VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 36-40
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SO SÁNH CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI VĂN HỌC
Nguyễn Thị Minh Phương - Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương
Ngày nhận bài: 05/7/2019; ngày chỉnh sửa: 08/8/2019; ngày duyệt đăng: 16/8/2019.
Abstract: In this article, we analyze and propose a process to train comparative skills for children
in activities of familiarizing with literature which conducted in 5 steps: Listening and identifying
comparative verses; repeat comparison; conversation about comparison; say comparisons;
experience the comparison. This training process will both help children develop thinking and help
children develop language and participate in communication activities more effectively.
Keywords: Skill, comparison, preschool children, activity, literature.
1. Mở đầu
So sánh là một trong những thao tác dùng để nhận
thức thế giới, nhận thức hiện thực khách quan. So sánh
được sử dụng thường xuyên trong mọi hoạt động thuộc
tất cả những lĩnh vực khác nhau của đời sống thường
ngày. Ngay từ khi còn được bế ẵm trên tay cho tới khi
chập chững biết đi rồi tới trường mẫu giáo, có lẽ trẻ
không ít lần được nghe bà nói nựng, mẹ hát ru những lời
thơ, câu hát mang đậm các hình ảnh so sánh. Phần nào
đó trẻ hiểu về thế giới xung quanh qua các hình ảnh so
sánh trong lời mẹ ru, mẹ hát ấy. Như vậy, rõ ràng là
những câu nói, những cách nói so sánh trẻ đã được làm
quen từ rất sớm và không phải là quá xa lạ khi trẻ bước
chân vào trường mẫu giáo. Có lẽ không phải là quá khi
chúng ta nói rằng, thế giới trẻ thơ là thế giới của tưởng
tượng và so sánh. Qua tưởng tượng và so sánh, trẻ vừa
có thể khám phá và nhận thức về hiện thực, vừa có được
súc, giầu hình ảnh, nhiều tầng nghĩa, nhiều lượng thông
tin nên rất khó nắm bắt đối với trẻ.
- Trong hoạt động làm quen với văn học, trẻ được tiếp
xúc với câu văn, câu thơ để tìm hiểu về chúng và vì vậy
câu văn, câu thơ với cách thức tổ chức ngôn từ phải trở
thành đối tượng cần nhận thức. Nhưng ở đây, bản thân
việc tổ chức ngôn từ của câu văn, câu thơ ấy chưa phải là
cái đích cuối cùng của nhận thức văn học. Việc tổ chức
ngôn từ mới chỉ là phương tiện để đạt tới mục đích. Nếu
nhận thức của trẻ chỉ dừng lại ở đấy thì câu văn, câu thơ
mới chỉ có “xác” mà chưa có “hồn”, trẻ mới chỉ tiếp xúc
được với những tín hiệu vật chất mang tính kí mã của
ngôn ngữ. Bởi vậy, việc giải mã các tín hiệu ngôn ngữ ấy
để nắm bắt được nội dung kí gửi, những điều nằm sau
các câu chữ mới là điều hết sức cần thiết. Đây mới là
“phần hồn” của câu văn, câu thơ. Vì thế có thể thấy trong
hoạt động làm quen với văn học, trẻ sẽ phải có hai lần
nhận thức: lần thứ nhất (trực tiếp) là nhận thức về cách
thức tổ chức ngôn ngữ (là hình thức, mang tính vật chất)
và lần thứ hai (gián tiếp) là nhận thức về những điều mà
tác giả gửi gắm trong hình thức ấy (là nội dung, mang
tính tinh thần). Trong hai đích này thì đích nhận thức nội
dung mới là đích giữ vai trò quan trọng nhất, là cái đích
cuối cùng của hoạt động làm quen với văn học.
- Đã nói đến hoạt động làm quen với văn học là nói
đến cảm xúc, cảm nhận, sự rung động, sự liên tưởng...
Nếu điều này là xảy ra thường xuyên với trẻ khi tham gia
hoạt động làm quen với văn học thì ngược lại, điều này
lại rất ít khả năng xảy ra khi trẻ tham gia hoạt động khám
phá môi trường xung quanh. Khi nghe một câu văn, câu
Bước 1: Trẻ nghe và nhận ra câu so sánh
Mục đích: Bước này hướng đến việc giúp trẻ nghe và
nhận ra câu so sánh trong lời đọc của GV. Đây là bước
đi đầu tiên dẫn trẻ đến với văn học, đến với hoạt động so
sánh trong văn học. Vì trẻ chỉ có thể tiếp xúc với câu thơ
qua lời đọc, bởi vậy việc GV đọc là nhằm giúp trẻ hiểu
được ngôn từ và bước đầu nhận ra được nội dung bài thơ.
