(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu lựa chọn loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả bền vững trên địa bàn thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ - Pdf 69

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI NGỌC ÁNH

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN LOẠI HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HIỆU QUẢ BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

BÙI NGỌC ÁNH

NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN LOẠI HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
HIỆU QUẢ BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng


TÁC GIẢ

Bùi Ngọc Ánh


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................ 2
2.1. Mục tiêu tổng quát ............................................................................................ 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................................. 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .............................................................. 3
3.1. Ý nghĩa khoa học .............................................................................................. 3
3.2. Ý nghĩa thực tiễn .............................................................................................. 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................... 4
1.1. Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp ....................................................... 4
1.1.1. Khái niệm về đất và đất nông nghiệp ............................................................. 4
1.1.2. Khái niệm về sử dụng đất nông nghiệp .......................................................... 6
1.1.3. Loại hình sử dụng đất và hệ thống sử dụng đất .............................................. 6
1.1.4. Hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ........................... 9
1.1.5. Khái quát tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và ở Việt Nam .. 15
1.2. Đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững................................................... 19
1.2.1. Khái niệm .................................................................................................... 19
1.2.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo quan điểm sinh thái bền vững ............... 21
1.2.3. Các công trình nghiên cứu về đánh giá sử dụng đất nông nghiệp bền vững ở
Việt Nam ............................................................................................................... 25
CHƯƠNG 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................... 29
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 29

TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 69
PHỤ LỤC


v

DANH MỤC VIẾT TẮT

BVTV

: Bảo vệ thực vật

CPTG

: Chi phí trung gian

FAO

: Food and Agriculture Organization of the United
Nations (Tổ chức nông lương thế giới)

GTGT

: Giá trị gia tăng

GTNC

: Giá trị ngày công

GTSX

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất thị xã Phú Thọ năm 2016 ......................... 35
Bảng 3.2. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp thị xã Phú Thọ ....... 38
Bảng 3.3. Phân vùng kinh tế sinh thái theo đơn vị hành chính ...................... 39
Bảng 3.4. Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của thị xã Phú Thọ........... 40
Bảng 3.5. Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất
nông nghiệp .......................................................................................... 45
Bảng 3.6. Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính (Tiểu vùng 1) ............... 46
Bảng 3.7. Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
(Tiểu vùng 1) ................................................................................ 47
Bảng 3.8. Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp (Tiểu vùng 1) .................................................................... 48
Bảng 3.9. Hiệu quả kinh tế của các cây trồng chính (tiểu vùng 2) ................ 48
Bảng 3.10. Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
(tiểu vùng 2) ................................................................................. 49
Bảng 3.11. Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông
nghiệp (tiểu vùng 2)...................................................................... 50
Bảng 3.12. Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả xã hội sử dụng đất nông
nghiệp........................................................................................... 51
Bảng 3.13. Đánh giá hiệu quả xã hội các loại hình sử dụng đất nông nghiệp ...... 52
Bảng 3.14. Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả môi trường sử dụng đất ..... 54
Bảng 3.15. So sánh mức sử dụng phân bón của các nông hộ với quy trình
kỹ thuật......................................................................................... 56
Bảng 3.16. Lượng thuốc bảo vệ thực vật thực tế sử dụng và khuyến cáo ...... 57
Bảng 3.17. Đánh giá khả năng lựa chọn của các loại hình sử dụng đất
nông nghiệp tại thị xã Phú Thọ ..................................................... 58
Bảng 3.18. Đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp thị xã Phú Thọ
đến năm 2020 ............................................................................... 63


mà đất đai cần đáp ứng. Việc lựa chọn, so sánh các kiểu sử dụng đất hoặc cây trồng
khác nhau phù hợp với điều kiện đất đai là đòi hỏi của người sử dụng đất, các nhà
làm quy hoạch, để từ đó có quyết định đúng đắn, phù hợp trong việc sử dụng đất
mang lại hiệu quả kinh tế và bền vững.


