biện pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại trường PTDTNT trung học cơ sở huyện krông ana - Pdf 69

Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”

PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Cơ sở khoa học
A.

I.
1.

Học sinh trung học cơ sở (THCS) người dân tộc thiểu số (DTTS) cũng có
những đặc điểm tâm lí chung như những học sinh THCS người Kinh cùng trang
lứa. Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm chung đó các em có những nét đặc
trưng riêng, những đặc trưng mang tính của tộc người và những đặc trưng do
điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa tạo nên. Trong phạm vi bài viết này, tôi dựa
trên những đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THCS người DTTS và đi sâu tìm
hiểu và phân tích một số đặc điểm tâm lí tiêu biểu mà ở trường PTDNT
THCSKrông Ana vùng dân tộc và miền núi nơi tôi quan tâm để trong quá trình tổ
chức các hoạt động dạy học và giáo dục kỷ luật.
Là cán bộ quản lí, giáo viên công tác ở trường PTDTNT THCS cấp
huyện, việc hiểu những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS là rất
cần thiết.
Nắm được những đặc điểm tâm lí của học sinh THCS người DTTS giúp
cho giáo viên lựa chọn được những phương pháp giáo dục thích hợp với từng đối
tượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sang tạo của học
sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
đặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana


P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

2


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
rai, Tày, Nùng, Mường, Thái… Nên mỗi dân tộc, mỗi địa phương có phong tục
tập quán, ngôn ngữ khác nhau. Khi mới vào trường PTDTNT THCS các em còn
nhỏ (độ tuồi từ
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

4


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
đồng sư phạm bao gồm đầy đủ các nội dung như kiểm tra giám sát việc thực
hiện, khen thưởng, tôn vinh những giáo viên thực hiện tốt, kỷ luật nghiêm khắc
những giáo viên vi phạm nội quy. Việc nhà trường thực hiện tốt cơ chế này sẽ
đảm bảo tất cả học sinh để được hưởng lợi ích của biện pháp giáo dục tích cực.
+ Tuyên truyền tới phụ huynh:
+ Tổ chức tuyên truyền cho phụ huynh về GDKTTC thông qua các buổi
họp phụ huynh, các buổi hội thảo, tọa đàm…
+ Mời phụ huynh tham gia vào quá trình thực hiện. Ví dụ: Lấy ý kiến của
phụ huynh đóng góp cho nội quy lớp/ trường học để phụ huynh năm được và
phối hợp với nhà trường trong việc theodõi, giám sát thực hiện.
+ Mời phụ huynh tham gia vào các hoạt động tập thể do nhà trường / lớp tổ
chức.
+ Tuyên truyền bằng tờ rơi bằng cách gửi trực tiếp cho phị huynh, bằng áp
píc treo ở các trung giáo dục cộng đồng hay các nhà văn hóa của các thôn buôn


Đối với giáo viên:
Khi GDKLTC cho học sinh giáo viên cần thực hiện các nội dung sau:
+ Dạy trẻ tự hiểu hành vi của mình, tự có các sáng kiến và có trách nhiệm

đối với sự lựa chọn của mình, biết tôn trọng mình, biết tôn trọng mình và tôn
trọng người khác. Nói cách khác giúp trẻ có một quá trình phát triển tư duy và có

III.

Đối tượng nghiên cứu:

Giáo dục kỷ luật tích cực cho học sinh dân tộc thiểu số trường PTDTNT
THCS HuyệnKrông Ana từ năm học 2015-2017.
IV.

Giới hạn của đề tài:

Học sinh trường PTDT nội trú Krông Ana, thực hiện áp dụng từ năm học 2015 2017.
V.

