TIỂU LUẬN
CẢI CÁCH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở TRUNG
QUỐC
TỪ 1978 ĐẾN NAY VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI
VỚI VIỆC
ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG CHÍNH
3
I.
3
Sự cần thiết, phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của cải
cách thể chế chính trị ở Trung Quốc
1. Sự cần thiết phải tiến hành cải cách thể chế chính trị
3
2. Phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của cải cách thể chế
5
20
KẾT LUẬN
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
24
MỞ ĐẦU
Thế giới trong những thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đầy biến
động. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ diễn ra hết sức mạnh mẽ, tác
động sâu sắc đến hầu hết các quốc gia dân tộc, thúc đẩy nhanh quá trình
quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Chủ nghĩa tư bản (CNTB) vận dụng được
những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, tiếp tục phát triển.
Chủ nghĩa xã hội (CNXH) bộc lộ những yếu kém khuyết tật, rơi vào khủng
hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu.
Những năm cuối của thập kỷ 70, đầu những năm 80, trong quan hệ
quốc tế bắt đầu xuất hiện xu thế đối thoại chính trị, tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình quốc tế hóa nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh đó, tranh thủ
vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của các quốc gia tiên tiến là thời cơ
và thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có Trung Quốc và
Việt Nam.
Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và ý thức đầy đủ về xuất phát
điểm kinh tế lạc hậu của đất nước, Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành
cải cách mở cửa và đổi mới.
Hơn 20 năm qua, Trung Quốc tiến nhanh trên con đường cải cách
1) Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 71.
4
NỘI DUNG CHÍNH
I. SỰ CẦN THIẾT, PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ
CỦA CẢI CÁCH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ Ở TRUNG QUỐC
1. Sự cần thiết phải tiến hành cải cách thể chế chính trị
Thể chế chính trị của Trung Quốc trước đây được hình thành và
phát triển trong thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ. Nó đã tồn tại
nhiều khuyết tật và ngày càng tỏ ra không thích ứng với công cuộc xây
dựng hiện đại hóa trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa... trói buộc
nghiêm trọng sự phát triển của sức sản xuất, vì vậy tất yếu phải cải cách.
- Cải cách thể chế chính trị là do yêu cầu của việc phát huy tính tích
cực của quảng đại quần chúng nhân dân. Khi tiến hành công cuộc cải cách
mở cửa, ông Đặng Tiểu Bình đã nhiều lần nhấn mạnh đến việc phát triển
sức sản xuất. Theo ông, bản chất của CNXH là giải phóng sức sản xuất,
phát triển sức sản xuất. Muốn thúc đẩy sức sản xuất thì phải phát huy đầy
đủ tính tích cực, tính sáng tạo của quảng đại quần chúng. Vì vậy, theo các
nhà khoa học Trung Quốc, cần phải cải cách những khâu, những phương
diện trói buộc và cản trở việc phát huy tính tích cực, sáng tạo của quần
chúng nhân dân trong thể chế chính trị, thiết thực xây dựng nền chính trị
dân chủ XHCN, xây dựng một thể chế mới; có thể phát huy và đảm bảo
được quyền làm chủ của nhân dân.
- Tiến hành cải cách thể chế chính trị còn do đòi hỏi của cải cách
thể chế kinh tế. Khuyết tật trong thể chế chính trị có quan hệ nhân quả với
những khuyết tật của thể chế kinh tế. Cải cách thể chế kinh tế càng phát
đảm bằng dân chủ hóa chính trị, mặt khác cũng tạo điều kiện cho dân chủ
hóa chính trị. Bởi vì, một khi người dân đã tiếp nhận được những bài học
về tự do cạnh tranh, bình đẳng trong đời sống kinh tế, thì năng lực lý giải
về dân chủ chính trị và thực hiện quyền dân chủ sẽ được nâng cao.
Vì vậy, để thích ứng với yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường,
cần phải tích cực và thận trọng thúc đẩy quá trình dân chủ hóa về chính trị.
