣ liệu văn hiến Thăng Long - Hà Nội: Tuyển tập Hƣơng ƣớc
tục lệ [102], đã giúp ta hiểu được quá trình thành lập làng, giữ làng và những giá trị
văn hóa, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc ta. Thông qua đó, giúp chúng ta
thấy được người xưa với những quy định của mình không chỉ nói về mối quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status