GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VÀ SỬ
DỤNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN HÀ
GIANG
3.1 Cơ hội, thách thức khi gia nhập WTO
Khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, cũng như nhiều ngành
khác, lĩnh vực tài chính – ngân hàng cũng có những cơ hội và thách thức phải
đối mặt
Trở thành thành viên của WTO, đồng nghĩa với việc các ngân hàng có
thể có cơ hội có những khách hàng mới, việc thanh toán quốc tế gặp nhiều thuận
lợi hơn.
Việc mở cửa nền kinh tế đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam thuận lợi
hơn trong việc xuất khẩu hàng hoá của mình ra nước ngoài thu được một lượng
ngoại tệ lớn. Tuy nhiên, hàng hoá nước ngoài được nhập khẩu vào Việt Nam
cũng tăng rất nhanh làm cho nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp tăng rất
nhanh. Điều đó, đã khiến đồng USD trong nước tăng giá rất nhanh trong thời
gian qua trong khi trên thế giới giá USD vẫn tiếp tục giảm so với các ngoại tệ
khác. Với nhu cầu về USD như vậy, các ngân hàng đã gặp nhiều khó khăn trong
việc cung ứng USD ra thị trường do chính sách thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
Trước những biến động trên thị trường thế giới: giá dầu tăng cao, giá
lương thực cũng tăng rất nhanh, giá vàng thì biến động bất thường đã ảnh
hưởng đến thị trường Việt Nam. Lạm phát trong thời gian gần đây ở mức rất
cao, nên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền
tệ nên việc sử dụng vốn cuả ngân hàng đem cho vay gặp rất nhiều khó khăn. Tỷ
lệ lạm phát cao nên việc huy động vốn của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn do
người dân lo ngại vấn đề lãi suất thực âm.
Trong nền kinh tế mở như hiện nay với sự xuất hiện của các ngân hàng
nước ngoài với nguồn vốn lớn, khả năng quản lý tốt, trình độ chuyên môn của
nhân viên cao, sẽ làm cho các ngân hàng trong nước đặc biệt là các ngân hàng
có quy mô vừa và nhỏ dễ bị thâu tóm.
3.2 Phương hướng hoạt động của ngân hàng trong thời gian tới
đến tiền, nếu phải rút tiền trước hạn khách hang bị thiệt nhiều. Vì thế, ngân
hàng nên tìm cách bảo vệ quyền lợi cho khách hàng gửi tiền nhất là những
khoản tiền dài hạn.
Bên cạnh việc cơ cấu lại nguồn vốn huy động về mặt thời hạn thì ngân
hàng cũng nên cơ cấu lại nguồn vốn huy động về mặt tiền tệ, cụ thể là tăng
nguồn vốn huy động bằng USD. Hiện tại Chi nhánh chỉ huy động được hơn
10% nguồn vốn huy động là USD. Chi nhánh cần tìm ra biện pháp nhằm tăng
cường huy động vốn bằng USD. Chi nhánh cần phải đa dạng hoá tiền gửi bằng
USD, tạo ra nhiều kỳ hạn tiền gửi bằng USD hơn nữa. Mức lãi suất huy động
bằng USD cũng nên được Chi nhánh chú trọng thông qua việc tham khảo mặt
bằng lãi suất huy động chung. Ngoài ra, Chi nhánh nên dự phòng USD nhằm
đáp ứng nhu cầu tín dụng ngày càng tăng bằng USD, và khuyến khích khách
hàng vay bằng USD để đầu tư.
3.3.2 Phát triển các hoạt động dịch vụ liên quan đến huy động vốn
Để thu hút được lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư, Chi nhánh phải không
ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ dành cho khách hàng gửi tiền. Chiến lược
này bao gồm việc đa dạng hoá dịch vụ bằng cách áp dụng có chọn lọc các hoạt
động mà các ngân hàng khác đã sử dụng, tạo ra sự khác biệt của các dịch vụ
hiện có của Chi nhánh.
Đặc biệt, chi nhánh cấn chú trọng đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ
đối với các khách hàng gửi tiền dài hạn, củng cố lòng tin của khách hàng đối
với Chi nhánh. Chi nhánh cần đảm bảo với khách hàng gửi tiền dài hạn rằng:
trong lãi suất huy động vốn của Chi nhánh đã tính đến yếu tố trượt giá của tiền
tệ, đối với khách hàng rút tiền trước thời hạn Chi nhánh cũng nên có hình thức
trả lãi khuyến khích người gửi tiền.
Chi nhánh nên đưa ra các dịch vụ cụ thể:
* Tư vấn khách hàng: Trình độ dân trí ở Việt Nam chưa cao, lĩnh vực tài
chính ngân hàng còn khá mới mẻ với nhiều người, vì thế, đối với những khách
hàng mới Chi nhánh cần cung cấp thông tin, giải thích kỹ càng cho khách hàng
hiểu về Ngân hàng, cung cấp những thông tin có thể giúp khách hàng lựa chọn
vụ khách hàng; theo dõi số dư và phát sinh trên tài khoản; trao đổi thư điện tử
với ngân hàng. Khách hàng không phải tốn thời gian, tiền bạc để xem những
thông tin cần thiết hàng ngày.