2

Thị xã Phú Thọ thuộc tỉnh Phú Thọ, Việt Nam. Thị xã Phú Thọ nằm ở bờ tả
ngạn sông Thao, trung tâm của tỉnh Phú Thọ. Thị xã Phú Thọ có diện tích tự nhiên là
64,6 km. Theo số liệu thống kê năm 2015, tính trên toàn đô thị, số lao động trong độ
tuổi lao động là 43.161 người, trong đó lao động làm việc trong ngành công nghiệp,
xây dựng là 12.965 người, lao động trong ngành thương mại – dịch vụ là 14.426
người, lao động trong ngành nông ngư nghiệp là 12.833 người. Tỷ lệ lao động phi
nông nghiệp là 68,1%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm gần 39%. Trong đó khu vực
nội thị là: số lao động làm việc trong ngành công nghiệp, xây dựng là 8.485 người,
lao động trong ngành thương mại – dịch vụ là 10.818 người, lao động trong ngành
nông ngư nghiệp là 3.848 người.
- Địa hình: Nằm trong vùng trung du Bắc Bộ. Với địa hình bán sơn địa, điển
hình theo dạng “bát úp”, nằm trên vùng giáp ranh giới giữa Đồng bằng sông Hồng và
vùng đồi núi thấp. Địa hình cao dần về phía Bắc và Tây Bắc, thấp dần về phía sông
Hồng (còn gọi là sông Thao).
- Khí hậu: Thuộc vùng khí hậu Trung Du Bắc Bộ, có nhiều đặc điểm gần với
vùng đồng bằng Bắc Bộ, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 3 năm sau. Nhiệt độ không khí trung bình 23o1. Lượng mưa ngày lớn nhất
701,2 mm, trung bình năm 1.850mm. Số giờ nắng trung bình năm 1.571 giờ.
Nhằm phát huy tối đa nguồn tài nguyên đất nông nghiệp sẵn có, tạo điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội cho thị xã Phú Thọ, dưới sự hướng dẫn của GS.TS.
Nguyễn Thế Đặng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu lựa chọn
loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp hiệu quả bền vững trên địa bàn thị

cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất đạt hiệu quả
cao, bền vững.


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số vấn đề về sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm về đất và đất nông nghiệp
Trong sản xuất nông lâm nghiệp thì đất đai là nhân tố quyết định, có ý nghĩa
vô cùng quan trọng. Trên thế giới, mỗi quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp phát
triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với đời sống con người thì
quốc gia nào cũng thừa nhận, hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền
tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương
thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn lên đất, nhất là đất nông nghiệp. Trong khi đó
đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển
sang các mục đích phi nông nghiệp. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải
tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông
nghiệp. Vì vậy, đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp
bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường
sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới,
đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…gây ảnh hưởng lớn
đến năng suất, chất lượng nông sản.
Đất là nguồn tài nguyên quý báu của quốc gia, là điều kiện tiên quyết của bất
kỳ ngành sản xuất vật chất nào trong xã hội. Hiện có rất nhiều quan niệm khác nhau
về đất.
Theo Docutraiep (1879), là người đầu tiên đã xác định một cách khoa
học cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập, lâu đời do kết quả của
quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất gồm: đá mẹ, sinh vật, khí

với đất trồng trọt ngoài những yếu tố tự nhiên, thì yếu tố con người có ảnh hưởng
mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của đất.
Đối với sản xuất nông lâm nghiệp, đất là một tư liệu sản xuất vô cùng quý
giá, cơ bản và không gì thay thế được, tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, vừa
là công cụ lao động, vừa là đối tượng lao động, quyết định đến năng suất, phẩm chất
của sản phẩm.
Nhìn nhận trên góc độ nghiên cứu về sử dụng đất, đất là một bộ phận quan
trọng của hệ sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt
trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất được
coi như một “hệ đệm”, như một “phễu lọc” luôn luôn làm trong sạch môi trường với


