ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
HOÀNG THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU , ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG
QUẢN LÝ BỀN VỮNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
NGỌC SƠN - NGỔ LUÔNG, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
HÀ NỘI - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
HOÀNG THỊ HIỀN
NGHIÊN CỨU , ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG
QUẢN LÝ BỀN VỮNG KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN
NGỌC SƠN - NGỔ LUÔNG, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG
Mã số: 8900201.03QTD
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Trƣơng Xuân Lam
HÀ NỘI - 2019
trƣờng; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình; Ban quản lý Khu Bảo
tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông; hộ gia đình các xã Ngọc Sơn, Ngọc Luông,
Ngọc Lâu và Tự Do đã nhiệt tình hƣớng dẫn, cung cấp thông tin để tôi có thể hoàn
thành nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn ở bên động viên, ủng hộ,
chia sẻ giúp tôi tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày …..tháng….năm 2019
Tác giả
Hoàng Thị Hiền
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...........................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN............................................................................................................... ii
MỤC LỤC....................................................................................................................iii
Danh mục chữ viết tắt....................................................................................................v
Danh mục bảng............................................................................................................. vi
Danh mục hình............................................................................................................vii
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU..........4
1.1. Cơ sở lý luận...........................................................................................................4
1.1.1. Các khái niệm liên quan....................................................................................... 4
1.1.2. Khái niệm, nội hàm, định nghĩa về chỉ thị đánh giá tính bền vững trong quản lý
khu bảo tồn thiên nhiên.................................................................................................. 9
1.2. Tổng quan tài liệu................................................................................................. 13
1.2.1. Nghiên cứu trên thế giới..................................................................................... 13
Khuyến nghị................................................................................................................ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 72
PHỤ LỤC....................................................................................................................... i
iv
BQL
ĐDSH
EOH
HST
IUCN
KBT
KDTSQ
METT
NN&PTNT
OECD
PTBV
RAPPAM
TN&MT
UBND
UNDP
UNEP
WCPA
v
Ngọc Sơn – Ngổ Luông............................................................................................... 64
vi
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Khung vấn đề nghiên cứu............................................................................ 13
Hình 1.2. Bản đồ khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông, tỉnh Hoà Bình....22
Hình 3.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông......58
Hình 3.2. Ma trận đánh giá tổng hợp các tiêu chí........................................................ 65
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công ƣớc Đa dạng sinh học (ĐDSH) đã xác định các khu bảo tồn (KBT) thiên nhiên
là công cụ hữu hiệu và có vai trò quan trọng nhất trong bảo tồn ĐDSH (Công ƣớc Đa
dạng sinh học, 1992). Công ƣớc quy định các nƣớc có trách nhiệm thành lập hệ thống các
KBT và quản lý hiệu quả các tài nguyên sinh học bên trong các KBT đó. Theo đó, Chính
phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc thành lập, phát triển và quản lý hệ thống KBT, tạo
ra những điều kiện cho hệ thống KBT phát huy có hiệu quả chức năng bảo tồn và sử dụng
bền vững nguồn tài nguyên ĐDSH, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nƣớc (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2013). Trong vài thập kỷ qua, các KBT
trên thế giới đang có xu hƣớng tăng cả về số lƣợng và diện tích, Việt Nam cũng nằm
trong xu hƣớng đó. Năm 2005, nƣớc ta có số lƣợng các KBT (rừng đặc dụng) là 126 khu
thì đến năm cuối năm 2017, số lƣợng này tăng lên 169 khu với diện tích khoảng
2.108.500 ha (Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, 2015). Bên cạnh hệ thống KBT trong nƣớc
còn có nhiều khu đạt các tiêu chí quốc tế bao gồm 09 khu Ramsar, 09 khu dự trữ sinh
quyển, 08 khu di sản ASEAN, 02 khu di sản thiên nhiên thế giới.
vùng
giáp
ranh
khó
thực
hiện.
(Theo
trang
web:
http://www.vea.gov.vn).
Để đánh giá sự phát triển bền vững ở một vùng hay quốc gia, các nhà khoa học
đã đi sâu vào nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu trên các lĩnh vực môi trƣờng,
kinh tế - xã hội, tài nguyên sinh vật. Tùy mỗi đối tƣợng khác nhau, các chỉ tiêu này
cũng khác nhau và có độ quan trọng khác nhau. Các bộ chỉ tiêu có thể đƣợc xây dựng
trên cơ sở bộ chỉ tiêu của quốc gia, địa phƣơng, các nghiên cứu đã có hay các hƣớng
dẫn của Liên hợp quốc (LHQ).
