THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ THƯ GIAI ĐOẠN 2004 2007 - Pdf 69

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VŨ THƯ GIAI
ĐOẠN 2004 2007
2.1. Tình hình kinh tế - xã hội huyện Vũ Thư năm 2007.
Năm 2007, tình hình kinh tế xã hội của huyện tiếp tục ổn định và phát triển
trên tất cả các lĩnh vực, hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều tăng hơn so với năm
2006, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Trong sản xuất nông
nghiệp, cấp ủy, chính quyền các cấp đã lãnh đạo chỉ đạo thực hiện thắng lợi sản
xuất vụ mùa năm 2007 với năng xuất 61,5 tạ/ha cao nhất từ trước tới nay; chú
trọng chỉ đạo phát triển vụ hè (dưa lê, dưa hồng, đậu, đỗ) đạt 400 ha tăng 150 ha
so với năm trước, mở rộng diện tích cây vụ đông đạt 5.674,4 ha tăng 5% so với
năm 2006, đặc biệt cây đậu tương đông đạt 1.355,5 ha tăng 400ha so với năm
2006; việc xây dựng vùng chăn nuôi, thủy sản tập trung được triển khai ở một
số cơ sở.
Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ
bản tốc độ tăng trưởng cao (28%), các làng, xã nghề hoạt động ổn định và phát
triển, nhiều dự án lớn đã và đang được triển khai(dự án đóng tàu và cảng Tân
Đệ, khu công nghiệp và dịch vụ sông Trà, may xuất khẩu Hải Phòng…) tạo tiền
đè quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của huyện. Văn
hóa xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, an ninh chính trị đợc giữ vững, trật tự
an toàn xã hội được đảm bảo; công tác cải cách hành chính có tiến bộ, đời sống
nhân dân ngày càng được nâng lên.
Cụ thể:
Tổng giá trị sản xuất cả năm ước đạt 1.415,6 tỷ đồng, tăng 12,53% so với
năm 2006 đạt 98,1% mục tiêu UBND huyện đề ra.
- Giá trị sản xuất nông – lâm- thủy sản ước đạt 97,6% mục tiêu HĐND
huyện đề ra, trong đó giá trị nông nghiệp đạt 625,96 tỷ đồng tăng 3,5%,
thủy sản đạt 32,4 tỷ đồng tăng 11,72% so với năm 2006.
- Giá trị sản xuất công nghiệp – TTCN –XDCB ước đạt 438,54 tỷ đồng,
tăng 28% so với cùng kỳ năm 2006 đạt 100,8% mục tiêu HĐND huyện
đề ra, trong đó giá trị CN – TTCN đạt 343,14 tỷ đồng tăng 29%, giá trị

Phủ trong công tác bảo vệ môi trường; tiến hành kiểm tra tình trạng ô nhiễm
môi trường tại công ty Quang Minh xã Tự Tân, công ty TNHH Quế Hòe xã
Phúc Thành, công ty Ivory ở thị trấn Vũ Thư. Xác nhận cam kết môi trường cho
9 dự án, tham gia thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của 2 dự án
trên địa bàn huyện.
*Về sản xuất công nghiệp-TTCN-XDCB
Giá trị sản xuất Công nghiệp – TTCN năm 2007 ước đạt 343,14 tỷ đồng
tăng 29% so với cùng kỳ năm 2006. Một số sản phẩm tăng khá cao như sản xuất
VLXD, chế biến NSTP, nghề thêu, ươm tơ, dệt may…
UBND huyện đã triển khai đề án 07/ĐA – UBND về đẩy mạnh phát triển
công nghiệp – TTCN, nghề và làng nghề tới các cấp, các nghành trong huyện.
Hoàn thành thủ tục 7 làng nghề đủ tiêu chuẩn trình công nhận, tiến hành khảo
sát điều tra 12 làng ở một số xã đồng thời giao kế hoạch phát triển làng nghề
cho các xã phấn đấu thực hiện. Đến nay trên địa bàn huyện đã có 35 làng nghề
đủ tiểu chuẩn theo quy định tăng 5 làng nghề so với năm 2006 trong đó có 21
làng nghề đã được tỉnh công nhận.
Trong năm, đã hoàn thành việc lập quy hoạch 4 dự án điểm công nghiệp
làng nghề được tỉnh và huyện phê duyệt. Hai cụm công nghiệp Tam Quang và
Thị Trấn của huyện đã thu hút được 8 dự án vào đầu tư, một số dự án đã và
đang triển khai như dự án của công ty may xuất khẩu Hải Phòng, dự án của
công ty chế biến thực phẩm Thái Bình Dương…Một số doanh nghiệp xây dựng
mới và mở rộng quy mô sản xuất hoạt động hiệu quả nâng cao giá trị ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như công ty may Ivory, công ty bánh kẹo Bảo
Hưng, công ty gốm Đại Thắng.
Giá trị sản xuất ngành XDCB năm 2007 ước đạt 95,4 tỷ đồng tăng 24,5%
so vói năm 2006. Do việc cấp, bán đất gặp khó khăn không đạt kế hoạch nên
một số công trình đã được điều chỉnh dừng; các công trình trọng điểm được đẩy
nhanh tiến độ thi công để hoàn thành như nhà làm việc đài truyền thanh huyện,
trụ sở HĐND và UBND huyện, nhà xưởng Trung tâm dạy nghề huyện, Trung
tâm hướng nghiệp huyện, trạm y tế xã Duy Nhất, trường mầm non xã Việt

