Điển cố, điển tích trong kho tàng ca dao người việt - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

HOÀNG THỊ NGA

ĐIỂN CỐ, ĐIỂN TÍCH TRONG KHO
TÀNG CA DAO NGƢỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨVĂN H ỌC

Hà Nội – 2012

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

HOÀNG THỊ NGA

ĐIỂN CỐ, ĐIỂN TÍCH TRONG KHO
TÀNG CA DAO NGƢỜI VIỆT

Chuyên ngành: Văn học dân gian
Mã số: 60 22 36.

LUẬN VĂN THẠC SĨVĂN HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Xuân Kính


Bảng điển cố, điển tích sử dụng tích truyện Trung Hoa

6.

Bảng điển cố, điển tích sử dụng kinh điển Nho gia của Trung Hoa

7.

Bảng điển cố, điển tớch về nhõn vật Việt Nam

8.

Bảng điển cố, điển tớch về địa danh Việt Nam

5


DANH MỤC CÁC CHƢƢ̃ VIẾT TẮT

GS
Nxb
PGS
STT
TS
TSKH
CN
TCN
tr

6

6
8
8
21
26
26
29

trùng lặp điển trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt qua việc so sánh về số lƣợng
2.3 Một số vấn đề về nội dung các bài ca dao sử dụng điển cố, điển tích trong

35

Kho tàng ca dao ngƣời Việt
2.4 So sánh và nhận xét về điển cố điển tích Trung Hoa và Việt Nam
Chƣơng 3: Tác dụng, ý nghĩa và hạn chế của việc dùng điển cố, điển
tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt
3.1. Tác dụng, ý nghĩa của việc sử dụng điển cố, điển tích trong Kho tàng ca
dao ngƣời Việt
3.2. Hạn chế của việc sử dụng điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt

Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục

7

59
68
68

Trung Hoa , Việt Nam làm đối tƣợng khảo sát , phân tích . Kết quả này sẽ có giá
trị cho việc nghiên cứu không chỉ Kho tàng

8


ca dao ngƣời Việt mà sẽ còn có giá trị trong việc nghiên cứu thơ ca, văn học
nói chung, trong việc nghiên cứu văn hoá và giao lƣu văn hoá Trung-Việt, tìm
hiểu bản sắc văn hoá trong quá trình giao lƣu với các nền văn hoá khác.
Những tác dụng và ý nghĩa của việc dùng “điển” trong văn chƣơng cũng
là một lý do quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này. Dùng điển là nét đặc
thù trong văn học cổ trung đại phƣơng Đông nói chung và văn học trung đại
Việt Nam nói riêng. Văn học thời ấy quan niệm việc dùng điển trong sáng tác
giúp tác giả tránh đƣợc “bệnh quê mùa”, bệnh thô phác, thể hiện đƣợc sự
uyên bác và tài năng của bản thân. Đây là loại ngôn ngữ văn hoá có chọn lọc,
đƣợc rút ra từ sử sách, do đó nó chỉ thực sự quen thuộc với tầng lớp độc giả
tinh thông Hán học. Ngƣời dùng điển phải có kiến văn sâu rộng và rung động
thực sự. Nếu điển vào tay những ngƣời không rung động mà cứ muốn làm thơ
thì dùng điển trở thành trò chơi đố chữ. Nhƣng điều đặc biệt là tại sao ca dao loại thơ ca bình dân lại cũng dùng điển với một số lƣợng lớn? Hơn nữa với
hơn một nghìn năm Bắc thuộc đến nay, Việt Nam đã chịu ảnh hƣởng rất lớn
của văn hoá và văn học Trung Hoa. Vậy việc sử dụng điển trong Kho tàng ca
dao ngƣời Việt có gì khác so với điển cố nguyên gốc của nó, có sự tiếp thu
một cách sàng lọc, sáng tạo và đƣợc Việt hoá hay không? Sử dụng điển trong
ca dao có những hiệu quả nghệ thuật nhƣ thế nào? Đi vào tìm hiểu và lý giải
những hiện tƣợng ấy sẽ đem lại những khám phá có ý nghĩa khoa học và
nhiều thú vị.
Trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt, những bài ca dao sử dụng điển cố,
điển tích chiếm một vị trí quan trọng cả về mặt chất lƣợng và đặc biệt biểu
hiện rõ ở mặt số lƣợng với hơn một nghìn lời ca dao . Đã có không ít những
chuyên luận, luận án hay sách kiểu từ điển viết về điển cố, điển tích của nhiều