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, học viên chọn đề tài “Nghiên cứu, đề xuất
giải pháp tăng cƣờng quản lý bền vững khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ
Luông, tỉnh Hòa Bình”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
không?
- Giải pháp nào để tăng cƣờng mức độ bền vững trong quản lý KBT thiên nhiên
Ngọc Sơn – Ngổ Luông?
6. Ý nghĩa của đề tài
Đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý bền vững khu bảo tồn
thiên nhiên Ngọc Sơn - Ngổ Luông, tỉnh Hòa Bình” sẽ là đánh giá đầu tiên về công tác
quản lý tại KBT thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông dựa trên các tiêu chí đề xuất. Qua
đó, có thể xác định KBT đang phát triển theo hƣớng nào, cần tập trung vào những khía
cạnh nào để đạt đƣợc sự PTBV?
Đề tài làm cơ sở góp phần việc xây dựng chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện
cơ chế quản lý KBT ở Việt Nam và cũng là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
chính sách giải pháp tăng cƣờng quản lý bền vững KBT.
3
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Các khái niệm liên quan
a. Khu bảo tồn thiên nhiên
Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) khẳng định bảo tồn đa dạng sinh
học (ĐDSH) là mục tiêu cơ bản của khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và đƣa ra định
nghĩa: “KBT là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển đƣợc khoanh vùng để bảo vệ
ĐDSH, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, đƣợc quản lý bằng các công cụ
pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN, 1994).
Luật Đa dạng sinh học Việt Nam năm 2008 đƣa ra định nghĩa: “KBT là khu vực
địa lý đƣợc xác lập ranh giới và phân khu chức năng để bảo tồn ĐDSH” (Luật Đa
dạng sinh học, 2008).
rừng đặc dụng là đơn vị sự nghiệp có thu, bên cạnh việc đƣợc đầu tƣ và đảm bảo tài
chính cho các hoạt động bằng nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc hay tiếp nhận hỗ trợ của
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc thì còn có thể khai thác từ nguồn thu cung
ứng dịch vụ môi trƣờng rừng.
Các hoạt động quản lý KBT ở Việt Nam đƣợc xây dựng trong Kế hoạch quản lý
và đƣợc các cấp thẩm quyền phê duyệt, nhìn chung có một số nội dung cơ bản nhƣ
sau:
• Bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái đặc thù, quan trọng và các loài nguy cấp, quý,
hiếm đƣợc ƣu tiên bảo vệ;
• Nghiên cứu khoa học và quan trắc ĐDSH;
• Tuyên truyền, giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trƣờng và
bảo tồn ĐDSH cho các bên liên quan, đặc biệt cộng đồng địa phƣơng;
• Phát triển dịch vụ du lịch sinh thái, các mô hình sinh kế nâng cao đời sống cho
cộng đồng vùng đệm;
• Nâng cao năng lực quản lý và tăng cƣờng nguồn lực bảo tồn.
Theo các báo cáo về kết quả thực hiện kế hoạch quản lý hàng năm của KBT thì
hầu hết các hoạt động quản lý đều đƣợc triển khai đều có những hiệu quả nhất định.
Quá trình triển khai và thực hiện các quy định pháp luật về quản lý rừng đặc dụng đã
đạt đƣợc nhiều kết quả quan trọng, hệ thống rừng đặc dụng đã đƣợc củng cố và phát
huy tốt vai trò của mình (Bộ NN&PTNT, 2016).
