TIỂU LUẬN PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật, VAI TRÒ và ý NGHĨA của nó đối với CÔNG CUỘC đổi mới ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến và về sự
phát triển. Xét trên nhiều phương diện phép biện chứng duy vật có ý nghĩa thế
giới quan và phương pháp luận rộng lớn như bản thân triết học. Phép biện chứng
duy vật mácxit do C.Mác, Ph.Ăngghen sáng lập và V.I.Lênin bảo vệ, phát triển
là sự kế thừa có chọn lọc các tư tưởng biện chứng qua nhiều thế kỷ; vạch ra
những đặc trưng bản chất của phép biện chứng khách quan, nghiên cứu quy luật
phổ biến của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; là "chìa
khóa" để giúp giai cấp vô sản nhận thức và cải tạo thế giới. Nắm vững phương
pháp luận là của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để
hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết để chính đảng
cách mạng sáng tạo trong bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong quá trình khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn
vận dụng sáng tạo phép biện chứng duy vật. Do đó, đã xây dựng một cách đúng
đắn đường lối lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước tránh được những sai lầm có
thể xảy ra. Thực tiễn những thành tựu 30 năm đổi mới đã chứng minh điều đó.
Tuy nhiên, trong công cuộc đổi mới có lúc, có nơi, có thời điểm Đảng ta chưa
thực sự quán triệt tốt sự vận dụng phép biện chứng duy vật, còn mắc bệnh giáo
điều, kinh nghiệm, chủ quan, duy ý chí, coi thường quy luật khách quan nhất là
trước đổi mới năm 1986. Thực tiễn đã chứng minh rằng, bệnh chủ quan, duy ý
chí không những chưa được loại bỏ mà ngược lại, có lúc, có nơi việc đề xuất và
thực hiện một số giải pháp, quyết sách còn có biểu hiện nóng vội, thiếu suy nghĩ
gây hậu quả nghiêm trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn ra những biến động hết
sức phức tạp. Đặc biệt cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang biến đổi


hàng ngày, việc quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống xã hội gắn liền nền kinh tế

vận động, biến đổi của sự vật: "Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn
bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng,
trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động,
sự phát sinh và tiêu vong của chung"1
Phép biện chứng có lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện ngay từ thời cổ
đại khi con người bắt đầu tìm hiểu các sự vật trong thế giới và suy xét về chúng.
Từ đó đến nay, lịch sử phát triển của phép biện chứng đã có nhiều hình thức
khác nhau, có thể chia làm ba hình thức cơ bản. Đó là phép biện chứng tự phát,
ngây thơ thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức và
phép biện chứng duy vật.
Đặc trưng cơ bản chung của phép biện chứng cổ đại là tính tự phát, ngây
thơ. Các nhà triết học cổ đại nghiên cứu sự vận động, phát triển củ sự vật, hiện
tượng trong bức tranh chung, chỉnh thể về thế giới. Do trình độ còn thấp kém về
khoa học, nên phép biện chứng cổ đại mới chỉ là những quan điểm biện chứng
mộc mạc, mang tính suy luận, phỏng đoán trên cơ sở những kinh nghiệm trực
giác mà chưa được minh chứng bằng tri thức khoa học.
Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức ra đời cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX mà đỉnh cao là phép biện chứng của Hêghen. Thực chất
phép biện chứng của Hêghen là học thuyết về sự phát triển toàn diện với tư cách
là sự vận động và chuyển hóa về chất, với tư cách là sự đi lên theo bậc thang
logic có tuần tự, về tính chất mâu thuẫn của sự phát triển, bao gồm sự tương tác
giữa các mặt đối lập, sự phủ định tồn tại hiện có và đồng thời là sự giữ lại cái
tính tích cực trong quá khứ, tức là sự kế thừa cái cũ một cách hợp lý. Phép biện
chứng được Hêghen lý giải là phương pháp đúng đắn để nhận biết các vấn đề
triết học, phương pháp tư duy biện chứng của Hêghen có căn cứ đầy đủ, là
phương pháp hoàn thiện chưa từng thấy trong lịch sử triết học trước Mác.
Nhưng do tính hạn chế của các điều kiện lịch sử và thiên hướng dung hòa,