- Tiến hành cải cách thể chế chính trị còn do nhu cầu nâng cao trình
độ quản lý của toàn bộ đất nước Trung Quốc, bao gồm trình độ quản lý của
6
các cơ quan Đảng và chính quyền các cấp từ Trung ương đến địa phương.
Muốn vậy, phải xây dựng thể chế lãnh đạo hiện đại, bao gồm hệ thống
quyết sách, hệ thống chấp hành, hệ thống giám sát và hệ thống tư vấn, sao
cho việc ra quyết định đúng đắn, chấp hành nghiêm chỉnh, giám sát có hiệu
quả và tư vấn khách quan.
Muốn đạt những điều trên, phải tiến hành cải cách thể chế chính trị.
Tóm lại, công cuộc cải cách mở cửa và tiến hành xây dựng hiện đại hóa
XHCN ở Trung Quốc đã đặt ra những yêu cầu đòi hỏi phải tiến hành cải
cách thể chế chính trị. Ngược lại, cải cách thể chế chính trị sẽ làm cho kiến
trúc thượng tầng phù hợp với yêu cầu khách quan của cơ sở kinh tế, từ đó
phát huy tính ưu việt của chế độ XHCN.
2. Phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của cải cách thể chế
chính trị
a) Phương hướng chung và mục tiêu của cải cách thể chế chính
trị
Sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (1978), Đảng Cộng sản Trung
Quốc đã nhận thức lại về CNXH, thay đổi căn bản khuynh hướng coi nhẹ
xây dựng nền chính trị dân chủ, từ đó đặt vấn đề xây dựng nền chính trị dân
chủ XHCN ở mức độ cần thiết. Năm 1979 Đặng Tiểu Bình đã nêu lên luận
lành mạnh hài hòa, làm cho công tác của các cơ quan Đảng và Nhà nước
đạt hiệu quả cao. "Tràn đầy sức sống" chỉ cơ chế vận hành của thể chế
chính trị có tính thích ứng mạnh mẽ.
Đại hội XIII (1986) còn đề ra mục tiêu ngắn hạn của cải cách thể
chế chính trị ở Trung Quốc. Đại hội chỉ rõ: "Xây dựng thể chế lãnh đạo có
lợi cho việc nâng cao hiệu suất, tăng cường sức sống và tính tích cực của
nhiều phương diện". Việc đề ra mục tiêu ngắn hạn chính là căn cứ vào yêu
cầu tổng thể của mục tiêu lâu dài, vào điều kiện cụ thể và nhất là những
khuyết tật của thể chế chính trị Trung Quốc. Mục tiêu ngắn hạn là những
bước đi cần thiết để đạt được mục tiêu lâu dài. Như vậy, Đại hội XIII Đảng
Cộng sản Trung Quốc đã chính thức nêu lên vấn đề xây dựng nền chính trị
dân chủ XHCN có đặc sắc Trung Quốc, đồng thời đề ra mục tiêu lâu dài và
ngắn hạn của cải cách thể chế chính trị.
Đại hội XIV (1992) và Đại hội XV (1997) đã phân tích một cách
sâu sắc và định ra quy hoạch rõ ràng về cải cách thể chế chính trị. Báo cáo
(
1) Cải cách thể chế chính trị, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 68.
8
chính trị tại Đại hội XV chỉ rõ: Tiếp tục thúc đẩy cải cách thể chế chính trị,
mở rộng hơn nữa dân chủ XHCN, kiện toàn pháp chế XHCN, dựa vào luật
mà trị nước, xây dựng Nhà nước pháp trị XHCN. Đây là lần đầu tiên, Đảng
Cộng sản Trung Quốc thống nhất một cách hữu cơ giữa cải cách thể chế
chính trị và xây dựng nhà nước pháp trị XHCN, chỉ ra nhiệm vụ căn bản và
mô hình, mục tiêu của cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc.
b) Những nhiệm vụ chủ yếu của cải cách thể chế chính trị
Đại hội XV (1997) đề ra nhiệm vụ chủ yếu của cải cách thể chế
thực tiễn rộng rãi nhất của nền dân chủ XHCN. Các cơ quan chính quyền
cơ sở và tổ chức chính trị quần chúng cơ sở ở thành thị và nông thôn đều
phải kiện toàn chế độ bầu cử dân chủ, thực hiện công khai các công việc,
tài vụ công khai để quần chúng tham gia thảo luận và quyết định các công
việc chung.