Mô tả và phân loại điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt,

tập hợp những bài ca dao có sử dụng điển cố, điển tích, đƣa ra một cái nhìn
định lƣợng và nhận xét bƣớc đầu.
-

Trong phạm vi tài liệu có thể tiếp cận đƣợc, chúng tôi tiến hành phân

tích nội dung của ca dao sử dụng điển cố, điển tích, phân loại nó và đƣa ra
những so sánh, nhận xét ban đầu.
-

Nêu ra đƣợc những tác dụng và hạn chế cơ bản của việc sử dụng điển

cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt
- Thiết lập từ điển điển cố, điển tích trong Kho tàng ca dao ngƣời Việt
làm công cụ tra cứu. Từ điển này sẽ có giá trị cho việc nghiên cứu không chỉ

10


Kho tàng ca dao ngƣời Việt mà sẽ còn có giá trị trong việc nghiên cứu thơ ca,
văn học nói chung, trong việc nghiên cứu văn hoá và giao lƣu văn hoá Trung
– Việt, tìm hiểu bản sắc văn hoá trong quá trình giao lƣu với các nền văn hoá
khác.
3.

Tình hình nghiên cƣƣ́u

Lịch sƣƣ̉ nghiên cƣƣ́u văn điển cố , điển tích văn học Trung Hoa và Việt

và điển tích trong ca dao dân ca, Nguyễn Xuân Kính (2007) với bài viết anhh̉
hƣởng của văn học chƣƣ̃ Hán Trung Quốc với thơ ca dân gian ngƣời Việt …
đã bƣớc đầu tìm hiểu điển cố , điển tích trong ca dao nhƣng chƣa thấy có một
tác giả nào đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu hoặc trình bày một cách có hệ thống,
cụ thể, chi tiết trong một công trình có bề dày.
4. Phạm vi đề tài
Chúng tôi xem xét hơn một nghìn lời ca dao về điển cố điển tích trong
cuốn Kho tàng ca dao ngƣời Việt do tác giả Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng
Nhật chủ biên. Đây là tài liệu chính để tiến hành phân tích, khảo sát. Tƣ liệu
ấy đã đƣợc tập hợp từ tất cả 40 cuốn sách (gồm 49 tập) đƣợc biên soạn từ
cuối thế kỷ XVIII đến năm 1975. Chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ góp phần
cùng với các công trình nghiên cứu khác khắc hoạ rõ nét hơn về một nét nghệ
thuật đặc sắc của ca dao trong folklore Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi phối hợp sử dụng nhiều
phƣơng pháp: phƣơng pháp so sánh, đối chiếu văn bản, phƣơng pháp phân
tích, miêu tả, thao tác thống kê phân loại, kết hợp phân tích tổng hợp với phân
tích kỹ, hiểu sâu từng tác phẩm ca dao cụ thể…. những thao tác ấy giúp cho
những nhận xét, kết luận trong bài có cơ sở khoa học và tính thuyết phục. Đối
với việc nghiên cứu văn học dân gian thì phƣơng pháp thống kê nếu đƣợc sử
dụng tốt, sẽ đem lại hiệu quả khả quan. Mặc dù biết đƣợc những khả năng to
lớn của việc sử dụng các phƣơng pháp phân tích chính xác, nhƣng ta vẫn thấy
rõ những giới hạn của chúng nhƣ Prop đã từng nhận xét những phƣơng pháp
này: “Chỉ có thể đƣợc áp dụng và đem lại kết quả ở những nơi mà sự lặp lại
có trong một phạm vi lớn. Điều này chúng ta có ở trong ngôn ngữ, điều này
chúng ta có ở trong văn học dân gian” [ 35; tr.18 ]