1


C.Mác và Ph.Ăngnghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy
tâm của Heeghen, sau khi tách hạt nhân hợp lý của nó và sau khi đã vứt bỏ lối


giải thích duy tâm về các hiện tượng tự nhiên và xã hội, vứt bỏ lối quy các quá
trình vật chất vào sự vận động logic của tư duy, vào sự tự nhận thức của "ý niệm
tuyệt đối". Nhưng không chỉ cải tạo phép biện chứng duy tâm mà hai ông còn
đồng thời tiến hành cải tạo một cách biện chứng chủ nghĩa duy vật siêu hình
trước đó. C.Mác và Ph.Ăngnghen đã liên kết, thống nhất chủ nghĩa duy vật và
phép biện chứng, đã xây dựng thế giới quan khoa học duy vật biện chứng với tư
cách là một học thuyết về những quy luật chung nhất của sự phát triển tự nhiên,
xã hội và tư duy. Ph.Ăngghen khẳng định: "Có thể nói rằng, hầu như chỉ C.Mác
và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi duy tâm Đức và
đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử'' 1. Phép biện chứng
duy vật Ph.Ăngnghen coi là sự tổng kết toàn bộ quá trình phát triển của triết học
và khoa học tự nhiên, đồng thời là sự khái quát các quy luật khách quan của giới
tự nhiên và xã hội. V.I.Lênin kế thừa tư tưởng C.Mác, Ph.Ăngnghen và phát
triển phép biện chứng duy vật trong điều kiện mới. V.I.Lênin đã nghiên cứu sâu
sắc phép biện chứng duy vật với tính cách là một học thuyết về sự phát triển của
các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Không chỉ dừng lại ở đó,
Người đã nghiên cứu sâu thêm về phép biện chứng chủ quan nghĩa là phép biện
chứng của nhận thức và của tư duy. V.I.Lênin viết: " Phép biện chứng, tức là
học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không
phiến diện"2
1.2 Phép biện chứng duy vật với tính cách là một khoa học
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu và nội dung của phép biện chứng duy vật
* Đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật
Trong tác phẩm "Chống Đuyrinh", Ph.Ăngnghen đã định nghĩa hoàn
chỉnh về phép biện chứng: "Phép biện chứng chẳng qua chỉ là một môn khoa
học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của

thẳng. Quy luật này nói lên khuynh hướng của sự phát triển.
Ba quy luật này không tách rời nhau mà thống nhất với nhau một cách
biện chứng. Song cả ba quy luật cơ bản đó chưa nói hết tính phong phú của sự
vận, phát triển của hiện thực khách quan. Mỗi sự vật, hiện tượng của thế giới là
một chỉnh thể vô cùng phức tạp bao gồm nhiều mặt, nhiều thuộc tính, nhiều mối
liên hệ. Có những mặt, những mối liên hệ bản chất và sự tác động lẫn nhau của
những mặt khác có vai trò nhất định trong sự vận động, phát triển của sự vật.
Những mặt, những mối liên hệ bản chất đó được khái quát thành những cặp
phạm trù của phép biện chứng duy vật như cái chung và cái riêng, bản chất và
hiện tượng, nguyên nhân và kết quả…mối liên hệ biện chứng giữa những mặt
đối lập đó được coi là những quy luật không cơ bản của phép biện chứng duy
vật.


* Phương pháp đặc thù của phép biện chứng duy vật: Đó chính là phương
pháp biện chứng duy vật, là phương pháp duy nhất của nhận thức khoa học và
hoạt động thực tiễn. Đây là phương pháp phản ánh đúng quy luật khách quan
của bản thân thực tại. Thông qua những nguyên lý, quy luật và các phạm trù,
phép biện chứng duy vật rút ra được phương pháp luận chung nhất định hướng
cho chủ thể trong nhận thức cũng như hành động. Đó là phương pháp luận xem
xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể
và phải gắn với tình hình thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn.
1.2.2 Tính khoa học và cách mạng của phép biện chứng duy
* Tính khoa học của phép biện chứng duy vật
Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là một cuộc cách mạng trong tư
duy triết học. Đó là sự kế thừa một cách có chọn lọc những thành tựu của phép
biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại, cải tạo với cách thức phủ định biện
chứng hệ thống phép biện chứng trong nền triết học cổ điển Đức để xây dựng
một phương pháp tư duy khoa học mới về chất so với các hình thức biện chứng
trước đó. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, phép biện chứng đã trở thành