- Về nhiệm vụ tăng cường pháp chế: Tăng cường công tác lập pháp,
nâng cao chất lượng lập pháp, đến năm 2010 hình thành hệ thống pháp luật
XHCN có đặc sắc Trung Quốc; bảo vệ sự tôn nghiêm của Hiến pháp và
pháp luật, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; tăng cường ý thức
pháp luật của toàn dân, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng pháp chế với văn
minh tinh thần.
- Về nhiệm vụ cải cách bộ máy chính quyền: Đây là một nội dung
quan trọng của cải cách thể chế chính trị. Nhiệm vụ cải cách bộ máy là phải
căn cứ theo yêu cầu của kinh tế thị trường XHCN, chuyển biến chức năng
của Chính phủ, thực hiện chính quyền và xí nghiệp tách rời nhau, giao
quyền quản lý sản xuất kinh doanh cho xí nghiệp; Căn cứ vào nguyên tắc
tinh giản, thống nhất, hiệu quả mà tiến hành cải cách bộ máy, xây dựng hệ
thống hành chính làm việc hiệu quả cao; Đi sâu cải cách thể chế hành
chính, thực hiện quy hoạch hóa trình tự tổ chức, chức năng, biên chế, trình
tự công tác của bộ máy nhà nước, khống chế chặt chẽ việc bộ máy phình
to, kiên quyết cắt giảm nhân viên; Đi sâu cải cách chế độ nhân sự, chấp
nhận cơ chế khuyến khích cạnh tranh, hoàn chỉnh chế độ công vụ viện, xây
dựng đội ngũ cán bộ quản lý hành chính nhà nước chuyên nghiệp hóa có
trình độ cao.
- Về nhiệm vụ hoàn thiện chế độ giám sát dân chủ:
10
Báo cáo chính trị tại Đại hội XV nêu rõ: quyền lực thuộc về nhân
dân, chịu sự giám sát của nhân dân và pháp luật; Đi sâu cải cách hoàn thiện
của Đảng ủy. Đảng ủy các cấp và tổ chức cơ sở của Đảng trong các cơ
quan nhà nước không lãnh đạo công tác nghiệp vụ của các đơn vị này.
Về quan hệ giữa Đảng với các cơ quan nhà nước và các tổ chức
khác, đã thay đổi tình trạng chức trách không rõ ràng trước đây, bước đầu
làm hài hòa mối quan hệ giữa Đảng với các cơ quan lập pháp, cơ quan hành
chính, cơ quan tư pháp của nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các đơn
vị và doanh nghiệp cùng với các đoàn thể quần chúng, các đơn vị và doanh
nghiệp cùng với các tổ chức xã hội khác, mỗi cơ quan có chức trách riêng;
đồng thời định rõ Đảng phải hoạt động trong phạm vi Hiến pháp, pháp luật.
