ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN NGUYỄN KHÁNH TRÂN
NGHIÊN CỨU NHU CẦU MUA SẮM CỦA KHÁCH
QUỐC TẾ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ TẠI NHA TRANG – KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐOÀN NGUYỄN KHÁNH TRÂN
NGHIÊN CỨU NHU CẦU MUA SẮM CỦA KHÁCH
QUỐC TẾ ĐỐI VỚI SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ
NGHỆ TẠI NHA TRANG – KHÁNH HÒA
Chuyên ngành: Du lịch
(Chƣơng trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM TRƢƠNG HOÀNG
Hà Nội, 2014
Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................
7.
Bố cục của luận văn ..............................................................................................
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT .........................
1.1. Một số khái niệm ..............................................................................................
1.1.1. Khách du lịch quốc tế ...................................................................................................
1.1.2. Sản phẩm du lịch và đặc thù của nó ...........................................................................
1.2. Lý thuyết về nhu cầu trong du lịch ...................................................................
1.2.1. Khái niệm về nhu cầu trong du lịch ............................................................................
1.2.2. Các loại nhu cầu du lịch ..............................................................................................
1.3. Tổng quan về sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch ............................
1.3.1. Khái niệm ......................................................................................................................
1.3.2. Đặc điểm của sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch ....................................
1.4. Lý thuyết về hành vi tiêu dùng và hành vi tiêu dùng trong du lịch ..................
1.4.1. Khái niệm về hành vi tiêu dùng ...................................................................................
1.4.2. Khái niệm về hành vi tiêu dùng du lịch ......................................................................
1.4.3. Mối quan hệ giữa nhu cầu và hành vi tiêu dùng .......................................................
1.4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng ............................................................
1.4.5. Tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng ........................................................
1
1.4.6. Mô hình về hành vi người tiêu dùng ...........................................................................
1.5. Các mô hình nghiên cứu về hành vi mua sắm và mua sắm sản phẩm thủ công
mỹ nghệ .....................................................................................................................
1.5.1. Các mô hình nghiên cứu trước về hành vi mua sắm và mua sắm sản phẩm thủ
3.2.2. Thống kê mô tả các biến quan sát.................................................................. 66
3.2.3. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha.............71
3.2.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA................................................................... 72
3.2.5. Phân tích hồi quy và tương quan................................................................... 77
3.2.6. Kết luận nghiên cứu....................................................................................... 81
CHƢƠNG 4: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THÚC ĐẨY VÀ
ĐÁP ỨNG NHU CẦU MUA SẮM SẢN PHẨM THỦ CÔNG MỸ NGHỆ CỦA
KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ TẠI NHA TRANG – KHÁNH HÒA...............83
4.1. Định hướng phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ nhu cầu của khách
du lịch quốc tế tại Khánh Hòa................................................................................. 83
4.2. Một số đề xuất................................................................................................. 84
4.2.1. Nắm bắt động cơ của khách hàng để thúc đẩy hành vi mua sắm của khách quốc tế
đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Nha Trang – Khánh Hòa...........................84
4.2.2. Nâng cao giá trị sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách quốc tế đối với sản phẩm
thủ công mỹ nghệ tại Nha Trang – Khánh Hòa....................................................... 85
4.2.3. Tăng cường các hoạt động quảng cáo khuyến mãi để thúc đẩy nhu cầu mua sắm
của khách quốc tế đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Nha Trang – Khánh Hòa
................................................................................................................................. 86
4.2.4. Tăng cường sự thuận tiện và cảm nhận của khách hàng về sự thuận tiện để kích