*Tài chính – ngân sách:
UBND huyện đã tiến hành xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ cho các
phòng, ban thuộc khối UBND huyện; kiện toàn hội đồng tư vấn thuế của huyện,
xã, thành lập ban chỉ đạo chống thất thu NSNN và đội kiểm tra liên ngành kiểm
tra việc chấp hành Luật thuế của các đơn vị và cá nhân đồng thời tuyên truyền
luật thuế, chính sách thuế mới, tăng cường chỉ đạo thu thuế của các đơn vị kinh
doanh, hộ kinh doanh vãng lai nhằm hạn chế tình trạng thất thu NSNN đồng
thời chỉ đạo các đơn vị và các xã, thị trấn thực hiện đầy đủ trình tự lập và phân
bổ dự toán, thực hiện thu và khoán thuats với thực tế, phân bổ dự toán chi phù
hợp với hoạt động của từng ngành và điều chỉnh dự toán kịp thời.
Chỉ đạo cho các ngành trong khối kinh tế kết hợp tổ chức tổ chức tốt công
tác thu ngân sách, kiểm soát, tập trung nhanh nguồn vốn vào NSNN, thực hiện
điều tiết kịp thời chính xác số thu cho các cấp ngân sách phục vụ tốt nhu cầu sử
dụng vốn ngân sách; tiến hành giải ngân các khoản tiền hỗ trợ cho phát triển
kinh tế, đền bù giải phóng mặt bằng các dự án trên địa bàn huyện và kinh phí
tiêu hủy gia cầm mắc bệnh tới các hộ dân bảo đảm an toàn tiền vốn.
Năm 2007 ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện huy
động được 205 tỷ đồng bằng 97% kế hoạch năm, tăng 35,7% so với năm 2006.
Tổng doanh số cho vay năm 2007 thực hiện là 254,7 tỷ đồng với 15.379 lượt hộ
vay vốn, ngành đã đáp ứng kịp thời cho các đối tượng vay vốn phát triển kinh
tế, trong đó đặc biệt đã đầu tư cho phát triển làng nghề, xã nghề là 403 hộ với
tổng số tiền là 7,8 tỷ đồng, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi là 845 hộ với
tổng số tiền là 14,4 tỷ đồng. Ngân hàng chính sách xã hội đã cho vay 62,16 tỷ
đồng đạt 100% kế hoạch năm bằng 9.800 đối tượng vay vốn, đặc biệt trong đó
ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu, giải quyết vốn vay là 7,7 tỷ đồng cho học sinh,
sinh viên nghèo trong huyện. Kho bạc đáp ứng đầy đủ, an toàn tiền mặt phục vụ
cho sản xuất và tiêu dùng trong huyện.
* Đầu tư ngày càng tăng với cơ cấu đầu tư tương đối hợp lý theo các
chương trình và dự án trong quy hoạch.
* Các hoạt động văn hóa xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng sản xuất và