Về vấn đề dân chủ trong Đảng, cũng có những cải cách quan trọng:
Đã xây dựng được chế độ lãnh đạo tập thể, chế độ giám sát và chế độ bầu
cử. Đảng còn quy định rõ ràng những vấn đề quan trọng cần phải căn cứ
vào tình hình thực tế đưa ra tổ chức Đảng thảo luận xem xét quyết định,
không để cho cá nhân độc đoán quyết định. Tổ chức Đảng các cấp từ Trung
ương đến địa phương đều phải thực hiện chế độ kết hợp lẫn nhau giữa lãnh
đạo tập thể với phân công phụ trách cá nhân. Ở Trung ương là cơ quan
công tác hàng ngày dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị; Xây dựng chế độ
báo cáo định kỳ giữa Ban thường vụ Bộ Chính trị với Bộ Chính trị, giữa Bộ
Chính trị với Ban Chấp hành Trung ương, cùng với các quy tắc và chế độ
sinh hoạt của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Bộ Chính trị và Ban Bí thư
Trung ương, từ đó làm cho lãnh đạo được chế độ hóa, tăng cường sự giám
sát và chế ước đối với người lãnh đạo của Đảng. Ngoài ra, nhằm bảo đảm
việc thực hiện điều lệ Đảng và các quy định của Đảng, tăng cường sự giám
sát đối với đảng viên, Đảng ủy các cấp từ Trung ương đến địa phương đều
thành lập Ban Kiểm tra kỷ luật để thanh lọc những phần tử thoái hóa biến
chất trong tổ chức Đảng.
Theo số liệu của Tiến sĩ Đỗ Tiến Sâm - Trung tâm Nghiên cứu
Trung Quốc (Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia), trong
nhiệm kỳ từ Đại hội XIV đến Đại hội XV, cơ quan kiểm tra kỷ luật các cấp
- Vai trò của Đại hội Đại biểu nhân dân và Ban Thường vụ của nó
trong đời sống chính trị Trung Quốc không ngừng được tăng cường.
13
Nhiệm vụ chủ yếu của Đại hội Đại biểu nhân dân và Ban Thường
vụ của nó là lập pháp và giám sát.
+ Về công tác lập pháp: Từ năm 1979 đến tháng 12-1998, Đại hội
Đại biểu nhân dân toàn quốc và Ban Thường vụ đã thông qua được 343 văn
bản bao gồm Hiến pháp, luật và các quy định về những vấn đề có liên quan
đến pháp luật. Nhờ vậy, đời sống chính trị, kinh tế và xã hội ở Trung Quốc
đã có luật để dựa vào.
+ Về mặt giám sát: Công tác giám sát của Đại hội Đại biểu nhân dân
chủ yếu là giám sát pháp luật. Kỳ họp thứ III của Ban Thường vụ Đại hội
Đại biểu nhân dân toàn quốc khóa VIII đã thông qua văn bản "Những quy
định về tăng cường giám sát tình hình thực thi pháp luật", làm cho công tác
kiểm tra chấp hành pháp luật được quy phạm hóa, chế độ hóa thêm một bước.
c) Cải cách bộ máy Chính phủ
Từ khi cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc đã tiến hành bốn lần
cải cách bộ máy Chính phủ với quy mô lớn. Mỗi lần cải cách bộ máy Chính
phủ đều được triển khai trong những thời điểm mấu chốt của công cuộc cải
cách thể chế kinh tế và phát triển kinh tế.
Bốn lần cải cách này đều có một mục tiêu giống nhau là tinh giản
bộ máy, cắt giảm nhân viên, chuyển biến chức năng. Các nhà lãnh đạo
Trung Quốc coi cuộc cải cách này là một cuộc cách mạng thực sự.
- Cải cách bộ máy Chính phủ lần thứ nhất năm 1982 đạt thành quả
cụ thể là:
+ Cải cách thể chế lãnh đạo Quốc vụ viện. Số Phó Thủ tướng Quốc
vụ viện đã từ 13 người giảm xuống còn 2 người; đồng thời đặt thêm chức
ban, 13 cơ quan trực thuộc, 5 văn phòng giúp việc. Sau cải cách, số cơ quan
trực thuộc và giúp việc của Quốc vụ viện giảm xuống còn 53, trong đó bao
gồm Văn phòng Quốc vụ viện, 29 Bộ và Ủy ban, 17 cơ quan trực thuộc và
6 văn phòng giúp việc khác (1).