12



khi coi đó là loại thành ngữ có cốt truyện thƣờng có xuất xứ từ truyện lịch sử,
cổ tích, ngụ ngôn hay văn thơ của các tác giả nổi tiếng. Ông cho rằng vì vậy
đọc điển cố trở nên lí thú và hấp dẫn. Lời tựa nhà xuất bản trong cuốn Từ điển
thành ngữ điển cố Trung Quốc của ông là xác đáng khi nhận xét: “Khi đọc
một văn bản Hán văn, ngƣời ta thƣờng gặp không ít thành ngữ, thành ngữ
vốn đã súc tích mà thành ngữ điển cố càng súc tích hơn và đƣợc viết bằng cổ
văn rất khó hiểu” [44, tr.5]. Định nghĩa của Lê Huy Tiêu coi điển cố là thành
ngữ có lẽ do hầu hết các đơn vị điển cố Trung Quốc của ông sƣu tập và tƣờng

14


giải đều có hình thức của một đơn vị thành ngữ. Ví dụ: “Khô mộc phùng
xuân” (Cây khô gặp mùa xuân), “Bạch bích vi hà” (Ngọc trắng có tì vết). Qủa
thực những điển cố này không khác những thành ngữ gốc Hán khác về mặt
hình thức : “Dƣơng chất hổ bì” (Mình dê da cọp), “Thuỷ trích thạch xuyên”
(Nƣớc chảy đá mòn)
-Trác Hiên Triệu Hữu Lập viết : Mấy lời của ngƣời hiệu đính in trong
sách Từ điển văn liệu của Long Điền Nguyễn Văn Minh có đề cập đến định
nghĩa điển cố : “Ngƣời ta làm văn tất cũng phải có văn liệu, nghĩa là phải
dùng chữ, dùng điển ở trong Tứ Thƣ, Ngũ Kinh, Chƣ sử, các chuyện để phụ
diễn ra thành văn thì lời văn mới hay mới đẹp, lời nói châu ngọc hàng hàng
gấm thêu” [27, tr.7]. Khi làm sách này, tác giả và ngƣời phụ giúp ấn loát đều
nhận thấy một tình trạng Hán học bị suy sút khi Quốc ngữ phát triển, song
vốn học của cha ông cần đƣợc giữ gìn và phát huy nên cần có những sách kê
biên khảo cứu nhƣ từ điển, chuyên luận về điển cố, điển tích. Trong cách hiểu
về văn liệu ở đây có hai yếu tố là “chữ” và “điển” tức là điển cố và điển tích.
Đặc trƣng của “chữ” và “điển” là sẵn có vì đƣợc trích dẫn từ các sách xƣa, từ
truyện, từ sử để dùng trong thơ văn.
- Cũng là một loại từ điển văn liệu, nhƣng cuốn Ngữ liệu văn học của

đƣợc sử dụng nhiều nhất ở câu văn đối ngẫu vì văn đối ngẫu bị gò ép ở số
lƣợng âm tiết nên thƣờng đƣợc khắc phục bằng cách sử dụng điển cố. Ví dụ
trong phú đời Hán số lƣợng điển cố thƣờng có một tỉ lệ rất cao. Do xu hƣớng
chuộng cổ bắt chƣớc ngƣời xƣa vốn là truyền thống của văn chƣơng xƣa kia
nên điển cố ngày càng đƣợc vận dụng rộng rãi đến mức không thuộc điển cố
ngƣời đọc nhiều khi không hiểu đƣợc ý nghĩa của câu thơ văn cổ. Nguồn
khai thác điển cố chủ yếu là các sự tích thời Xuân Thu Chiến Quốc đƣợc ghi
chép trong các trƣớc tác Tiên Tần và văn thơ đời Đƣờng, Tống, ngoài ra còn
có thể kể đến Kinh sử hay thƣ tịch nổi tiếng các đời khác.
Khi các từ ngữ này trở thành điển cố và đƣợc đƣa vào sáng tác với cấp độ


nghĩa thứ hai, tức là cấp độ biểu trƣng để thay thế cho một sự tích, một câu

nói, một tứ thơ thì nó đƣợc gọt giũa thêm để trở nên hàm súc hơn, ý tại ngôn
ngoại, tức là cố gắng chuyển tải đƣợc một nội dung lớn hơn nhiều so với sức
hàm chứa của bản thân từ ngữ. Điển cố thì ngƣợc lại, bao giờ nó cũng bao hàm