thích hoạt động mua sắm của khách quốc tế đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Nha
Trang – Khánh Hòa................................................................................................. 87
4.2.5. Nâng cao vai trò và tác động đến các yếu tố của ảnh hưởng xã hội đến khách
hàng để kích thích nhu cầu và hành vi mua sắm của khách quốc tế đối với sản phẩm thủ
công mỹ nghệ tại Nha Trang – Khánh Hòa............................................................. 88
4.3. Một số kiến nghị.............................................................................................. 89
nghệ
Variance inflation
factor
Hệ số phóng đại
phương sai
4
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua của người tiêu dùng...............25
Hình 1.2: Tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng......................................32
Hình 1.3: Mô hình hành vi của người mua sắm...................................................... 34
Hình 1.4: Mô hình hành vi mua và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua hàng. .35
Hình 1.5: Mô hình của Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012)......................................... 36
Hình 1.6: Mô hình của Phạm Phú Hùng (2013)..................................................... 36
Hình 1.7: Mô hình trải nghiệm mua sắm giải trí của Irahim (2002).......................37
Hình 1.8: Mô hình của Phan Mai Phương Duyên (2012).......................................38
Hình 1.9: Mô hình nghiên cứu đề xuất................................................................... 39
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình thực hiện nghiên cứu..................................................... 44
Hình 3.1 : Mô hình lý thuyết được điều chỉnh theo EFA........................................ 76
5
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Thang đo Yếu tố sản phẩm..................................................................... 46
Bảng 2.2: Thang đo giá cả...................................................................................... 47
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Theo
công bố mới đây tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 diễn ra ngày 16 tháng 5 năm
2012 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% thu nhập GDP thế giới. Du lịch là một
trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất. Năm 2011, mặc dù trong
bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không lấy gì làm tốt đẹp và ổn định, ngành
du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách và thu nhập du
lịch tăng 3,8%. Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững
trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2012 và 1,8 tỷ lượt năm 2030
[28, tr. 1].
Việt Nam một quốc gia giàu tài nguyên du lịch đã và đang hòa mình vào
dòng chảy của sự phát triển ngành công nghiệp không khói trên phạm vi toàn cầu.
Cụ thể, với những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng; các giá trị
văn hóa vật thể và phi vật thể thực sự hấp dẫn; các làng nghề và lễ hội truyền thống
gắn với các nhóm dân tộc. Du lịch Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể: doanh
thu du lịch đạt từ 9.932 tỷ đồng năm 2005 đã vươn lên 26.391 tỷ đồng năm 2012.
Nhân tố cơ bản tạo nên kết quả này là lượng khách quốc tế đón hàng năm không
ngừng gia tăng, từ 3,477 triệu lượt khách năm 2005 lên 6,848 triệu lượt khách năm
2012 [29, tr. 1]. Tuy nhiên, từ nhiều góc nhìn khác nhau có thể thấy chất lượng dịch
vụ du lịch Việt Nam còn nhiều bất cập. Đây được xem là một trong những nguyên
nhân làm giảm mức độ hài lòng của du khách, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến
mức chi tiêu của du khách trong chuyến đi.
Cùng với đó, Nha Trang – Khánh Hòa là một trong những trung tâm du lịch
lớn của Việt Nam và đã đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên, khách đến Nha
Trang – Khánh Hòa du lịch, đặc biệt là khách quốc tế có mức chi tiêu khá thấp so
2.2.
Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu giúp các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm thủ công mỹ nghệ
và các cơ quan ban ngành nắm được các yếu tố tác động đến hành vi mua sắm sản
phẩm thủ công mỹ nghệ của khách quốc tế. Từ đó, đưa ra những giải pháp và chính
sách phù hợp để thúc đẩy hành vi mua sắm của họ.
Ngoài ra, đề tài là tham khảo cho các sinh viên, những người nghiên cứu tiếp
theo, và là cơ sở cho các nghiên cứu tương tự ở những địa phương khác tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu
8
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm sản
phẩm thủ công mỹ nghệ.
Khách thể của nghiên cứu là khách du lịch quốc tế đã và chưa có nhu cầu
mua sắm sản phẩm thủ công mỹ nghệ khi đi du lịch tại Nha Trang – Khánh Hòa.