thu hút và làm cho các nguồn vốn của xã hội được huy động cho đầu tư phát
triển tăng hàng năm.
Tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư XDCB của ngân sách huyện thực hiện qua
các năm được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Kế hoạch vốn đầu tư XDCB từ ngân sách Nhà nước trong
các năm 2004 – 2007 trên địa bàn huyện Vũ Thư.
Đơn vị:Triệu đồng.
S
TT
Năm
Chi
đầu tư XDCB
Tổng chi Ngân
Sách
Tỷ lê %
XDCB/NS
Ghi chú
1 Năm 2004 17.327 71.169 24,35 %
2 Năm 2005 24.951 84.721 29,45 %
3 Năm 2006 60.871 163.977 37,12 %
4 Năm 2007 50.330 168.738 29,83 %
(Nguồn: Báo cáo chi ngân sách huyện, xã năm 2004; 2005; 2006; 2007)
Qua bảng trên ta thấy vốn đầu tư XDCB nhìn chung được bố trí tăng dần
qua từng năm, vốn đầu tư XDCB đã chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng chi
ngân sách, đóng vai trò quyết định nhằm củng cố và phát triển hạ tầng kinh tế
xã hội huyện Vũ Thư.
Kết quả đạt được trong các lĩnh vực cụ thể:
Bảng 2: Cơ cấu vốn đầu tư xây dựng cơ bản chia theo ngành.
Đơn vị:Triệu đồng.
S

xã hội 10.659 1.304 1.800 6.450 1.105
8 Khác 2.560 0 560 1.440 560
(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Vũ Thư)
Phân tích bảng ta thấy cơ cấu bố trí vốn của huyện Vũ Thư chủ yếu tập
trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, khoản chi này chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng chi đầu tư XDCB: 80.683 triệu đồng chiếm 53% tổng chi đầu tư
XDCB của huyện. Đây là yếu tố quyết định đến công cuộc CNH – HĐH của
huyện.
* Ngành công nghiệp – thương mại - dịch vụ: Trong giai đoạn 2004 -
2007 tổng vốn đầu tư của ngân sách huyện cho ngành công nghiệp là: 11.260
triệu đồng chiếm 8% tổng chi đầu tư XDCB, tập trung đầu tư chủ yếu cho hạ
tầng khu công nghiệp. Các danh mục được tập trung vốn đầu tư đó là: công tác
bồi thường giải phóng mặt bằng, công tác san nền lấp trũng, hệ thống giao
thông, hệ thống thoát nước mưa, hệ thống cấp nước, điện chiếu sáng khu công
nghiệp... Với việc các danh mục công trình trên đang dần hoàn thành đưa vào sử
dụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng kết cấu hạ tầng của các khu công nghiệp,
tạo cơ sở để kêu gọi các nhà đầu tư vào đầu tư trong các khu công nghiệp.
* Ngành văn hoá – giáo dục – y tế - xã hội: Trong giai đoạn 2004 - 2007
tổng vốn đầu tư của ngân sách huyện, xã là: 10.659 triệu đồng. Vốn đầu tư đã
đươc trải đều cho các trung tâm y tế, trường học, nhà văn hoá ... từ huyện đến
xã. Nhiều dự án công trình hoàn thành vào sử dụng tạo ra cơ sở vật chất cho các
công tác văn hoá, giáo dục, chăm sóc y tế của địa phương.
* Ngành Nông lâm - thuỷ lợi: Trong giai đoạn 2004 - 2007 tổng vốn đầu
tư của ngân sách huyện, xã cho ngành là : 11.238 triệu đồng chiếm 7% tổng chi
đầu tư XDCB, tập trung đầu tư cho các công trình trọng điểm của huyện như:
cống Tân Đệ, thuỷ sản, chăn nuôi các xã... Các công trình trên khi đi vào sử
dụng góp phần đẩy mạnh công tác chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của
địa phương.
* Ngành giao thông – đô thị - địa chính: Đây là những ngành rất quan
trọng, vốn đầu tư trong các năm qua là: 17.758 triệu đồng chiếm 12% tổng chi