3.3.3 Tiếp tục đẩy mạnh chính sách khách hàng
Cần nhanh chóng, mạnh mẽ thay đổi quan điểm lựa chọn khách hàng, xây
dựng một chiến lược khách hàng phù hợp với bối cảnh mới, ngoài việc tập trung
thu hút tiền gửi của các khách hàng truyền thống là các tổng công ty, các doanh
nghiệp lớn, ngân hàng nên quan tâm hơn đến đối tượng là các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh vì đây là loại hình doanh nghiệp đang phát triển mạnh, nhất là
sau khi luật doanh nghiệp ra đời. Cần tập trung vào các doanh nghiệp làm hàng
xuất khẩu, các doanh nghiệp tạo ra sự đón đầu và sẽ xuất khẩu nhiều vào thị
trường Mỹ sau khi hiệp định thương mại Việt - Mỹ được Quốc hội hai nước phê
chuẩn nhằm cung cấp nhiều hơn nữa các sản phẩm dịch vụ thanh toán của ngân
hàng.
Trong chiến lược khách hàng cần thực hiện phương châm bình đẳng, lợi
ích từ phía ngân hàng và khách hàng. Hoạt động ngân hàng bắt đầu từ khách
hàng, lớn lên nhờ tác động hai chiều, giữa nhu cầu khách hàng và năng lực đáp
ứng của ngân hàng. Logic kinh doanh mới tạo ra sự phát triển và ổn định lâu dài
của mối quan hệ khách hàng và ngân hàng. Đây có thể xem như là hạt nhân của
chiến lược khách hàng, tạo cơ sở bền vững tạo lập và củng cố các mối quan hệ
bạn hàng bình đẳng, cung ứng và tiêu thụ dịch vụ đưa lại lợi ích cả hai phía.
Các ngân hàng đang chạy đua trong mọi lĩnh vực hoạt động đặc biệt là
trong công tác huy động vốn. Các ngân hàng thi nhau đưa ra mức lãi suất hấp
dẫn, đẩy mặt bằng lãi suất huy động lên rất cao, chênh lệch giữa lãi suất huy
động và lãi suất cho vay ngày càng bị thu hẹp. Song, đẩy lãi suất lên cao nhằm
thu hút nguồn vốn nhàn rỗi chỉ có hiệu quả trong một giới hạn nhất định, ngân
hàng muốn đẩy lãi suất lên cao đến đâu cũng bị giới hạn bởi mức lãi suất cho
vay.
Một nhân tố hết sức quan trọng giúp Chi nhánh có thể tạo ra lợi thế trong
cạnh tranh chính là chất lượng phục vụ khách hàng. Chất lượng phục vụ khách
- Phục vụ và tìm hiểu nhu cầu của khách hàng không phải là nhiệm vụ
của riêng phòng quản lý khách hàng, các phòng ban khác trong quá trình làm
việc với khách hàng cũng có thể đưa ra những ý kiến về những thói quen tiêu
dùng, nhu cầu của khách hàng.
3.3.4 Nâng cao tỷ trọng tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm trong nguồn
vốn huy động
Nền kinh tế ngày càng phát triển, thu nhập người dân ngày càng tăng cao,
Chi nhánh muốn khai thác tốt nguồn vốn nhàn rỗi thì phải có những giải pháp
hữu hiệu để khuyến khích người dân gửi tiền vào ngân hàng.
* Nâng cao tỷ trọng tiền gửi thanh toán
Hiện nay, tỷ trọng tiền gửi thanh toán trong tổng nguốn vốn huy động của
ngân hàng còn thấp. Vì vậy, ngân hàng cần đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao
tỷ trọng tiền gửi thanh toán: đa dạng hóa các dịch vụ thanh toán, nâng cao chất
lượng dịch vụ thanh toán, đảm bảo thanh toán nhanh chóng, chính xác và đơn
giản về thủ tục. Phí thanh toán cũng là một yếu tố khách hàng rất quan tâm. Chi
nhánh nên có những hình thức khuyến mãi, thưởng cho những khách hàng
truyền thống thực hiện thanh toán tại ngân hàng với số lượng tiền lớn. Thông
qua các quỹ tiết kiệm Chi nhánh thực hiện dịch vụ thanh toán, mở các tài khoản
cá nhân và hộ sản xuất để nâng cao tỷ trọng tiền gửi thanh toán trong nguồn vốn
huy động.
Hiện nay, Chi nhánh vẫn tách riêng hai loại tài khoản: tài khoản thanh
toán và tài khoản cho vay thanh toán, gây bất tiện cho khách hàng. Nhiều khách
hang muốn vay để thực hiện việc thanh toán lại phải mở thêm tài khoản cho vay
thanh toán gây tốn kém về thời gian và tiền bạc. Chi nhánh nên lựa chọn những
khách hàng có độ tin tưởng cao như khách hàng truyền thống, khách hàng sử
dụng nhiều dịch vụ tại ngân hàng ... cho họ sử dụng hình thức thấu chi trên tài
khoản thanh toán. Nếu hình thức cho vay thấu chi này được thực hiện một cách
trôi chảy, có sự thoả thuận từ ngân hàng và khách hàng thì cả hai bên sẽ dễ dàng
hơn trong việc thanh toán. Tuy nhiên, thấu chi cũng là một hình thức tín dụng
có thể gặp nhiều rủi ro. Chi nhánh cần phải điều tra kỹ về khách hàng: về khả