Một số cơ chế chính sách đã đƣợc xây dựng và thực hiện tạo điều kiện thuận lợi cho
việc quản lý KBT nhƣ: Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về vấn đề quản lý
rừng đặc dụng đã góp phần ổn định hệ thống rừng đặc dụng trong phạm vi toàn quốc;
Nghị định số 117/2010/NĐ-CP là Nghị định đƣợc xây dựng tƣơng đối hoàn chỉnh nhất từ
trƣớc đến nay, là chính sách quan trọng, có tính đột phá, góp phần tăng
5
Các kết quả nghiên cứu, đánh giá tình trạng quản lý của các KBT ở Việt Nam cho
thấy có những nguyên nhân chính tác động tới ĐDSH ở KBT nhƣ sau:
• Chủ trƣơng phát triển kinh tế nhanh chóng và công tác quản lý còn một số hạn
chế
6
• Khai thác quá mức và trái phép tài nguyên sinh vật
• Thay đổi phƣơng thức sử dụng đất, mặt nƣớc
• Ô nhiễm môi trƣờng từ các hoạt động kinh tế
• Sự du nhập các loài ngoại lai xâm hại
Ngoài ra, các nguyên nhân gián tiếp khác tác động tới ĐDSH ở KBT nhƣ:
• Tình trạng đói nghèo của dân địa phƣơng ở hầu hết các vùng đệm KBT;
• Thiếu đất canh tác;
•
thức và nhận thức của cộng đồng vùng đệm còn kém;
• Chƣa có nhiều các mô hình sinh kế thay thế để nâng cao mức sống cộng đồng
vùng đệm;
• Ban quản lý KBT còn những hạn chế về nguồn lực và năng lực quản lý
Căn cứ từ thực tiễn quản lý bảo tồn trên thế giới, phân chia theo các đối tƣợng quản
lý trực tiếp, IUCN công nhận 4 loại hình quản lý các KBT (IUCN, 1994), bao gồm:
(1) Quản lý bởi chính quyền: Là các KBT đƣợc chịu trách nhiệm quản lý vận
hành bởi các cơ quan quản lý của Nhà nƣớc hoặc chính quyền địa phƣơng;
biệt là dự án Bảo vệ ĐDSH và tăng cƣờng các dịch vụ sinh thái của rừng Động Châu khe Nƣớc Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Đây là một mô hình mới đã huy
động nguồn tài chính các bon tự nguyện từ khu vực tƣ nhân, thông qua chƣơng trình
“cân bằng các bon” của tổ chức World Land Trust (Anh Quốc). Dự án cũng là một
sáng kiến tiên phong về hoạt động thuê môi trƣờng rừng trong rừng phòng hộ cho một
tổ chức phi chính phủ để làm công tác nghiên cứu khoa học và bảo tồn dài hạn.
Những mô hình bảo tồn thành công này bƣớc đầu đã cho phép xác lập đƣợc các
thiết chế vừa phục vụ đƣợc các mục tiêu cải thiện sinh kế ngƣời dân, vừa có thể giữ
gìn hiệu quả các giá trị ĐDSH trong khu vực. Đồng thời, các sáng kiến này cũng cho
thấy vai trò các tổ chức tƣ nhân và cộng đồng hoàn toàn đủ khả năng tổ chức, quản lý
và sử dụng các giá trị ĐDSH một cách bền vững đặc biệt là có thể giúp nâng cao hiệu
quả quản lý các khu rừng tự nhiên bị phân tán kiểu da báo, quy mô nhỏ, có nguy cơ bị
lấn chiếm và mất rừng cao hoặc các khu vực rừng thiêng, rừng đầu nguồn.
c. Phát triển bền vững
Khái niệm phát triển bền vững (PTBV) đƣợc phổ biến rộng rãi vào năm 1987, trong
báo cáo “Tƣơng lai chung của chúng ta” (Báo cáo Brundtland), Ủy ban Môi trƣờng và
Phát triển thế giới (WCED) của Liên hợp quốc, ghi rõ: “Sự phát triển có thể đáp ứng
được nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả
năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (WCED, 1987). Quan niệm này
nhấn mạnh khía cạnh sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo môi trƣờng
sống cho con ngƣời trong quá trình phát triển. Nội hàm về PTBV có thể đƣợc hiểu là
quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát
8
triển, gồm: kinh tế (nhất là tăng trƣởng kinh tế), xã hội (nhất là thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội; xoá đói giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ môi trƣờng (nhất là
xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng; phòng chống
cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên).
tổng quát đƣợc Cơ quan môi trƣờng Châu Âu đƣa ra nhƣ sau: “Chỉ thị (indicator) là
phần thông tin tóm tắt những đặc điểm của một hệ thống hoặc làm nổi bật những gì
đang xảy ra trong một hệ thống” (Michaela Saisana and Stefano Tarantola, 2002).
Ngoài ra, một khái niệm hiện đƣợc dùng phổ biến hơn đƣợc Tổ chức Hợp tác Kinh tế
và Phát triển – OECD đƣa ra năm 2003 là: “Chỉ thị (Indicator) là một tham số, hoặc
một giá trị bắt nguồn từ thông số, nhằm mục tiêu cung cấp thông tin mô tả trạng thái
của một hiện tượng/ môi trường/ khu vực, với một ý nghĩa vượt ra ngoài giá trị trực
tiếp liên kết với tham số” (OECD, 2003).