16


hai cấp độ nghĩa: Tính lịch sử cụ thể và tính biểu trƣng hay giá trị phong cách
học.
-

Đinh Gia Khánh cũng phần nào định nghĩa điển cố khi ông giải thích

cách thức lựa chọn các đơn vị mục từ trong cuốn Điển cố văn học xuất bản
năm 1977. Ông cho biết các điển cố trong sách là thông dụng để xây dựng
hình tƣợng trong văn học cổ, chúng bao gồm các sự tích nhƣ “gác vàng”,

tinh thông điển tích và họ dùng rất thƣờng xuyên và thâm thuý trong tác
phẩm của mình để tạo nên những hiệu quả thẩm mĩ, tình cảm mạnh mẽ và sâu
sắc. Hai tập cuốn Điển tích chọn lọc của ông tập trung nhiều điển cố và điển
tích căn bản của Hán văn cổ nhƣ “Kết cỏ ngậm vành”, “Nằm gai nếm mật”,
“Đằng Vƣơng các”.
1. 1.3 Rút ra định nghĩa chung về điển cố, điển tích
Từ những định nghĩa, nhận xét đã dẫn của nhiều học giả, có thể tạm thời
đƣa ra một định nghĩa chung, dễ hiểu về điển cố, điển tích :

19


- Điển cố là những câu chuyện từ ngữ trong sách, là những phát ngôn hành
động, tên của các nhân vật văn chƣơng và sự thực lịch sử, là những sự kiện
chính trị, chiến tranh tôn giáo… trong tiến trình phát triển xã hội đƣợc viết
gọn, cô đọng, hàm súc, lời ít, ý nhiều.
-

Điển tích là những cốt truyện, diễn trình của các sự kiện nổi bật trong văn

chƣơng, trong lịch sử đƣợc dẫn lại cô đọng trong ngôn bản
Nhƣ vậy điển cố bao hàm điển tích. Chẳng hạn điển cố : “Ngƣu Chức”: có


nghĩa chỉ tình vợ chồng phải chịu xa cách. Tích truyện của điển cố đƣợc rút

ra từ Kinh sở tuế thời kí: Chức nữ là tên một ngôi sao ở Phía Bắc sông Ngân
Hà, đối diện với sao Khiên Ngƣu, Chứu Nữ (ả Chức) là cháu Trời, làm nghề
dệt vải rất siêng năng. Trời đem gả cho Khiên Ngƣu (Chàng Ngƣu) làm nghề
chăn trâu. Hai vợ chồng quá âu yếm nhau không giữ đúng phép trời. Trời phạt

và "Hán hóa" vùng đất nƣớc cổ Việt Nam thời đó gọi là Giao Chỉ, Cửu Chân,
văn hóa Hán bắt đầu đƣợc truyền bá vào Việt Nam, với tên tuổi hai viên quan
mà sử sách Việt Nam cũng nhƣ sử sách Trung Quốc đều ca ngợi có công lao
trong việc "khai hóa" lễ nghĩa, mở mang phong tục mới là Tích Quang và
Nhâm Diên. Nho giáo là một thành phần của văn hóa Hán, tất nhiên cũng sớm
có mặt tại Việt Nam nhƣ là một công cụ Hán hóa nƣớc Việt. Nhƣng sự hiện
diện tƣơng đối rõ nét của Nho giáo ở nƣớc ta có lẽ chỉ thật sự bắt đầu vào
cuối đời Đông Hán với vai trò tích cực của Sĩ Nhiếp (187-226 CN) trong việc
làm cho nƣớc ta "thông thi thƣ, tập lễ nhạc" nhƣ sử thần Ngô Sĩ Liên (thế kỷ
XV) từng bình luận trong sách Đại Việt sử ký toàn thƣ.
Trong hơn nghìn năm bị lệ thuộc phong kiến phƣơng Bắc, Nho giáo
đƣợc đƣa vào Việt Nam chủ yếu với tƣ cách là công cụ phục vụ cho chính
sách cai trị và đồng hóa Việt Nam về văn hóa, nghĩa là ngƣời Việt Nam tiếp
nhận Nho giáo vẫn với thái độ thụ động. Nho giáo chỉ đƣợc ngƣời Việt Nam
chủ động thừa nhận nhƣ là một văn hóa chủ thể và xác lập địa vị cao sang của
nó khi nền độc lập dân tộc đƣợc hoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào phục
hƣng dân tộc ở vƣơng triều Lý bắt đầu từ năm 1010 – năm triều Lý dời đô từ
Hoa Lƣ (Ninh Bình) về Thăng Long (Hà Nội ngày nay).
-