điểm của các ngành nông nghiệp, giao thông, công nghiệp... Đồng thời đã giành
phần vốn hợp lý đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ
cho nhân dân, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, góp
phần bảo đảm ổn định vững chắc chính trị, tạo đà phát triển KT – XH.
Công tác quy hoạch tổng thể và quy hoạch xây dựng chi tiết đã bám sát
quy hoạch tổng thể KT – XH được duyệt, cụ thể hoá các chủ trương của huyện
uỷ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân huyện.
Công tác khảo sát lập dự án đầu tư, thiết kế dự toán công trình mặc dù
chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đặt ra nhưng nhìn chung các dự án đã bám
sát nhiệm vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch xây dựng đã được
phê duyệt. Các dự án có quy mô lớn, thiết kế kỹ thuật phức tạp đều được tiến
hành khảo sát kỹ lưỡng để có đủ căn cứ kỹ thuật bảo đảm cho việc thiết kế nền
an toàn và kinh tế.
Công tác thẩm định dự án, thiết kế, dự toán đã được phân cấp tương đối
rõ ràng theo các hướng dẫn của UBND tỉnh, các phòng ban chức năng đã được
quy định rõ về chức năng nhiệm vụ trong quản lý đầu tư XDCB, chủ đầu tư đã
được tự chủ hơn trong công tác quản lý... Từ đó góp phần làm cho bộ máy quản
lý đầu tư XDCB của huyện hoạt động trơn tru hơn, bớt được một số khâu không
cần thiết, tạo nên sự khách quan trong quản lý đầu tư XDCB.
Sự ra đời của Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm
2005 và các văn bản hướng dẫn của Bộ, UBND tỉnh đã phần nào gỡ bỏ được
một số khúc mắc trong công tác đấu thầu. Hoạt động đấu thầu, chỉ định thầu các
công trình xây dựng trên địa bàn huyện Vũ Thư đã diễn ra công khai và khách
quan hơn. Đối với các dự án phải thực hiện đấu thầu thì công tác đấu thầu đã
được các chủ đầu tư thuê tư vấn thực hiện từ khâu lập kế hoạch gói thầu, lập hồ
sơ mời thầu, mở thầu và xét thầu. Đến nay trên địa bàn của tỉnh đã hình thành
các đơn vị tư vấn chuyên sâu trong công tác đấu thầu từ đó góp phần đưa công
tác đấu thầu vào nề nếp và thực hiện đúng trình tự của quy chế đấu thầu cũng
như nâng cao hịêu quả của quá trình đấu thầu làm tiết kiệm nguồn vốn đầu tư
XDCB.

HĐND huyện, một số dự án thuỷ sản, chăn nuôi...
Công tác thanh, quyết toán công trình đang từng bước nâng cao. Phòng
tài chính Vũ Thư và kho bạc Nhà nước Vũ Thư đã phối hợp tương đối tốt, thông
qua kiểm tra, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư đã phát hiện, tiến hành giảm trừ
thanh toán các khoản chi không đúng quy định. Riêng công tác thẩm tra quyết
toán vốn đầu tư hoàn thành: Việc thẩm tra quyết toán vốn đầu tư được thực hiện
theo đúng các hướng dẫn của Bộ Tài chính về quyết toán vốn đầu tư, đảm bảo
đúng quy trình và thời gian. Chất lượng công tác thẩm tra quyết toán đã từng
bước được nâng cao. Trong các năm 2004-2007 phòng Tài chính - kế hoạch
huyện Vũ Thư đã thẩm tra, trình phê duyệt hơn 61 dự án, công trình hoàn thành,
tổng giá trị quyết toán là: 31.604.592.000 đồng. Trong quá trình thẩm tra, phê
duyệt quyết toán vốn đầu tư đã cắt giảm, loại bỏ những giá trị khối lượng không
đúng của chủ đầu tư và đơn vị thi công góp phần giảm trừ thanh toán và tiết
kiệm cho Ngân sách Nhà nước là: 3.863.818.000 đồng. Chi tiết được thể hiện
qua bảng sau:
Bảng 3: Tổng hợp công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán
dự án, công trình hoàn thành trên địa bàn huyện Vũ Thư trong các năm 2004 -
2007
Đơn vị: Nghìn đồng
S
T
T
Tên công trình
Dự toán
được
duyệt
QT
được
duyệt
Tiết kiệm

26 Trường tiểu học Phúc Thành 1.113.040 1.044.903 68.137
27 Máng cứng Tân Thành - Phúc Thành 269.875 269.458 417
28 Chợ Trung phần móng xã Phúc Thành 133.059 133.059 0
29 Đường vào UBND xã Phúc Thành 167.944 156.970 10.974
30 Kiốt chợ Mễ xã Tân Phong 646.062 434.392 211.670
31 Trụ sở UBND xã Tân Phong 1.136.170 1.009.383 126.787
32 Công trình phụ trợ xã Tân Phong 407.580 137.082 270.498
33 Máng nội, cửa đình xã Tân Phong 453.957 435.490 18.467
34 Mẫu giáo trung tâm xã Tân Phong 1.370.592 1.258.550 112.042
35 Trạm bơm gốc đa xã Tân Phong 353.648 228.920 124.728
36 Trường THCS xã Song An 1.139.000 1.139.000 0
37 Kênh trạm bơm Ngô xá - Song An 386.843 377.708 9.135
38
Công trình sân, cổng dậu, lát gạch men
nền tầng 1 trường tiểu học xã Nguyên Xá
65.112 57.128 7.984


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status