Bên cạnh đó, OECD đồng thời cũng đƣa ra khái niệm Chỉ số (Index) và Thông
số (Parameter) để phân biệt với khái niệm Chỉ thị nhƣ sau:
- Chỉ số (Index): là một tập hợp tổng hợp hoặc có trọng số của các thông số
hoặc chỉ thị (a set of aggregated or weighted parameters or indicators)
- Thông số (Parameter): là một giá trị được tính toán hoặc quan sát (a property
that is measured or observed)
Trong nghiên cứu này, khái niệm tiêu chí và chỉ thị đƣợc hiểu nhất quán nhƣ sau:
- Tiêu chí (criterion): Trong các từ điển tiếng Việt, khái niệm tiêu chí đƣợc hiểu
là tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, hiện tƣợng nào đó
(Nguyễn Bá Dƣơng, 2013).
- Chỉ thị (indicator): Theo Chế Đình Lý (Chế Đình Lý, 2006), chỉ thị dùng để
cung cấp thông tin, chỉ về sự mô tả tình trạng của một hiện tƣợng/ môi trƣờng/ khu
vực, nó là thông tin khoa học về tình trạng và chiều hƣớng của các thông số liên quan.
Các chỉ thị truyền đạt các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu và có ý
nghĩa vƣợt ra ngoài các giá trị đo liên kết với chúng. Các chỉ thị là các biến số hệ
thống đòi hỏi thu thập dữ liệu bằng số, tốt nhất là trong các chuỗi thứ tự thời gian
nhằm đƣa ra chiều hƣớng, các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu.
- Chỉ số (index): là một tập hợp các chỉ thị đƣợc tích hợp hoặc nhân với trọng số.
Sơn – Ngổ Luông.
Trong tài liệu Danh lục xanh các khu bảo vệ và bảo tồn của IUCN năm 2016,
đánh giá hiệu quả quản lý KBT tập trung trên các khía cạnh về sinh thái và khía cạnh
kinh tế - văn hóa và xã hội. Về khía cạnh sinh thái, đánh giá tập trung chủ yếu về chức
năng/dịch vụ HST; ĐDSH (cấp độ HST, mức độ các loài, kiểm soát loài ngoại lai, mức
độ di truyền); cảnh quan địa chất. Đối với khía cạnh kinh tế - văn hóa, xã hội đánh giá
dựa trên các giá trị về tinh thần, lịch sử, nghiên cứu, giáo dục, du lịch, đóng góp cho
cộng đồng địa phƣơng (IUCN, 2016).
Theo đó, dựa trên nội hàm của quản lý KBT hƣớng tới PTBV đã đề cập ở phần
trên, nghiên cứu đƣa ra khung hợp phần và nhóm tiêu chí làm cơ sở xây dựng bộ tiêu
chí nhằm đánh giá tính bền vững trong quản lý KBT. Nhằm đánh giá tính bền vững
trong quản lý KBT, nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá trên ba nhóm hợp phần (1) bền
vững về ĐDSH; (2) bền vững về kinh tế và (3) bền vững về xã hội.
11
Bảng 1.2. Hợp phần đánh giá mức độ bền vững trong quản lý khu bảo tồn
c. Nguyên tắc xây dựng bộ tiêu chí
Theo UNDP và Nguyễn Đình Hoè, tiêu chí là nội dung của đơn vị đo lƣờng “các
đặc tính mong muốn” (UNDP-UNEP, 2008; Nguyen Dinh Hoe, 2008). Bộ tiêu chí tuân
theo nguyên tắc tảng băng trôi: nó chỉ đo lƣờng phần nổi của tảng băng từ đó suy ra
toàn bộ tảng băng. Tiêu chí cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
1. Phản ánh bản chất của hệ thống. Tiêu chí phải phản ánh một tính chất đặc thù của
hệ thống. tính chất cốt lõi này là tính trồi do tƣơng tác giữa các yếu tố cấu thành hệ
thống nên có thể từ đó suy ra bản chất của hệ thống.
2. Có giá trị về hoạch định chính sách. Tiêu chí sử dụng để làm rõ vấn đề và có
thực hiện các chức năng của KBT về bảo tồn, phát triển và hỗ trợ. Đã có rất nhiều
nghiên cứu về đánh giá hiệu quả quản lý KBT thông qua việc xây dựng bộ tiêu chí, chỉ
thị giám sát, đánh giá.