Cách tiến hành
- Tạo tâm thế nghe và giao nhiệm vụ cho trẻ. Để trẻ
nghe có kết quả - nghĩa là nghe hiểu được phần nào đó
nội dung và nhận ra câu so sánh - GV cần phải tạo tâm
thế nghe cho trẻ. Không phải lúc nào trẻ cũng sẵn sàng
chuyển từ dạng hoạt động này sang dạng hoạt động khác.
Trẻ rất khó chuyển nhanh, chuyển ngay tức thì từ trạng
thái vui chơi sang trạng thái học tập, từ trạng thái hoạt
động chân tay sang trạng thái hoạt động trí óc, hay hoạt
động nghe nhìn. Thường thì vì mải mê việc riêng hoặc
mải mê nói chuyện cùng bạn, hay đang thích thú với đồ
chơi nào đó, trẻ mất tập trung, không quan tâm đến việc
nghe GV đọc thơ. Bởi vậy, khoảng thời gian tạo tâm thế
này chính là khoảng thời gian đủ để GV giúp trẻ quay trở
lại, tập trung trở lại để nghe đoạn thơ GV sẽ đọc.
- Trẻ nghe đoạn thơ. Đây là bước đầu tiên của trẻ
trong hoạt động làm quen với đoạn thơ, bài thơ. Trong
hoạt động làm quen với văn học, trẻ chỉ được dùng thính
giác để tiếp nhận vỏ âm thanh - cái biểu đạt mang tính
vật chất - của tín hiệu ngôn ngữ. Do đặc điểm này mà
37
thì câu đó là câu so sánh.
Bước 2: Nhắc lại so sánh
Mục đích: Nếu bước 1 đơn giản chỉ là việc trẻ được
nghe và nhận ra câu so sánh trong quá trình nghe ấy thì
bước 2 lại hướng đến việc giúp trẻ nhắc lại được câu so
sánh có trong bài thơ, đoạn thơ. Để có thể tiếp tục tham
gia vào tìm hiểu so sánh, trẻ buộc phải nói lại được những
câu thơ có sử dụng phép so sánh đó để làm cơ sở cho việc
đàm thoại ở bước sau. Nếu trẻ không nhắc lại được câu
thơ, nghĩa là trẻ không nhớ câu thơ, trẻ không thể tham
gia đàm thoại, trò chuyện về chính câu thơ ấy. Bởi vậy,
việc nhắc đi nhắc lại nhiều lần những câu thơ này sẽ giúp
trẻ có điều kiện để ghi nhớ câu so sánh, nhớ những hình
ảnh hoặc cách so sánh đã được nghe đó.
Cách tiến hành
- GV gợi ý. Sau khi được nghe GV đọc đoạn thơ, trẻ
có thể không tự mình nói lại được câu so sánh có trong
đoạn thơ đó. Bởi vậy cần có sự gợi ý của GV. Ví dụ, với
bài “Trăng sáng” của Nhược Thủy trong chương trình
làm quen với văn học, GV có thể gợi ý để trẻ nhận ra so
sánh bằng các câu hỏi như sau:
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 36-40
+ Ai cho cô biết, câu “Trăng hồng như quả chín” có
phải là so sánh không? - Có.
+ Vì sao các con lại cho là một so sánh? - Vì có từ
Việc trẻ tự mình nói lại, đọc lại được những câu so sánh
như thế, một mặt vừa giúp các em nhớ thơ, thuộc thơ,
mặt khác vừa giúp các em nhận thức được về phép so
sánh một cách có chủ định, có ý thức. Và khi trẻ nhắc lại
những câu thơ này cũng chính là lúc trẻ đã thực sự tham
gia vào nhận thức về so sánh. Những lời đầu tiên, có thể
trẻ không nhắc lại hết được câu thơ, hoặc trẻ chỉ nói được
một phần câu thơ thậm chí nói sai câu thơ. Nhưng đó là
việc bình thường, không có gì đáng ngại. Bởi lẽ việc mới
làm quen với so sánh có thể khiến trẻ có những bỡ ngỡ,
chập chững ban đầu. Nhưng chỉ cần sau một vài lần luyện
tập và được GV hỗ trợ, sửa chữa, trẻ sẽ thành thạo với
hoạt động này hơn và dần dần nhắc lại, đọc lại những lời
so sánh một cách trôi chảy và rõ ràng.