Nho giáo vào nƣớc ta cũng bởi các hoạt động mang tính tự phát của

nhiều Nho gia thất thế từ Trung Quốc bị đày ải hay di cƣ, lánh nạn sang Việt

21


Nam. Vốn từ ngữ về chính trị, học thuật... của Trung Hoa đƣợc họ mang sang
truyền bá rộng rãi trong nhân dân. Do đó tiếng Việt đã chịu ảnh hƣởng sâu
sắc tiếng Hán và tiếp thu một cách thành thục một số lớn từ ngữ tiếng Hán


22


hiển nhiên. Chúng ta đều biết rõ là sau khi giành đƣợc độc lập, chính các triều
đại phong kiến Việt Nam đã chủ động tìm đến với Nho giáo [41].
-

Bản thân Nho giáo cũng nhƣ các hệ tƣ tƣởng khác, luôn luôn vận động

ảnh hƣởng tới các xứ sở lân cận. Ngƣời ta không lấy làm lạ khi thấy văn hóa
của một nƣớc nhỏ chịu ảnh hƣởng sâu đậm văn hóa của một nƣớc láng giềng
lớn. Văn hóa Pháp và nhiều nƣớc Âu châu cũng chịu ảnh hƣởng của văn hóa
Hy- La (Hy lạp và La mã). Trong khi đó, nhiều nƣớc Á châu (nhƣ Triều Tiên,
Nhật Bản và Việt Nam) chịu ảnh hƣởng văn hóa của Trung Hoa.
- Vai trò của nhà Nho cũng có ảnh hƣởng rất lớn đến việc đem Nho giáo
trong đó có việc sƣƣ̉ dụng điển cố, điển tích Trung Hoa vào trong ca dao . Có
thể thấy thực tế số ngƣời theo học kinh điển Nho giáo rất đông. Số thi đậu
làm quan rất ít. Đa số hoặc thi hỏng hoặc không đi thi mà làm ông đồ làng
quê. Họ cũng là Nho gia. Số lƣợng của họ là bao nhiêu chƣa có công trình
nghiên cứu, nhƣng rất lớn. “Ví dụ năm 1463, 4.400 sĩ tử dự thi mà chỉ lấy 44
tiến sĩ. Theo đó số ngƣời ghi danh bảng vàng chỉ bằng 1/100 số dự thi. Cứ thế
suy 2.898 ngƣời đỗ đạt thì khoảng 289.800 ngƣời dự thi. Có 286.902 ngƣời
thi rớt về làng “gõ đầu trẻ” hay làm các việc khác sống trong lòng quảng đại
quần chúng lao động. Số trí thức Nho học trong triều và chốn quan trƣờng chỉ
chiếm 1%; còn 99% trí thức ở làng. Chính họ là những ngƣời đã đem tri thức
Tam giáo và nhất là các điển cố, điển tích văn học Trung Quốc vào kho tàng
văn hoá dân gian Việt Nam” [58]. Trong những buôỉ sinh hoaṭ văn nghệtâpp̣
thểởnông thôn , cać nhàNho trực tiêṕ tham gia vàlamƣ̀ “cốvâń” cho những buôỉ
đó. Đây làmôṭ dipp̣ đểcho họphô trương tâtƣ́ cảnhững taì năng chữnghiã