Điều quan trọng là Đảng, Chính phủ và đông đảo nhân dân Trung
Quốc đều nhận thức được sự cấp thiết và cấp bách của vấn đề, nếu không
1) Đỗ Tiến Sâm, Hai mươi năm cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc, Tạp chí Nghiên cứu Trung
Quốc, số 5, 1999.
(
15
tiến hành cải cách thì cũng không còn con đường nào khác để đưa đất nước
tiếp tục tiến lên.
d) Hoàn thiện chế độ hiệp thương chính trị và hợp tác nhiều
đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Hội nghị Hiệp thương chính trị và chế độ hợp tác nhiều Đảng là
những trụ cột lớn của thể chế chính trị Trung Quốc.
Sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI (1978), hai tổ chức này ngày
càng hoàn thiện và phát huy vai trò ngày càng lớn trong đời sống chính trị
Trung Quốc. Biểu hiện cụ thể như sau:
- Tính chất, địa vị của chế độ Hiệp thương chính trị và hợp tác
nhiều Đảng được làm rõ.
Tháng 10/1992, Đại hội XIV Đảng cộng sản Trung Quốc đưa "Chế
độ Hiệp thương chính trị và hợp tác nhiều Đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng
cộng sản" vào bản "Điều lệ Đảng cộng sản Trung Quốc"; đồng thời xác
định mục tiêu của cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc là: Lấy việc
hoàn thiện chế độ Đại hội đại biểu nhân dân, chế độ Hiệp thương chính trị
nguyên hóa của Đảng vì thế trở thành sự lãnh đạo của cá nhân. Vấn đề này
không được giải quyết căn bản thì sẽ dẫn đến chủ nghĩa quan liêu làm tổn
hại đến sinh hoạt dân chủ, lãnh đạo tập thể, chế độ tập trung dân chủ và chế
độ phân công phụ trách cá nhân của Đảng và chính quyền các cấp.
b) Vấn đề "Đảng và chính quyền không tách rời"
Đây là vấn đề đã tồn tại lâu dài ở Trung Quốc, đồng thời cũng là
vấn đề mấu chốt cần giải quyết trong quá trình cải cách thể chế chính trị.
Tuy nhiên, trong tiến trình cải cách thể chế chính trị trong thời gian
qua, việc cải cách này gặp khá nhiều khó khăn và trì trệ. Thậm chí những
năm trước đây ở Trung Quốc còn xuất hiện chủ trương và cách làm "hợp
nhất Đảng với chính quyền", "nhất thể hóa Đảng với chính quyền"; có ý
kiến còn cho rằng tách rời Đảng và chính quyền là không phù hợp, không
khoa học.
Hiện nay vấn đề này vẫn tiếp tục được đặt ra, song giải quyết thì
hoàn toàn không đơn giản.
17
c) Vấn đề đi từ "nhân trị" tới "pháp trị"
Trung Quốc là nước có truyền thống chuyên chế phong kiến lâu dài,
thâm căn cố đế, tàn dư của rất nặng nề.
Sau khi lập nước, mặc dù Đảng cộng sản Trung Quốc đã cầm quyền
(1949), nhưng trong một thời gian dài vẫn tồn tại nhận thức cho rằng: Pháp
luật là do con người chế định ra, cuối cùng cũng dựa vào con người để chấp
hành và tuân thủ. Do vậy, trong quan hệ giữa pháp luật với con người, cần
phải chủ yếu dựa vào con người, phát huy vai trò của con người. Do ảnh
hưởng của nhận thức này nên trong một thời gian dài, Trung Quốc coi nhẹ
việc xây dựng pháp chế XHCN, thậm chí trong gần 30 năm kể từ khi lập
nước, trong lịch sử lập pháp của Trung Quốc chỉ vẻn vẹn 2 bộ luật là bản
thiết của cải cách thể chế chính trị hiện nay ở Trung Quốc.
d) Vấn đề cải cách bộ máy: Tinh giản cơ cấu, cắt giảm nhân viên,
chuyển biến chức năng của chính quyền các cấp
Như đã trình bày, từ khi cải cách mở cửa đến nay, Trung Quốc đã
tiến hành 4 lần cải cách bộ máy Chính phủ. Ba lần cải cách quy mô tương
đối lớn diễn ra vào năm 1982, 1988 và 1983; lần cải cách năm 1998 được
coi là có quy mô lớn nhất, mức độ lớn nhất, song kết quả đều không
được lý tưởng.