Bước 3: Đàm thoại về nội dung văn bản và câu so
sánh
Mục đích: Nhằm giúp trẻ hiểu được nội dung văn
bản, hiểu được câu chữ, hình ảnh được sử dụng trong
38
bài thơ cũng như trong phép so sánh. Nếu không đàm
thoại với trẻ, GV sẽ không có thông tin phản hồi về việc
trẻ hiểu chính xác đến mức nào nội dung, hình ảnh, âm
thanh, vần điệu được dùng trong văn bản. Chỉ qua đàm
thoại, trò chuyện với trẻ, GV mới có thể biết trẻ còn điểm
nào nhận thức sai, không chính xác để uốn nắn, chỉnh
sửa. Tất nhiên là việc đàm thoại, trò chuyện với trẻ về bài
thơ, câu thơ, dòng thơ không chỉ là việc đàm thoại xoay
quanh phép so sánh. GV vẫn phải đàm thoại với trẻ về
- Đàm thoại để nhận ra chuẩn so sánh (vế B). Vế B
trong cấu trúc so sánh là vế in đậm dấu ấn về thẩm mĩ,
về cảm xúc, thái độ của tác giả đối với đối tượng được
đem ra so sánh trong vế A. Tất nhiên, ở lứa tuổi mẫu giáo,
GV chỉ cần chỉ ra tình cảm, thái độ này ở một mức độ
nào đấy mà thôi, ví dụ như: yêu, ghét, thích thú, ngợi
khen... là đủ mà không thật cần phải phân tích kĩ. Khi trẻ
tìm ra được vế B thì điều đó cũng có nghĩa là trẻ đã hiểu
được chuẩn so sánh là cái gì, con gì, vật gì, hiện tượng
gì, đáng yêu hay đáng ghét... Đây cũng là lúc trẻ sẽ hiểu
được, mặc dù trẻ không thể nói ra được thành lời, cấu
trúc cốt lõi của so sánh chính là: một đối tượng được đem
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 36-40
ra so sánh và một đối tượng được dùng để làm chuẩn so
sánh. Không có hai đối tượng ấy sẽ không thể có so sánh.
- Đàm thoại để trẻ nhận ra phương diện so sánh. Hai
đối tượng có thể có nhiều điểm giống nhau. Vì thế, việc
GV đưa ra điểm cần đối chiếu giữa hai đối tượng, hay
nói khác đi đưa ra phương diện cần phải so sánh, như:
màu sắc, hình dáng, kích thước... thì trẻ sẽ nhận thức dễ
dàng hơn. Với những câu hỏi dắt dẫn, trẻ có thể nhận ra
được phương diện so sánh ấy. Và khi trẻ hiểu được
phương diện so sánh là gì thì trẻ sẽ tự nhận ra rằng đối
tượng A có thể giống đối tượng B ở màu sắc nhưng
không giống ở hình dáng; giống đối tượng C ở hình dáng
- Trẻ nói lại mẫu. Việc nói lại, nhắc lại vào thời điểm
này buộc trẻ phải nhắc lại đầy đủ cả dòng thơ mà không
phải chỉ là một từ hay một ngữ, vì mỗi dòng thơ như vậy
mới là một cấu trúc so sánh đầy đủ. Việc lặp đi lặp lại
câu so sánh như vậy sẽ giúp trẻ quen dần với cách cấu
trúc này. GV có thể đặt câu hỏi gợi mở để định hướng trả
lời cho trẻ: Trong bài thơ, nhà thơ đã thấy “trăng
tròn”như cái gì ? →Trăng tròn như mắt cá. Ở đây, trẻ
39
buộc phải nhắc lại cả câu có cấu trúc so sánh, mà không
được dùng từ ngữ “mắt cá” để trả lời vì trẻ phải nói lời
so sánh mà không phải là nói từ so sánh. Sau đó cô nhắc
lại một lần nữa câu chứa cấu trúc so sánh:“Trăng tròn
như mắt cá”. Khi trẻ nhắc lại đầy đủ câu thơ ấy, cấu trúc
ấy là trẻ đã nhận thức được mẫu so sánh và làm quen
được với cách nói lời so sánh.