6

tất cả các chất thải do hoạt động sống của sinh vật nói chung và con người nói riêng
trên trái đất.
- Đất nông nghiệp: là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí
nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo
vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi
trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Đất nông nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất tạo ra các sản phẩm thiết
yếu của con người. Đất nông nghiệp ngày càng có những ý nghĩa quan trọng đối với
sự tồn tại, phát triển của xã hội loài người nhất là trong bối cảnh thế giới đang đứng
trước nguy cơ của biến đổi khí hậu thì việc nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả
trong sử dụng đất nông nghiệp là vô cùng cấp thiết.
1.1.2. Khái niệm về sử dụng đất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội. Lịch sử nông
nghiệp là một quãng đường dài thể hiện sự phát triển mối quan hệ giữa con người
với thiên nhiên. Trong hoạt động sống của mình, con người đã tìm ra các phương
thức sản xuất cùng với những biện pháp kỹ thuật tác động lên đất để tiến hành các

Hoặc: LUT là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với
các phương thức quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nhất định.
- Loại sử dụng đất chính (Major type of land use): Là thực trạng sử dụng đất
tổng quát của một vùng đất. Đó là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc
vùng nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa trên cơ sở của sản xuất các cây trồng hàng năm,
cây lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu giải trí nghỉ ngơi…
Tuy nhiên trong đánh giá đất (LE- Land Evaluation), nếu chỉ xem xét việc sử
dụng đất qua các loại hình sử dụng đất chính thì chưa đủ, sẽ có những câu hỏi như
sau được đưa ra trong quá trình đánh giá đất:
- Những loại cây trồng hay những giống loài cây gì sẽ được trồng? điều này rất
quan trọng vì mỗi loài, giống cây khác nhau sẽ đòi hỏi điều kiện đất đai khác nhau.
- Các loại phân bón được dùng đã đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của các loài
cây trồng chưa? Đôi khi sử dụng phân bón không hợp lý còn giảm độ phì của đất.
Để trả lời được những vấn đề nêu trên, cần phải có những mô tả chi tiết hơn
trong việc sử dụng đất, vì vậy một khái niệm “ Loại hình sử dụng đất” (LUT) được
đề cập trong LE.
- Kiểu sử dụng đất: Là sự phân chia chi tiết của các loại sử dụng đất.
Những loại hình của sử dụng đất này có thể hiểu theo nghĩa rộng là các loại
hình sử dụng đất chính (Major type of land use) hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn
với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT), LUT còn có
nghĩa là kiểu sử dụng đất (Land Use Utilization).


8

1.1.3.3. Các thuộc tính cơ bản của loại hình sử dụng đất
Là các đặc tính, tính chất mô tả đặc điểm, hiện trạng của các loại hình sử
dụng đất
Theo H.Hulzing, 1993, loại hình sử dụng đất gồm các thuộc tính cơ bản sau đây:
* Nhóm thuộc tính hạ tầng

- Khả năng lao động: Được biểu thị là số công lao động/LUT theo mùa vụ,
theo năm hoặc theo thời điểm lao động mùa vụ, bao gồm cả lao động của nông hộ
và lao động thuê mướn.
- Kỹ thuật, kiến thức và quan điểm: Sự hiểu biết kỹ thuật và quan điểm sản
xuất của chủ sử dụng đất được biểu thị qua trình độ giáo dục phổ cập và trình độ kỹ
thuật cũng như qua hiệu quả tiếp thu đổi mới và thay đổi sản xuất.
1.1.4. Hiệu quả sử dụng đất và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1. Hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
* Khái quát về hiệu quả
Trong thực tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả. Trước kia người ta thường
quan niệm kết quả và hiệu quả chỉ là một. Sau này khi nhận thức của con người phát
triển cao hơn người ta đã thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả.
Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của
việc làm mang lại.
Việc xác định bản chất và khái niệm hiệu quả cần xuất phát từ những luận
điểm triết học của Mác và những luận điểm lý thuyết hệ thống, nhưng nhìn chung,
hiệu quả là một phạm trù trọng tâm và rất cơ bản của khoa học kinh tế và quản lý.
Việc xác định hiệu quả là việc hết sức khó khăn và phức tạp mà nhiều vấn đề về lý
luận cũng như thực tiễn cũng chưa giải đáp hết được.
Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích sản xuất và phát triển kinh tế xã
hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất và tinh thần của mọi
thành viên trong xã hội. Muốn vậy sản xuất phải không ngừng phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu.
Ngày nay chúng ta sống trong thời đại “một trái đất một gia đình” nên con
người ngày càng nhận thức được các quy luật tự nhiên kinh tế, xã hội và môi
trường. Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế mở như hiện nay thì mọi hoạt động
sản xuất của con người không chỉ quan tâm đến vấn đề kinh tế, xã hội mà vấn đề
môi trường ngày càng trở nên quan trọng đòi hỏi phải được quan tâm đúng mức.
Như vậy, một quan niệm về hiệu quả trong điều kiện hiện nay là phải thoả
mãn vấn đề tiết kiệm thời gian, tiết kiệm tài nguyên trong sản xuất, mang lại lợi ích