khẳng định phép biện chứng là một khoa học nghiên cứu quá trình biện chứng
khách quan của sự vật và quá trình biện chứng chủ quan của tư duy. Do đó, phép
biện chứng đã trở thành một khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất
của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Phép biện chứng duy vật có vị trí, vai trò rất quan trọng trong chủ nghĩa
Mác. Lênin đã khẳng định phép biện chứng duy vật là "linh hồn của chủ nghĩa
Mác" và làm cho toàn bộ học thuyết Mác không phải là một giáo điều mà là kim
chỉ nam cho mọi hoạt động.
* Tính cách mạng của phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật ra đời đánh dấu một mốc son trong lịch sử phát
triển của phép biện chứng. Phép biện chứng duy vật khác hẳn về chất so với các
hình thức phép biện chứng trước đó. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học phép
biện chứng được phát triển một cách hoàn bị cả về lý luận và thực tiễn dựa trên


nền tảng của chủ nghĩa duy vật. Nó đã chứng minh được tính hơn hẳn, tính khoa
học và cách mạng. Đã khắc phục những hạn chế về mặt nhận thức của phép biện
chứng cổ đại, lật đổ phép biện chứng duy tâm khách quan và thay thế vào đó là
phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật là một hệ thống hoàn chỉnh,
phản ánh đúng bản chất của thế giới là sự thống nhất ở tính vật chất của nó, là sự
liên hệ, vận động, chuyển hóa và phát triển không ngừng. Phép biện chứng ra
đời như một vũ khí sắc bén để phê phán bọn chủ nghĩa giáo điều, rập khuôn,
máy móc duy ý chí, kinh viện không thấy được bản chất khoa học, cách mạng
của phép biện chứng duy vật.
Phép biện chứng duy vật ra đời trong phong trào đấu tranh cách mạng,
phép biện chứng duy vật còn là sự thống nhất giữa thế giới quan, phương pháp
luận triết học với tinh thần cách mạng triệt để. Về bản chất phép biện chứng là
hệ thống lý luận khoa học cách mạng, nó liên hệ mật thiết với phong trào đấu
tranh cách mạng của giai cấp vô sản và quần chúng nhân dân lao động, chống lại
mọi áp bức bóc lột và những bất công trong xã hội đương thời.

phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người mang
tính đúng đắn, khách quan và khoa học hơn.
2. Vai trò của nghiên cứu phép biện chứng duy vật đối với nhận thức
công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1 Nghiên cứu phép biện chứng duy vật là cơ sở nhận thức tính tất yếu
của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương
pháp, nó phản ánh đúng đắn thế giới khách quan và chỉ ra cách thức định hướng
cho con người trong nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy
vật là lý luận nhận thức khoa học, cách mạng, là một hệ thống đồ sộ, sâu sắc, đó
là sự thống nhất giữa phép biện chứng với lôgic và lý luận nhận thức.
Nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc và
thụ động mà là một quá trình biện chứng, tích cực sáng tạo, quá trình nhận thức
diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư
duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng


đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn. Vì vậy, "trong
lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả lĩnh vực khác của khoa học, cần suy
luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là
bất di bất dịch và có sẵn, mà xem xét sự hiểu biết nảy sinh ra từ sự không hiểu
biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở thành đầy đủ
hơn và chính xác hơn như thế nào1. Nghĩa là, chủ nghĩa duy vật áp dụng phép
biện chứng vào lý luận phản ánh, lý luận nhận thức. Trong chủ nghĩa duy vật
biện chứng có sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic
biện chứng. Khác với lôgic hình thức là một bộ môn khoa học nghiên cứu các
hình thức và quy luật của tư duy như sự phản ánh của sự vật, hiện tượng ở trong
trạng thái ổn định tương đối, lôgic biện chứng nghiên cứu các hình thức và quy
luật của tư duy như sự phản ánh sự vật, hiện tượng trong sự vận động, phát triển
của chúng. Do lôgic biện chứng không thể không dựa trên những quy luật và phạm

điểm đó đã làm cho sản xuất bị kìm hãm, mất cân đối ngày càng lớn, năng suất,
chất lượng, hiệu quả ngày càng giảm sút. Trong khi đó, tình trạng không có việc
làm ngày càng gia tăng, các giá trị tinh thần, đạo đức bị xói mòn, nhân dân hoài
nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.
Thế giới đang từng ngày, từng giờ thay đổi nhanh chóng, các nước xã hội
chủ nghĩa đã khẳng định được tính ưu việt của mình về mọi mặt so với chủ
nghĩa tư bản trên thực tế. Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết, là vấn đề
có tầm quan trọng sống còn. Yêu cầu đó vừa là đòi hỏi bên trong của nền kinh
tế nước ta, vừa phù hợp với xu thế của thời đại. Chỉ có đổi mới cách nghĩ, cách
làm, đổi mới tư duy nhất là tư duy kinh tế, chúng ta mới có thể thoát khỏi tình
trạng khó khăn hiện nay.
2.2 Nghiên cứu phép biện chứng duy vật nâng cao nhận thức nội dung,
bản chất công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Công cuộc đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnh đạo diễn ra
toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Đổi mới để phát triển kinh tế, xây dựng đời
sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Quá trình đổi mới phải có ánh sáng
của lý luận soi đường, tránh được những bước đi sai lầm, mò mẫm, không có
phương hướng. Chính vì như vậy, Đảng ta đã xác định, đổi mới phải lấy chủ
nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ


nam cho mọi hành động. Để có một phương pháp, lý luận khoa học trong xem
xét thực tiễn đổi mới cũng như đánh giá quá trình đổi mới như thế nào đòi hỏi
phải có quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử cụ thể, phải có triết học Mác,
phép biện chứng duy vật - hạt nhân của chủ nghĩa Mác. Có nghĩa là, quá trình
đổi mới cần phải có phép biện chứng duy vật.
Đại hội VI của Đảng năm 1986 đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất
nước, bao gồm đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phương pháp
lãnh đạo và phong cách công tác. Trước hết, cần khẳng định rằng, toàn diện
không đồng nhất với dàn đều mà phải có sự kết hợp giữa trọng điểm và toàn

thức, thay đỏi tư duy đặc biệt là tư duy kinh tế.
Thực tiễn trong những năm qua chỉ ra rằng, do chúng ta mắc phải những
sai lầm, chủ quan, nóng vội, không tôn trọng thậm chí làm trái quy luật khách
quan, đồng thời lại bảo thủ, trì trệ nên đã duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp. Do đó, chúng ta cần phải vận dụng đúng đắn, sáng tạo quy luật
khách quan để phát triển kinh tế, điều chỉnh các chính sách kinh tế phù hợp với
sự phát triển của đất nước. Để có được điều đó, rất cần phải vận dụng tư tưởng
biện chứng vào công cuộc đổi mới và chú trọng phát triển kinh tế.
Xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát
triển của phép biện chứng duy vật, chúng ta đã khái quát được bức tranh toàn
cảnh, chằng chịt những mối liên hệ và sự vận động phát triển giữa các nền kinh
tế trên thế giới. Nền kinh tế nước ta trước đây là nền kinh tế tự cung, tự cấp. Ở
chừng mực nhất định Nhà nước thực hiện chính sách đóng cửa chỉ liên hệ với
các nước xã hội chủ nghĩa, không thấy được mối quan hệ giữa nền kinh tế nước
ta với nền kinh tế các nước phát triển. Vì vậy, chúng ta không thể tiếp thu được
hết các thành tựu khoa học và công nghệ của nhân loại để vận dụng, ứng dụng
vào nền kinh tế trong nước.
Có thể nói, trước đây Đảng và Nhà nước ta chưa có cái nhìn toàn diện
trong đầu tư phát triển kinh tế, coi trọng việc phát triển công nghiệp nặng, xem
nhẹ công nghiệp tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối không hợp lý tất cả
mọi sinh hoạt tiêu dùng đều thông qua tem phiếu, phủ nhận nền kinh tế hàng hóa


cũng như sở hữu tư nhân. Từ đó, nảy sinh mâu thuẫn nhu cầu và lợi ích, làm thui
chột sức sáng tạo của con người và do đó, nền kinh tế của nước ta ngày càng trở
nên trì trệ, lạc hậu. Vì vậy, đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế có ý nghĩa
vô cùng to lớn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta là một quá trình chuyển
đổi căn bản, toàn diện các hoạt động kinh tế nhằm tạo ra những năng suất lao
động cao. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta xác định: công nghiệp hóa phải gắn
liền với hiện đại hóa. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa bảo đảm cho lực lượng sản