Phương pháp nghiên cứu:

Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

6


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Đề tài được thực hiện bằng cách đem lý thuyết áp dụng vào thực tế, có
điều chỉnh bổ sung và từ thực tế rút ra những kinh nghiệm trong quá trình thực
hiện.
Quá trình nghiên cứu, thực hiện sử dụng các phương pháp sau:
Viết thành chuyên đề để cán bộ, giáo viên, phụ huynh và học sinh thảo
luận, bàn bạc và góp ý cụ thể từng nội dung.Tổ chức chuyên đề phổ biến cho
toàn thể cán bộ, giáo viên nắm vững nội dung để thực hiện.

trừng phạt” đặc biệt trừng phạt thân thể. Tuy nhiên, đó không phải là nghĩa thực
của từ “kỷ luật” đối với học sinh.
Quan điểm của giáo dục kỷ luật tích cực là: Việc mắc lỗi của học sinh
được coi như lẽ tự nhiên của quá trình học tập và phát triển. Nhiệm vụ quan
trọng của chúng ta là làm thế nào để học sinh tự nhận thức được bản thân, tự
kiểm soát được hành vi, thái độ, trên cơ sở các quy định, quy ước đã được xây
dựng, thỏa thuận giữa người dạy và người học. Khi học sinh mắc lỗi, giáo viên là
bạn, là anh, là chị, người mẹ, người cha – chỉ cho các em nhận ra lỗi của mình để
tự điều chỉnh. Việc tự nhận ra lỗi để điều chỉnh bản thân là cơ sở cho sự phát
triển hoàn thiện nhân cách. Kỷ luật tích cực mang tính xây dựng và là biện pháp
hiệu quả, nhằm tìm ra giải pháp giải quyết các tình huống mang tính thách thức
trong lớp học và trong nhà trường. Giáo dục kỷ luật tích cực hỗ trợ việc dạy học
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

8


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
và giáo dục các em học sinh DTTS. Giáo dục kỷ luật tích cực còn xây dựng sự tự
tin của học sinh và long ham thích học tập cho các em.
2

Giáo dục kỷ luật tích cực là gì?

Giáo dục kỷ luật tích cực là:
-

Những giải pháp mang tính dài hạn giúp phát huy tính kỷ luật tự giác của học


9


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
-

Những phản ứng mang tính ngắn hạn hay những hình phạt thay thế cho việc tát,
đánh hay sỉ nhục.
II. Thực trạng
1. Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh
Thực trạng về tâm sinh lý của học sinh THCS người DTTS được mô tả
một số nội dung dưới đây:
1.1 Một số vấn đề về tri giác:
Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan.
Nghiên cứu đặc điểm tri giác của học sinh THCS người DTTS có thể rút
ra một số nhận xét sau:
Độ nhảy cảm của thính giác của các em rất cao, mắt các em rất tinh. Tai và mắt
của các em rất tinh nhạy la do từ nhỏ các em đã theo người lớn vào rừng săn bắn,
bẫy chim, tìm cây, tìm rau rừng… nên hình thành thói quen tri giác tập trung, khả
năng phân biệt sự vật và hiện tượng tốt. Nghe tiếng chim hót các em có thể nhận
ra đó là chim gì, nhìn vết chân các em biết đó là loài thú gì, các em có thể phát
hiện những con vật nhỏ bé như con vắt, con kiến… Giác quan tinh, nhạy là điều
kiện thuận lợi cho các em tri giác đối tượng trong học tập và biết vâng lời thầy
cô giáo.
Sự định hướng tri giác theo nhiệm vụ (học tập) đặt ra chưa cao. Các em
thường bịthuhút vào những thuộc tính rực rỡ, màu sắc mới lạ ở bên ngoài đối
Người thực hiện: Võ Đại Luân


11


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
tiếp bằng tiếng mẹ đẻ. Khi đến trường các em học bằng tiếng Việt, các em đã gặp
khó khăn về ngôn ngữ trong học tập và giao tiếp.
Qua thảo luận nhóm với học sinh, qua xem bài kiểm tra của các em, xem
vỡ ghi chép hàng ngày của các em và quan sát các em giao tiếp với nhau… Từ
đó có thể kết luận nhận thức về ngôn ngữ tiếng Việt của học sinh DTTS:
-