Thực tế, Trung Quốc đang phải đối mặt với không ít khó khăn và
thách thức:
- Một trở lực không thể xem thường là số người hưởng lợi ích và có
thế lực vẫn tồn tại khách quan. Nếu họ chưa thông thì sẽ chống lại, trở
thành lực cản ngày càng lớn. Mấy lần cải cách trước vì vấp phải lực cản lớn
nên cuối cùng trở lại điểm ban đầu.
Bên cạnh đó, vấn đề sắp xếp nhân viên dôi thừa cũng đang đặt ra.
Nếu không sắp xếp công việc cho số cán bộ bị tinh giản, tỷ lệ thất nghiệp bị
tăng lên sẽ dễ dẫn tới sự mất ổn định kinh tế - xã hội.
- Một trở lực khác là vấn đề chuyển biến chức năng của Chính phủ:
19
Theo các nhà khoa học Trung Quốc, cải cách bộ máy là phải điều
chỉnh và hợp lý hóa các chức năng quyền hạn của Chính phủ. Sau cải cách,
bộ máy có rất nhiều cơ quan bị sát nhập hoặc thu hẹp lại. Nếu chức năng
vẫn như cũ, vẫn là bao biện tất cả, như vậy cải cách vẫn đi theo lối mòn cũ.
Vì vậy, cải cách bộ máy không chỉ dừng lại ở sự thay đổi về lượng mà
quan trọng hơn là sự thay đổi về chất. Cơ sở kinh tế đã biến thành kinh tế
thị trường, thì Chính phủ với tư cách là kiến trúc thượng tầng cũng phải
xác định lại chức năng của mình. Các căn bệnh của Chính phủ như cơ cấu
hành có kế hoạch, có trật tự trong một môi trường chính trị ổn định.
b) Cải cách thể chế chính trị phải phối hợp với cải cách thể chế
kinh tế, phục vụ cho mục tiêu phát triển sức sản xuất và xây dựng hiện đại
hóa
Cải cách thể chế chính trị cũng như cải cách thể chế kinh tế đều
được bắt đầu tư Hội nghị Trung ương 3 khóa IX (1978). Tuy nhiên, thời
gian đầu công cuộc cải cách ở Trung Quốc nghiêng về cải cách thể chế
kinh tế, chủ yếu là cải cách nông thôn, còn cải cách thể chế chính trị chưa
được đưa vào chương trình của toàn Đảng với những nhiệm vụ cụ thể. Đến
năm 1984, khi cải cách thể chế kinh tế được triển khai toàn diện và ngày
càng đi sâu, nó đặt ra những yêu cầu bức thiết phải cải cách thể chế chính
trị.
Cải cách thể chế chính trị và cải cách thể chế kinh tế phải thích ứng
với nhau, dựa vào nhau, phối hợp với nhau. Điều đó thể hiện ở chỗ: Mộtlà
về mặt nội dung hoặc thực chất, hai cuộc cải cách này phải thống nhất với
nhau, thúc đẩy nhau chứ không phải mâu thuẫn nhau. Hai là trong tiến trình
thực hiện, cải cách thể chế chính trị và cải cách thể chế kinh tế phải đồng
bộ với nhau thì mới bảo đảm sự phối hợp với nhau, thúc đẩy nhau về mặt
nội dung.
c) Phát triển dân chủ phải dưới tiền đề chính trị ổn định, không
chạy theo dân chủ hình thức, không rập khuôn theo mô hình phương Tây
Sau Đại hội XIII Đảng cộng sản Trung Quốc, các nhà lãnh đạo
Trung Quốc chủ trương đẩy nhanh tiến trình cải cách thể chế chính trị.