cố có mặt trong rất nhiều thể loại văn học của Hán văn cổ và văn học dân
gian. Các điển cố điển tích đƣợc giải nghĩa in thành sách hiện nay đa phần có
xuất xứ từ văn liệu Trung Hoa vì mối ảnh hƣởng mạnh mẽ của văn hoá Trung
Hoa tới văn học Việt Nam. Tuy nhiên các tác giả đã vận dụng sáng tạo các
đơn vị điển cố đó ở nhiều phƣơng diện để làm phong phú sâu sắc cho cách
diễn đạt phù hợp với sự tri nhận thẩm mĩ của ngƣời Việt .

24


1.1.5 Nguyên nhân của việc sử dụng điển cố, điển tích
Theo tác giả Đoàn Ánh Loan trong bài viết : Điển cố trong văn học trung đại
Việt Nam [58, tr.3], có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng điển tích,
điển cố nhƣ sau:
-

Trong ca dao, các tác giả dân gian cũng có lí do để vận dụng điển tích

trong sáng tác. Ca dao sử dụng những công thức truyền thống, những
môtip...để đạt tới mục tiêu trình bày nội dung một bày ca dao một cách ngắn
gọn, súc tích. Ca dao là những bài thơ dân gian ngắn, cần phải tiết kiệm lời
nên công thức, môtip đƣợc dùng khá phổ biến. Thực chất, những công thức,
mô tip này cũng là một thứ “điển tích”. Nhƣ vậy, có thể nói điển tích xuất
hiện trong ca dao có vai trò nhƣ một công thức, một mô tip. Điển tích trong
ca dao là một loại biểu trƣng. Điều này tạo nên một nét độc đáo trong sáng
tác trữ tình của dân gian.
Các nhà nho của Trung Quốc lẫn Việt Nam đều thích dùng điển cố

-


Điển cố lắm khi là những ví dụ, những chứng cớ xác thực để chứng

-

minh lập luận của tác giả. Không phải mất công dài dòng để kể lại việc xƣa
một cách chi tiết, chỉ cần trích dẫn những hình ảnh, những chuyện tích xƣa
cho chính xác, phù hợp cũng đủ cho lý lẽ trở nên vững chắc, xác thực.
-

Do tác giả muốn tự khẳng định mình, muốn tác phẩm tỏ ra uyên bác,

họ càng phải tìm tòi những từ ngữ tinh hoa của dân gian, sáng tạo ngôn ngữ
chặt chẽ, kết hợp với điển cố để thực hiện nhiều đề tài về mọi khía cạnh của
xã hội và con ngƣời. Mục đích nhằm xây dựng số chữ ít nhƣng hàm ý càng
nhiều mà không phải là những lời mang tính lý thuyết khô khan, cứng nhắc.
Điển cố đƣợc sử dụng trong thơ ca càng làm tăng thêm màu sắc sống động, ý
nghĩa thêm phong phú, trong các bài nghị luận làm tăng nhiều lần tính thuyết
phục.
-

Ngoài ra có thể cắt nghĩa hiện tƣợng dùng điển cố điển tích do yêu cầu

ngắn gọn, hàm súc trong cách viết từ khía cạnh lịch sử. Điển cố, điển tích còn
có gốc từ kỹ thuật viết. Ngày xƣa, khi chƣa chế tạo ra giấy, hoặc dùng lụa để
viết, ngƣời ta khắc chữ trên mai rùa, trên xƣơng, trên tre. Sự khó khăn này
đòi hỏi nguyên tắc ít chữ nhƣng đảm bảo một nội dung phong phú, đầy đủ.
Hiện tƣợng này theo thời gian dần dần trở thành thói quen, cộng với những
quan niệm trong sáng tác và cảm thụ văn học nói chung, việc vận dụng điển
cố, điển tích trở thành nguyên tắc viết văn của ngƣời xƣa.
Do vậy sự phổ biến của điển cố, điển tích có một lý do là sự tiết kiệm.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status