Năm 1995, Uỷ ban thế giới về các khu vực đƣợc bảo vệ (WCPA) đã thành lập
một lực lƣợng đặc nhiệm (Task Force) để khám phá những vấn đề liên quan đến hiệu
13
quả quản lý của KBT. Dựa trên những kết quả này, WCPA đã phát triển một khung
đánh giá tổng thể (Hockings et al., 2000) nhằm cung cấp một cách tiếp cận nhất quán
để đánh giá hiệu quả quản lý KBT. Các thành phần chính của Khung IUCN-WCPA bao
gồm: bối cảnh (context); kế hoạch (planning); đầu vào (inputs); quy trình
(processes); đầu ra (outputs) và kết quả (outcomes). Mỗi một thành phần bao gồm
một số chỉ thị đánh giá. Việc đánh giá cần phải đƣợc thực hiện trong bối cảnh KBT, vì
vậy các đánh giá đầu tiên cần thu thập dữ liệu về các vấn đề liên quan đến giá trị khu
vực, các mối đe dọa và cơ hội, các bên liên quan và bối cảnh quản lý và chính trị.
Quản lý bắt đầu với việc lập kế hoạch chiến lƣợc cần thiết để thực hiện tầm nhìn, mục
đích và mục tiêu bảo vệ và giảm thiểu các mối đe dọa. Để đƣa các kế hoạch này vào
đúng vị trí và đáp ứng các mục tiêu quản lý, ngƣời quản lý cần đầu vào (nguồn lực)
của nhân viên, tiền bạc và thiết bị. Các hoạt động quản lý đƣợc thực hiện theo các quy
trình đƣợc chấp nhận (ví dụ: các phƣơng pháp hay nhất); tạo ra kết quả đầu ra bằng
cách hoàn thành các hoạt động đƣợc nêu trong kế hoạch công việc. Kết quả cuối cùng
của quản lý là đạt đƣợc các kết quả, tức là đạt đƣợc mục đích và mục tiêu đặt ra cho
bảo tồn sinh học, phát triển kinh tế, bền vững xã hội hoặc di sản văn hóa của KBT
(Theo thông tin tại trang https://www.cbd.int).
Khung IUCN-WCPA đã đƣợc áp dụng tại một số nƣớc, các phƣơng pháp để
đánh giá các KBT cũng đã đƣợc thảo luận bởi các nhà quản lý KBT, nhƣng chỉ có một
số hệ thống đƣợc kiểm nghiệm thực địa và thực hiện. Cam kết về hiệu quả quản lý
giữa cá nhân, tổ chức (NGO) và các cơ quan quản lý còn ít. Ngoài ra, cũng có ít bằng
chứng về sự phù hợp của các phƣơng pháp cụ thể để đáp ứng nhu cầu của nhiều loại
giữa các khu vực. Ƣu điểm của phƣơng pháp này là đánh giá nhanh, với chỉ 30 câu
hỏi. Một số chỉ thị áp dụng cho phƣơng pháp này nhƣ: Lợi ích kinh tế: KBT có mang
lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phƣơng, ví dụ: thu nhập, việc làm, thanh toán cho
các dịch vụ môi trƣờng không?; Số nhân viên: Có đủ số lƣợng nhân viên thực hiện
quản lý KBT không?... Mỗi câu hỏi sẽ đƣợc cho điểm bằng thang điểm
4 (0,1,2 và 3). Điểm 0 tƣơng đƣơng với không hoặc có tiến bộ không đáng kể, điểm 1
là có một số tiến bộ, điểm 2 là khá tốt nhƣng cần phải cải thiện, điểm 3 là đang tiếp
cận tình hình tối ƣu. Ngoài ra có ba nhóm câu hỏi bổ sung đƣợc xây dựng dựa trên các
chủ đề chính trong các câu hỏi trƣớc để cung cấp thêm thông tin và điểm số. Tuy
nhiên, Công cụ đánh giá trên không bao gồm tất cả các khía cạnh của quản lý, và vì
đặc điểm là đánh giá nhanh và đơn giản, nên sẽ hạn chế nhiều kết quả mà nó đánh giá
(MacKinnon và Higgins-Zogib, 2006).
Ngoài ra, phƣơng pháp EOH (Enhancing Our Heritage) của tổ chức UNESCO,
IUCN và Đại học Queensland xây dựng đã cung cấp cho ngƣời quản lý KBT và các
15