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất thu hút được một lượng lớn lao động
của xã hội và các sản phẩm nông nghiệp mang tính đa dạng sinh học. Vì vậy, khi
nghiên cứu hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp, ngoài lợi ích kinh tế đạt được
cần phải xem xét lợi ích xã hội và lợi ích đối với môi trường sinh thái.


11

Như vậy, khi xem xét hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần xem xét hiệu
quả của các phương thức sử dụng đất, hệ thống cây trồng thể hiện qua khả năng sản
xuất hàng hoá, hoà nhập với thị trường trong nước và quốc tế, thực hiện cạnh tranh,
phát huy hết lợi thế so sánh của từng vùng, góp phần công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, khả năng chuyên môn hoá và đa dạng hoá sản phẩm, sử dụng hợp lý
nguồn lao động, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời
bảo vệ môi trường sinh thái. Điều đó có nghĩa là phải đánh giá khả năng thích hợp
của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp với đất đai, đánh giá những tồn dư của
việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp đối với con người và môi trường.
Đánh giá hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp để tìm ra những lợi thế và
hạn chế của các phương thức sản xuất, cơ cấu cây trồng tương ứng với những đặc
điểm, điều kiện của từng vùng, từ đó đánh giá hiệu quả đạt được trên mỗi đơn vị
diện tích canh tác, là căn cứ để đề xuất và lựa chọn những loại hình sử dụng đất và
phương thức tác động vào đất nhằm đạt được hiệu quả tối ưu.
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất cần hướng vào ba tiêu chuẩn chung như sau:
- Bền vững về mặt kinh tế: hệ thống cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, phát
triển ổn định, được thị trường chấp nhận. Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là
thực hiện tập trung, chuyên canh với đa dạng hóa sản phẩm.
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng
thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội.
- Bảo vệ môi trường: loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao phải bảo vệ độ
phì đất, ngăn ngừa sự thoái hóa đất, bảo vệ môi trường tự nhiên.

sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng
lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới. Trời âm u thiếu ánh sáng
cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng.
- Yếu tố cây trồng:
Cây trồng là yếu tố trung tâm trong quá trình sản xuất nông nghiệp. Con
người hưởng lợi trực tiếp từ những sản phẩm của cây trồng. Những sản phẩm này
cung cấp lương thực, thực phẩm cho các nhu cầu thiết yếu cho con người và cho các
hoạt động trao đổi hàng hóa, xuất khẩu. Việc bố trí cây trồng và kiểu sử dụng đất
hợp lý trên đất sẽ đem lại những giá trị cao về mặt hiệu quả cho cả người sản xuất
và tạo ra sự bền vững cho môi trường đất. Ngược lại, nếu cây trồng được bố trí bất
hợp lý, sử dụng đất bừa bãi không những gây thất thu cho người nông dân mà còn
ảnh hưởng xấu đến đất.