hướng tự phát lên chủa nghĩa tư bản với xu hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội.
Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn này mới bảo đảm yêu cầu của quá trình lịch
sử tự nhiên trong sự phát triển cách mạng nước ta, trong đó tính chủ động, sáng
tạo và tự giác của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định.
Đổi mới chính trị phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững được nền
tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngược lại, nếu đổi
mới mà xa rời nền tảng tư tưởng đó sẽ làm mất sự lãnh đạo độc tôn của Đảng
đối với công cuộc đổi mới dẫn đến mất ổn định chính trị, đổi mới không thành
công. Có thể khẳng định, ổn định về chính trị là điều kiện cần thiết cho sự phát
triển nền kinh tế thị trường, thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài. Sự ổn định
không có nghĩa là "đứng im", bất biến mà đó là sự vận động, đổi mới với
phương trâm từng bước có kế hoạch phù hợp với nhịp độ phát triển kinh tế xã
hội.
Đổi mới chính trị cần kết hợp một cách chặt chẽ và đồng bộ với đổi mới
nền kinh tế, giáo dục đào tạo, văn hóa…phải tiến hành đấu tranh kiên quyết,
thường xuyên và có hiệu quả, đấu tranh chống mọi tiêu cực của xã hội, đấu tranh
ngay trong bản thân từng ngành, từng lĩnh vực, từ trung ương đến địa phương.
2.2.3 Trong lĩnh vực văn hóa - tư tưởng
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nó được thể hiện ở tầm cao và
chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt
đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, giữa xã hội với tự nhiên.


Trong Đại hội IX của Đảng, Đảng ta đã xác định văn hóa vừa là mục tiêu
vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hôị, để văn hóa phát huy được vai trò,
động lực phát triển kinh tế xã hội của đất nước và trở thành nền tảng tinh thần
của xã hội hiện đại thì không thể không đổi mới nền văn hóa. Đổi mới nền văn
hóa phải tuân theo nguyên tắc phát triển. Nguyên tắc này đòi hỏi khi xem xét
nền văn hóa phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng, phải
vạch ra cái tương lai trong cái hiện tại, tìm ra các nhân tố mới đang tiềm ẩn.

Trước đổi mới, nước ta đã bộc lộ những hạn chế trong mối quan hệ giữa triết
học và khoa học tự nhiên bị lỏng lẻo do không nắm bắt được các thành tựu của
khoa học tự nhiên hiện đại, do đó không kịp khái quát về mặt triết học những thành
tựu ấy để bổ sung vào kho tàng phép biện chứng. Nhận thức lỗi thời đã trở thành
vật cản sự phát triển khoa học kỹ thuật. Từ đó nảy sinh mâu thuẫn giữa tình trạng
lạc hậu của nước ta với sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trên
thế giới. Để giải quyết mâu thuẫn đó đòi hỏi phải bám sát thực tiễn và tổng kết các
thành tựu khoa học, hình thành nên lý luận mới bổ sung vào lý luận phép biện
chứng. Đòi hỏi yêu cầu đặt ra cho nước ta phải thực hiện đổi mới trên lĩnh vực
khoa học và công nghệ. Đổi mới khoa học và công nghệ là quá trình sử dụng
những tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại để xây dựng phát triển nó, làm cho
nó đủ sức giải quyết những vấn đề do thực tiễn xây dựng đất nước đặt ra.
Tóm lại, đổi mới là một quá trình phức hợp mà nội dung của nó được thể
hiện dưới những hình thức cụ thể đa dạng đổi mới kinh tế gắn liền với công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, đổi mới chính trị gắn với dân chủ hóa, đổi mới văn hóa
gắn với cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa. Vì vậy, không đồng nhất chúng với
nhau, cũng không được tác rời chúng, đối lập chúng. Mỗi hình thức có vị trí, vai
trò, nội dung nhất định, luôn tác động lẫn nhau để tạo nên sự phát triển của toàn
bộ xã hội.
2.3 Nghiên cứu phép biện chứng duy vật nâng cao trình độ đánh giá
công cuộc đổi mới ở nước ta
Vận dụng phương pháp lý luận phép biện chứng duy vật vào xem xét
đánh giá thực tiễn, để nhằm khắc phục những sai lầm khuyết điểm trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ đó, khắc phục những tư tưởng
phiến diện, chủ quan, nóng vội duy ý chí, đốt cháy giai đoạn.