21
Tuy nhiên, công cuộc cải cách thể chế chính trị ở Trung Quốc đang
được tiến hành thì phải đối mặt với những thử thách to lớn của tình hình
trong nước và ngoài nước. Đó là sự kiện Thiên An Môn mùa hè 1989 và
2. Ý nghĩa đối với việc đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay gồm có Đảng cộng sản, Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, hoạt
động theo cơ chế bảo đảm quyền lực của nhân dân lao động dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Hệ thống chính trị được tổ chức chặt chẽ, có chức năng,
nhiệm vụ rõ ràng, phối hợp hoạt động nhịp nhàng thì quyền lực c ủa nhân
dân được thực hiện, lợi ích của nhân dân bảo đảm, xã hội phát triển.
Trong thời gian qua, thực tế hoạt động của hệ thống này đã bộc lộ
những nhược điểm mà biểu hiện của nó là sự bao biện, chồng chéo chức
năng, nhiệm vụ giữa các tổ chức Đảng, Nhà nước ở các cấp các ngành; là
sự lẫn lộn giữa bộ máy lãnh đạo và quản lý; giữa quản lý hành chính nhà
nước với quản lý sản xuất kinh doanh; là quá trình hành chính hóa Đảng
và các đoàn thể nhân dân; là tệ quan liêu, tham nhũng ngày càng trầm
trọng. Những biểu hiện tiêu cực này làm suy yếu hệ thống chính trị. Bởi
vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định sự cần thiết phải đổi mới hệ
thống chính trị.
a) Trước hết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ nội dung,
phương hướng cụ thể của việc đổi mới kiện toàn hệ thống chính trị
- Về Đảng: Đảng có sứ mệnh lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời
là bộ phận của hệ thống ấy, thường xuyên chịu sự kiểm soát của nhân dân.
Vì vậy phải làm cho Đảng luôn xứng đáng là một Đảng cách mạng theo
chủ nghĩa Mác - Lênin, vững mạnh về tư tưởng chính trị và tổ chức, có
kinh nghiệm và bản lĩnh, không phạm sai lầm về đường lối, gắn bó máu
thịt với nhân dân, nêu tấm gương sáng cho nhân dân về trí tuệ và đạo đức,
xứng đáng là Đảng cầm quyền.
- Về xây dựng Nhà nước
Để Nhà nước ta là một nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân,
một Nhà nước trong sạch vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả, phải thực
điều kiện góp phần tạo sự ổn định chính trị xã hội.
24
Ở nước ta, trong 15 năm đổi mới, quá trình dân chủ hóa mọi mặt
đời sống xã hội đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Bầu không khí dân chủ
bước đầu đã được khởi sắc. Tuy nhiên, xét về nhiều mặt, nền dân chủ ở
nước ta vẫn còn trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm. Trong thực tế, quyền
làm chủ của nhân dân vẫn bị vi phạm, thậm chí bị và phạm nghiêm trọng,
kéo dài, chậm được khắc phục. Tình trạng này nếu cứ tiếp tục kéo dài sẽ
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định chính trị xã hội.
Vì vậy, ổn định chính trị - xã hội không thể không gắn với quá trình
hoàn thiện và phát huy dân chủ XHCN. Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục
khẳng định phương hướng cơ bản của việc đổi mới hệ thống chính trị và
thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội ở Việt Nam. Trong điều kiện CNXH
bị khủng hoảng, kẻ thù tăng cường diễn biến hòa bình, Việt Nam đã thận
trọng, làm từng bước không gây rối loạn xã hội, không làm mất phương
hướng chính trị, dựa trên sự đổi mới có hiệu quả về kinh tế góp phần ổn
định, phát triển xã hội.
25