Vốn tiếng Việt của học sinh DTTS còn nghèo nàn;
Các em hiểu rất ít về ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt;
Khó khăn trong tư duy và nhận thức khoa học.
Theo nhận thức của tôi, tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh dân
tộc nhưng không phải là ngoại ngữ. Học sinh dân tộc tiếp nhận tiếng Việt là tiếp
nhận với trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ và quyền lợi. Tiếng Việt và các tiếng
dân tộc cũng có nhiều điểm gần gũi về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Vấn đề quan
trọng là giáo viên cần giúp học sinh khắc phục những chuyển di ngôn ngữ có hại
và khai thác tốt các chuyển di ngôn ngữ có lợi, tôi nghĩ rằng chúng ta coi nhẹ
khó khăn hay quá nhấn mạnh khó khăn của học sinh dân tộc khi học tiếng Việt
đều là không đúng với khoa học dạy tiếng.
1.3 Đặc điểm về tư duy:
Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất,
những mối liên hệ bên trong có tính chất quy luật của sự vật hiện tượng trong
hiện thực khách quan mà trước đó chưa biết. Học sinh DTTS có các đặc điểm tư
duy riêng biệt sau:


13


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
dục yêu cầu các em nhớ mình phải làm cái gì, dựa vào đâu để làm được, làm thế
nào để không vi phạm kỷ luật.
Khả năng tái hiện không tốt. Biểu hiện là do các em trình bày lại vấn đề
đã các em đã đọc là rất khó khăn. Vậy để giúp học sinh tái hiện nhanh chóng
giáo viên cần hướng dẫn học sinh có thói quen truy bài, trao đổi bài thường
xuyên, phát biểu trước đám đông…
1.5 Đặc điểm về tình cảm:
Học sinh DTTS có những đặc điểm về tình cảm như sau:
Tình cảm của các em là chân thực, mộc mạc, yêu ghét rõ ràng, không có
hiện tượng quanh co, lèo lái hoặc khéo léo che đậy những tình cảm của mình.
Tình cảm của các em rất thầm kín.
Các em học sinh rất gắn bó với gia đình, làng bản, quê hương. Hầu hết
các em không muốn xa gia đình. Khi phải đi học ở trường PTDTNT THCS các
em rất nhớ nhà, nhiều khi khóc cả tuần.
Tình cảm bạn bè của các em học sinh DTTS rất độc đáo, thân nhau như
anh em, bảo vệ nhau đến cùng. Bạn nghỉ học cũng phải nghỉ học theo.
Các em rất ưa tình cảm và giải quyết mọi vấn đề bằng tình cảm. Một em
gái dân tộc nói “Khi giáo viên mắng, em thấy buồn và không muốn học nữa”
Sự phát triển cơ thể của thiếu niên diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân
đối. Sự hoạt động tổng hợp của các tuyến nội tiết quan trọng nhất (tuyến yên,

Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana



Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
thành nhu cầu Tiếng Việt cho học sinh DTTS. Tuy nhiên, đối với học sinh DTTS,
tiếng mẹ đẻ đã có chiều sâu nhất định, do vậy không thể hạn chế, cưỡng ép, xóa
bỏ thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ trong học tập.
Quan trọng là hình thành cho học sinh một cách nhìn mới về giá trị của
ngôn ngữ công cụ và ngôn ngữ mẹ đẻ. Việc hạn chế, cưỡng ép học sinh bỏ thói
quen sử dụng tiếng mẹ đẻ là một hành vi trái với văn hóa, đồng thời với khoa học
dạy tiếng. Tiếng mẹ đẻ của học sinh không phải là hòn đá chặn đường mà chính
là viên đá lát đường dẫn các em nhanh chóng đến với ngôn ngữ thứ hai và đến
với chân trời khoa học. Vấn đề quan trọng ở chổ là chúng ta phải nắm rất chắc
bản chất và các bước đi của giáo dục song ngữ để vận dụng các hoạt động dạy
học trong nhà trường, vì vậy để giáo dục lỷ luật có hiệu quả giáo viên cần phải
biết tiếng mẹ đẻ của dân tộc đó.
Những kích thích bên ngoài không xuất phát từ chính đối tượng của hoạt
động học tập có vai trò quan trọng vì đáp ứng nhu cầu đang có ở học sinh. Nhu
cầu được khen, chiếm được uy tín của bạn bè, nhu cầu được chơi, hoạt động
ngoại khóa… đều có tác dụng tích cực đối với hoạt động giáo dục của học sinh
DTTS. Do vậy việc mở rộng phạm vi nhu cầu như: Tổ chức các hoạt động học
tập thể, lao động, vui chơi, giao lưu, hoạt đ6ọng xã hộ, văn hóa thể thao… là tiền
đề sinh ra nhu cầu mới, nhu cầu nhận thức. Tổ chức giáo dục theo các hình thức
khác nhau như giáo dục tự học, giáo dục học ngoài giờ chính khóa, giáo dục qua

Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

16



trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
hút học sinh vào hoạt động tập thể, làm cho học sinh nào cũng nhìn thấy rõ kết
quả học tập của mình thì các em yên tâm học tập hơn.
Từ những đặc điểm nhu cầu của học sinh DTTS, có thể nhận xét như sau:
Nhu cầu học tập của học sinh DTTS đã đáp ứng và phát triển nhờ vào
giải pháp xây dựng trường PTDTNT THCS. Đây là biện pháp có tính chiến lược
quan trọng xét về khía cạnh nhu cầu học tập. Vấn đề quan trọng tiếp theo là tổ
chức học tập, giáo dục có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú
của học sinh. Hình thành và phát triển nhu cầu cho học sinh gắn liền với việc cải
tiến nội dung phương pháp, các hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng cao
kết quả học tập của học sinh thông qua các đa dạng học tập có hiệu quả là hướng
đi quan trọng của lực lượng giáo dục. Nhu cầu giao tiếp của học sinh DTTS phụ
thuộc vào khả năng ngôn ngữ công cụ. Do vậy, trang bị cho học sinh ngôn ngữ
phổ thông là cung cấp cho các em phương tiện giao tiếp cục kỳ quan trọng, để
mở rộng phạm vi nhu cầu, hiệu quả hóa những nhu cầu đặc trưng lứa tuổi và
những nét riêng trong nhu cầu học sinh DTTS hiện nay.
1.8 Đặc điểm về giao tiếp:
Sự hình thành kiểu quan hệ mới: Học sinh người DTTS khi học hết bậc
tiểu học tiếp tục học lên các trường THCS hoặc vào tại trường PTDTNT THCS
cấp huyện, các em có nhu cầu mở rộng mối quan hệ và thực sự có nhiều mối
quan hệ hình thành đối với các em.

Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

18


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”

sớm có tính tự lập từ nhỏ, khi học tiểu học các em tự đến trường không cần phải
người lớn đưa đón như học sinh người Kinh ở thành phố; các em gái đã làm giúp
gia đình được nhiều việc; nhiều em gái dân tộc Mnông có thể biết tự may vá
quần áo cho mình; các em có thể nấu cơm, giặt quần áo… khi học lên THCS các
em đã phát triển về thể lực và sinh lí, do vậy các em càng khẳng định mình là
người lớn.
Quá trình học tập ở trường PTDTNT THCS học sinh được mở rộng tầm
nhìn do môi trường mới đa dạng, phong phú về các hình thức tổ chức học tập,
học trên lớp, ngoài lớp, hoạt động xã hội, trong và ngoài nhà trường, môi trường
giao lưu ngày càng mở rộng. Đối tượng giao tiếp của các em ngày càng đa dạng,
phong phú, cường độ tiếp xúc của học sinh PTDTNT THCS cũng nhiều hơn so
với học sinh trường khác. Do tính chất nội trú, những đặc điểm quản lý tập trung
nên giờ tự học, sinh hoạt của học sinh có sự giao tiếp thường xuyên với các lực
lượng giáo dục. Toàn bộ hoạt động diễn ra trong ngày, trong tuần, trong không
gian nội trú là một môi trường giao tiếp sư phạm có ý nghĩa lớn đối với hệ thống
các trường phổ thong không có sự giúp đỡ, quản lý trực tiếp của các lực lượng
giáo dục đối với các em.
Phương tiện giao tiếp chủ yếu của học sinh trong trường PTDTNT THCS
là dùng Tiếng Việt, tiếng dân tộc dung để sử dùng để giao tiếp giữa các em cùng

Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

20


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
dân tộc. Đây là bước chuyển đổi căn bản về phương thức giao tiếp trong nhà
trường.

Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đặc biệt do sự phát triển của các
mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em đã biểu hiện nhu
cầu tự đánh giá nhu cầu so sánh mình với người khác. Các em đã bắt đầu xem
xét mình, vạch cho mình một nhân cách tương lai, muốn hiểu biết mặt mạnh mặt
yếu trong nhân cách của mình.
Mức độ ý thức của các em cũng có sự khác nhau. Về nội dung, không
phải tất cả là những phẩm chất của nhân cách đều ý thức được hết. Ban đầu các
em chỉ nhận thức hành vi của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối cùng
các em mới nhận thức hành vi của mình, sau đó là nhận thức những phẩm chất
đạo đức , tính cách và năng lực của mình trong những phạm vi khác nhau, cuối
cùng các em mới nhận thức những phẩm chất phức tạp thể hiện nhiều mặt nhân
cách (tình cảm, trách nhiệm, lòng tự trọng…) về cách thức, ban đầu các em còn
dựa vào đánh giá của những người gần gủi và có uy tín với minh. Dần dần các
em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá bản thân. Nhưng khả
năng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa đủ khách quan… do đó, nảy
sinh những xung đột, mâu thuẫn giữa thái độ kỳ vọng của các em đối với địa vị
thực tế của chúng trong tập thể; mâu thuẫn giữa thái độ và các em đối với bản

Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

22


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
thân, đối với những phẩm chất nhân cách của mình và thái độ của các em đối với
người lớn, đối với bạn bè cùng lứa tuổi.
Ý nghĩa quyết định nhất để phát triển tự ý thức ở lứa tuổi này cuộc sống
tập thể của các em, nơi mà nhiều mối quan hệ giá trị đúng đắn, mối quan hệ này

tượng học sinh dân tộc, phát huy được tính tích cực, chủ động, sang tạo của học
sinh, nâng cao được chất lượng và hiệu quả giáo dục ở trường PTDTNT THCS
đặc biệt là giáo dục kỷ luật tích cực.
2.

Thực trạng về cách giáo dục kỷ luật của giáo viên.

Khi chưa nắm biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực nếu có học sinh vi phạm
các quy định, quy tắc của lớp, của trường thì có một vài giáo viên trong xã hội
thường dùng biện pháp trừng phạt thân thể bao gồm: trừng phạt về thể xác (đánh,
véo, dùng vật để đánh, kéo tai, giật tóc, buộc học sinh phải ở trong một tư thế
không thoải mái (quỳ, úp mặt vào tường…) và trừng phạt về tình thân (la mắng,
nhiếc móc, hạ nhục, bỏ rơi, làm cho xấu hổ, chửi rủa làm cho khó xử…)
Trừng phạt về thân thể hay tinh thần đều không phải là giáo dục kỷ luật,
trừng phạt làm đánh mất sự tự tin của học sinh, giảm ý thức kỷ luật và khiến cho
học sinh không thích, thậm chí căm ghét trường học.
Trừng phạt thân thể là việc làm đánh mất danh dự của học sinh, có thể để lại
những vét sẹo trong tâm hồn của học sinh, khiến các em luôn có thái độ thù địch.
Người thực hiện: Võ Đại Luân
P. Hiệu trưởng trường PTDTNT THCS huyện Krông Ana

24


Kinh nghiệm “Giáo dục kỷ luật tích cực đối với học sinh dân tộc thiểu số tại
trường PTDTNT trung học cơ sở huyện Krông Ana”
Ảnh hưởng của trừng phạt đối với hành vi đạo đức lối sống của học sinh
DTTS:
2.1 Việc người lớn trừng phạt thân thể đối với trẻ vô tình đem tới cho trẻ
một thông điêp sai lầm, rằng cứ dùng bạo lực là có thể giải quyết hết mọi việc.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status