- Trẻ nói theo mẫu. Khi trẻ đã nói lại được thành thạo
theo mẫu, GV nâng cao hơn yêu cầu rèn luyện. GV có thể
chỉ đưa ra vế A còn trẻ tự suy nghĩ và lựa chọn đối tượng
riêng theo ý mình trong vế B. Lúc này, trẻ không được nói
lại vế B đã có ở câu thơ mẫu mà trẻ chủ động, tự quyết
định chọn và đưa ra một đối tượng khác được dùng làm
chuẩn so sánh trong vế B. Hoạt động so sánh theo mẫu có
độ khó hơn việc nói lại mẫu. Bởi lẽ, hoạt động nói lại mẫu
chỉ cần thuộc là nói lại được. Nhưng nói theo mẫu buộc trẻ
vừa phải thuộc mẫu, vừa phải suy nghĩ, liên tưởng, lựa
chọn. Lúc này đòi hỏi trẻ phải có được một nhận thức riêng
thì mới có khả năng so sánh đúng và hay. Ví dụ, trẻ có thể
giáo dục trẻ.
Cách tiến hành
VJE
Tạp chí Giáo dục, Số 462 (Kì 2 - 9/2019), tr 36-40
- Phổ biến luật chơi. Để tiến hành trải nghiệm như một
hoạt động giải trí, vui chơi, GV phải cho trẻ biết luật chơi.
Trong đời sống thường ngày, có thể có những trò chơi
không cần luật, mang đậm tính cá nhân, tính sở thích như:
câu cá, thả diều, nhảy dây...; nhưng nhìn chung, đã là trò
chơi mang tính tổ chức với nhiều người tham dự thì bao
giờ cũng có tính đua tranh, cũng cần luật. Tính đua tranh
sẽ giúp cho hoạt động vui chơi sôi nổi, hào hứng và vui vẻ
hơn. Bởi thế việc đầu tiên trong hoạt động tổ chức trẻ tham
gia trò chơi học tập là cần phải giải thích rõ luật chơi để trẻ
nắm được. Luật chơi đối với trẻ càng đơn giản, càng dễ
hiểu bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu. Tính cạnh tranh thắng
thua trong vui chơi không phải là điều quan trọng. Đối với
trẻ thì thắng hay thua đều vui vẻ cả.
- Tổ chức chơi
+ Chia nhóm. Đây là hoạt động mang tính tự nguyện,
nên GV có thể để một số trẻ tham gia, nhưng tốt nhất vẫn
là tìm cách động viên, cổ vũ các cháu để không một trẻ
nào đứng ngoài cuộc chơi này. GV chia lớp thành 3
nhóm như đã dự định. Số lượng người trong nhóm nên
tương đương nhau (phụ thuộc vào sĩ số trong lớp) nhưng
không nhất thiết phải bằng nhau. GV phân công vị trí
đội thắng, người thắng và động viên các nhóm khác.
Nhưng nếu GV tổ chức nhiều cuộc chơi thì cũng có thể,
sau khi kết thúc tất cả các cuộc chơi ấy, GV mới tuyên
bố nhóm thắng cuộc và tên những trẻ đem lại phần thắng
cho nhóm.
3. Kết luận
Việc rèn luyện cho trẻ năng lực so sánh trong những
tiết hoạt động làm quen với văn học sẽ được tiến hành
theo trình tự 5 bước: Nghe và nhận diện câu thơ so sánh;
nhắc lại so sánh; đàm thoại về so sánh; nói lời so sánh
và tham gia trò chơi so sánh. Mỗi bước đi trong quy trình
này sẽ giúp trẻ có được những nhận thức cơ bản, những
hiểu biết tối thiểu trẻ có thể tham gia hoạt động được
trong các bước tiếp theo. Trong quá trình rèn luyện ấy,
bước đi này sẽ làm nền cho bước đi khác, làm cơ sở để
cho bước tiếp sau được thực hiện một cách chắc chắn,
hiệu quả. Việc rèn luyện chia thành 5 bước như trên chủ
yếu mang tính “kĩ thuật”, tính chỉ dẫn sư phạm trong hoạt
động giúp trẻ làm quen với văn học, trong đó có hoạt
động so sánh. Nhưng khi trẻ đã thành thạo với hoạt động
so sánh này, thì tùy thuộc vào năng lực của trẻ và dụng ý
của GV mà những bước này có thể bị “mờ” đi hoặc lược
bớt nhưng kết quả học tập của trẻ vẫn có thể đảm bảo.
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ GD-ĐT (2017). Chương trình giáo dục mầm
non.
[2] Hà Nguyễn Kim Giang (2009). Phương pháp tổ
chức hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
NXB Giáo dục Việt Nam.