3.2.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về nhu cầu mua sắm sản phẩm thủ công mỹ nghệ của
khách quốc tế tại Nha Trang – Khánh Hòa. Tuy nhiên, tác giả đã nghiên cứu mở
rộng về hành vi mua sắm của khách quốc tế tại Nha Trang – Khánh Hòa.
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
5.1.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Lý thuyết hành vi người tiêu dùng là một khái niệm nhận được nhiều quan
tâm nghiên cứu của các nhà quản trị marketing. Sự phát triển của lý thuyết hành vi
người tiêu dùng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau như:
Những năm 1930 và cuối năm 1940 đã bị ảnh hưởng lớn bởi cuộc nghiên
cứu thương mại thực nghiệm. Cuộc nghiên cứu này được mô tả bởi những cố gắng
trong ngành kinh doanh để tìm ra những kết quả của sự phân phối, những quyết
định thúc đẩy về quảng cáo. Cơ sở chủ yếu cho những mô hình này xuất phát từ
những lý thuyết kinh tế liên quan tới công ty thương mại
Từ những năm 1960, hình thành nghiên cứu mô hình hành vi người tiêu
dùng. Theo Kotler (2007) đã chỉ ra các nhân tố tác động đến hành vi (các tác nhân
marketing, các tác nhân khác, đặc điểm người mua…) và quyết định mua hàng của
người tiêu dùng. Hay như công trình nghiên cứu của Churchill và Peter (1998) cũng
đã chỉ ra nhiều yếu tố tác động đến quá trình mua hàng của người tiêu dùng như ảnh
hưởng của xã hội, ảnh hưởng của tiếp thị, ảnh hưởng của ngữ cảnh.
Có nhiều công trình nghiên cứu được công bố trong lĩnh vực này như:
-
“Shopping behaviors of individual tourists from the Chinese Mainland to
Hong Kong” của Tsan-Ming Choi, Shuk-Ching Liu, Ka-Man Pang và PuiSze Chow, 2008
-
“Consumer Behaviour” của Engel, Blackwell và Miniard, 1982
vi tiêu dùng cá của các hộ gia đình trên địa bàn thành phố Nha Trang.
Nghiên cứu của Phạm Bảo Dương, Nguyễn Thị Thủy Ly (2012) về “Nghiên
cứu nhu cầu tiêu dùng sản phẩm gốm sứ Bát Tràng”, Tạp chí Khoa học và Phát triển
2012, tập 10, số 7:1061-1068 đã đánh giá các yếu tố về sản phẩm, giá cả, tần suất sử
dụng, mục đích sử dụng và đưa ra một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
gốm sứ Bát Tràng.
Nhìn chung, các nghiên cứu về hành vi tiêu dùng của khách hàng ở Việt Nam
cho đến nay có những đóng góp nhất định cho một sự phát triển tốt hơn về hành vi
tiêu dùng khách hàng trong nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, như tác giả đã đề cập trong
lĩnh vực dịch vụ nói chung và trong du lịch nói riêng những biểu hiện cụ thể của
hành vi sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong các bối cảnh khác nhau là không giống
nhau. Vì thế, việc tìm hiểu và kiểm định một số nhân tố mới ảnh hưởng đến hành vi
mua sắm của khách quốc tế đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ trở thành một vấn
đề cấp thiết cho cả giới nghiên cứu và doanh nghiệp kinh doanh du lịch.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính để tìm ra các nhân tố và các biến quan sát
ảnh hưởng đến nhu cầu mua sắm của khách quốc tế .
11
Phương pháp chuyên gia: để tiến hành nghiên cứu, xây dựng các chỉ báo đo
lường và bảng câu hỏi điều tra định lượng.
Phương pháp định lượng: để tiến hành đo lường nhu cầu mua sắm của khách
quốc tế đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ tại Nha Trang – Khánh Hòa.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: điều tra khách quốc tế về nhu cầu mua
sắm sản phẩm thủ công mỹ nghệ khi đi du lịch tại Nha Trang – Khánh Hòa.