Trước bối cảnh quốc tế, chủ nghĩa xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng
trầm trọng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ khiến cho đất nước
ta giai đoạn đó gặp rất nhiều khó khăn, thử thách làm cho sự phát triển của đất

khóa, kim chỉ nam mở đường đi cho công cuộc mới giành thắng lợi.
Chính vì thế, Đảng ta đã có cách nhìn toàn diện mọi mặt đời sống xã hội
trong mối liên hệ mật thiết, tạo nên sức mạnh để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đó là sự cộng hưởng của nhiều mặt, nhiều lĩnh vực tạo nên sức mạnh tổng hợp
giúp chúng ta thực hiện thắng lợi chặng đường đầu tiên, bước đi đầu tiên trong
thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.
Nhận thức rõ điều đó, Đại hội Đảng lần thứ VI đã đề ra đường lối đổi mới
toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Tại các Đại hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX
Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định và bổ sung, thể chế hóa bằng các chủ trương,
đường lối trên những lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng an ninh.
Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định: "chỉ có đổi mới thì mới thấy đúng
và thấy hết sự thật, thấy những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa
chữa nhằm vận dụng tốt chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh nước ta. Muốn
thế, phải đấu tranh chống cái cũ, chống bảo thủ trì trệ, chống giáo điều rập
khuôn, chống chủ quan nóng vội, chống tha hóa biến chất, chống những thói
quen lỗi thời dai dẳng. Đây là cuộc đấu tranh cách mạng gian khổ, diễn ra trên
mọi lĩnh vực và trong bản thân từng người của chúng ta" 1. Thực tiễn đã chứng
minh quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi chúng ta phải đổi
mới trên nhiều mặt, đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, đổi mới phong cách
làm việc, đổi mới tổ chức cán bộ …
Qua công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta thấy được vai trò quan trọng
của phép biện chứng duy vật với phương pháp biện chứng trong xem xét, đánh
giá thực tiễn cách mạng của nước ta, để từ đó có cách làm, cách đi phù hợp với
thực tiễn. Điều đó, đã góp phần đưa công cuộc đổi mới gặt hái được những
thành công đáng kể.
1

1. C.Mác và Ph. Ăngghen, Toàn Tập, Tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1994, tr. 8.




yêu cầu của công cuộc đổi mới với tình trạng thiếu giá đỡ về mặt lý luận. Như
vậy, đổi mới không phải là giản đơn. Đổi mới phải là con đường quanh co, phức
tạp, đầy rẫy những khó khăn nhiều giai đoạn, nhiều mặt, nhiều lĩnh vực. Đổi
mới phải từng bước đi lên đồng bộ, toàn diện. Để giải quyết được bài toán này
đòi hỏi Đảng ta phải có tư duy biện chứng khoa học, lấy phương pháp luận phép
biện chứng làm cơ sở. Đổi mới phải thực hiện đồng thời các nội dung cơ bản của
công cuộc đổi mới đất nước.
Muốn có một cách nhìn bao quát nhất, tổng quát để có thể khái quát thành
chủ trương chính sách, cụ thể hóa thành đường lối lãnh đạo của Đảng, không thể
nào khác ngoài triết học mà cụ thể là phép biện chứng duy vật. Phép biện chứng
duy vật trang bị cho chúng ta phương pháp luận biện chứng, để lý giải các vấn
đề xã hội nảy sinh. Ý nghĩa của phép biện chứng duy vật không chỉ tồn tại trong
quá trình đổi mới mà còn có sức sống trường tồn của chủ nghĩa xã hội, cùng với
sự phát triển đất nước, thực tiễn đổi mới sẽ bổ sung và phát triển thêm lý luận
đó. Với ý nghĩa như vậy phép biện chứng duy vật luôn là mạch sống chảy mãi
trong lòng chảy của quá trình vận động, phát triển của công cuộc đổi mới của
cách mạng Việt Nam. Nhờ sức sống như vậy phép biện chứng duy vật ăn sâu,
bám rễ vào trong tư tưởng của Đảng ta, trang bị cách nhìn toàn diện, bao quát
tình hình thế giới và tình hình trong nước, để từ đó chúng ta có bước đi phù hợp
với sự phát triển của thế giới.
Để thực hiện công bằng xã hội, mọi người ai cũng được hạnh phúc, ấm no
Đảng ta đã tiến hành công cuộc đổimới tiếp tục thực hiện ba cuộc cách mạng:
cách mạng về quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, cách mạng về tư tưởng văn
hóa, trong đó cách mạng quan hệ sản xuất là quan trọng nhất. Tiến hành nó phải
đòi hỏi toàn tâm, toàn lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Mỗi ngành
khoa học đều có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc đổi mới, phép biện chứng
duy vật với tính chất là một khoa học cũng có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với
công cuộc đổi mới ở nước ta. Trước hết, khi nói đến ý nghĩa và sự cống hiến của

nền tảng tư tưởn, kim chỉ nam mọi hành động, nhưng lại không máy móc, giáo
điều. Đổi mới những không đổi màu, kiên trì mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status