13

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của những tiến bộ khoa học, kỹ
thuật trong quá trình sản xuất nông nghiệp cũng như trình độ của người nông dân
ngày càng được nâng cao, các giống cây trồng mới với chất lượng và năng suất cao,
thời gian sinh trưởng ngắn xuất hiện ngày càng nhiều góp phần tạo tiền đề mạnh mẽ
cho quá trình sản xuất hàng hóa trong sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp
hàng hoá phát triển gắn với việc tăng hệ số sử dụng đất, gia tăng giá trị kinh tế cho
một đơn vị diện tích đất.
- Yếu tố đất trồng:
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng. Đất trồng với
các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì... có vai trò quan
trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Đất giữ cây đứng vững trong không gian, cung
cấp cho cây các yếu tố sinh trưởng như nước, dinh dưỡng và không khí (Hà Thị
Thanh Bình và cộng sự, 2002). Độ phì là một trong những yếu tố quan trọng nhất

rất nhiều trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của những người nông dân.
Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng bừa bãi phân hoá học, thuốc trừ
sâu, thuốc trừ cỏ... không chỉ làm cho sản xuất kém hiệu quả mà còn có tác động
tiêu cực đến môi trường, nguồn nước, không khí và đất. Do vậy, việc Nhà nước can
thiệp bằng các chính sách và pháp luật thích hợp đã tạo điều kiện, khuyến khích,
hướng dẫn sản xuất nông nghiệp và đảm bảo tính bền vững của các yếu tố nguồn
lực trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp. Cũng bằng các chính sách thích hợp, sử dụng đất nông nghiệp được đảm
bảo ổn định và lâu dài.
Trong những năm qua, Chính phủ đã ban hành, sửa đổi và bổ sung những
chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển sản xuất
nông nghiệp nông thôn. Luật đất đai năm 2003 và mới đây là luật đất đai năm 2013
(chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2014) đã thể chế hoá và nới rộng quyền của
người sử dụng đất. Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào
sản xuất dài hạn, thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một
cách có hiệu quả. Từ khi luật Đất đai 2003 ra đời đã làm cho người nông dân yên
tâm đầu tư trên đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát
huy được lợi thế so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về
đất đai thông thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như


15

thâm canh, tăng vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để
sản xuất cây trồng có giá trị hàng hoá cao.
- Yếu tố con người:
Con người là chủ thể của quá trình lao động, là nhân tố tác động trực tiếp tới
đất và hưởng lợi từ đất. Con người với bàn tay và khối óc của mình có thể tạo ra
những phương thức sử dụng đất hợp lý, hiệu quả. Đối với các hoạt động kinh tế nói
chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân số vừa là thị trường cầu của sản phẩm

tảng của sự phát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương
thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn lên đất, nhất là đất nông nghiệp. Trong khi đó
đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển
sang các mục đích phi nông nghiệp. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải
tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông
nghiệp. Vì vậy, đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp
bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường
sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới,
đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…gây ảnh hưởng lớn
đến năng suất, chất lượng nông sản.
Theo P.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha
(chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền); Phần diện tích còn lại (khoảng 78%,
tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp. Trong tổng số 3,3 tỷ ha
đất nông nghiệp, con người hiện đang sử dụng cho trồng trọt khoảng 1,5 tỉ ha
(chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất đang có khả năng trồng trọt).
Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác [6].
Hiện nay, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới chỉ
còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia châu Á Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha. Theo tính
toán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) với trình độ
sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới để có đủ lương thực, thực phẩm thì
mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác [10]. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các
nước phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% trong đó những loại đất
tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ
chiếm khoảng 12,6%; những loại đất quá xấu như vùng băng tuyết, hoang mạc, đất
núi chiếm 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất
dốc, tầng đất mỏng.... Ở các nước khác nhau thì bình quân diện tích đất nông nghiệp
cũng khác nhau như: ở Mỹ là 0,25ha/ người; Bungari 0,7 ha/người; ở Pháp
0,64ha/người; ở Nhật 0,065ha/ người [5].



người là 1.143 m2/người.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status