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp về một số sản phẩm thủ công mỹ nghệ
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT
1.1.
Một số khái niệm
1.1.1. Khách du lịch quốc tế
1.1.1.1.
Khái niệm
Hội nghị quốc tế về Du lịch tại Hà Lan (1989) đã định nghĩa: “Khách du lịch
quốc tế là những người đi thăm một đất nước khác, với mục đích tham quan, nghỉ
ngơi, giải trí, thăm hỏi trong khoảng thời gian nhỏ hơn 3 tháng, những người khách
này không được làm gì để được trả thù lao và sau thời gian lưu trú ở đó du khách trở
về nơi ở thường xuyên của mình” [19, tr.7].
Theo Luật du lịch Việt Nam (2005), tại điều 34, chương V quy định: “Khách
du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế”.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại
Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.
1.1.1.2.
Đặc điểm khách du lịch quốc tế
Khách du lịch quốc tế được xem là phân khúc quan trọng nhất của hoạt động
kinh doanh du lịch bởi vì họ có những đặc điểm quan trọng như sau:
Thường là những đối tượng có thu nhập khá cao.
Thời gian đi du lịch thường dài hơn khách nội địa.
Dịch vụ du lịch gồm có:
Dịch vụ lữ hành
Dịch vụ vận chuyển
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Dịch vụ vui chơi giải trí
Dịch vụ mua sắm
Dịch vụ thông tin, hướng dẫn
Dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung
Tài nguyên du lịch gồm có:
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch nhân văn [19, tr. 10]
1.1.2.3.
Những nét đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch về cơ bản là không cụ thể, không tồn tại dưới dạng vật thể.
Thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (thường chiếm 80 – 90% về mặt
giá trị) hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm du
lịch rất khó khăn. Chất lượng sản phẩm du lịch được xác định dựa vào sự chênh
lệch giữa mức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch.
14
Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch.
Do vậy, sản phẩm du lịch không dịch chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản
phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch mà bắt buộc khách du lịch phải đến với nơi
có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng sản
phẩm du lịch.
Về khía cạnh thứ hai, các chuyên gia du lịch đã phân loại thành các nhóm
động cơ đi du lịch gắn với các mục đích cụ thể như sau:
Nhóm I: Động cơ nghỉ ngơi
Nhóm II: Động cơ nghề nghiệp
Nhóm III: Các động cơ khác
Tiếp cận từ hai khía cạnh đã nêu, có thể thấy nhu cầu du lịch là một loại nhu
cầu đặc biệt, thứ cấp và tổng hợp của con người. Tổng quát lại từ việc nghiên cứu
những nhu cầu nói chung và những mục đích, động cơ đi du lịch nói riêng của con
người, các chuyên gia về du lịch đã phân loại nhu cầu du lịch theo 3 nhóm cơ bản
sau:
Nhóm I: Nhu cầu cơ bản (thiết yếu) gồm: đi lại, lưu trú, ăn uống
Nhóm II: Nhu cầu đặc trưng (nghỉ ngơi, tham quan, giải trí, tìm hiểu, thưởng
thức cái đẹp, giao tiếp…)
Nhóm III: Nhu cầu bổ sung (thẩm mỹ, thông tin, giặt là…) [3, tr. 61 – 63 ].
1.2.2. Các loại nhu cầu du lịch
Nhu cầu du lịch rất đa dạng phong phú, thỏa mãn nhu cầu du lịch cũng đồng
nghĩa với thỏa mãn tất cả các nhu cầu của khách trong hoạt động du lịch.
Với cách tiếp cận dựa trên những nhu cầu (đặc điểm tâm lí) cơ bản của
khách, cũng như căn cứ vào các dịch vụ du lịch phục vụ khách (lữ hành, ăn uống,
tham quan giải trí…) thì nhu cầu du lịch được chia thành 5 loại cơ bản là: nhu cầu
vận chuyển, nhu cầu lưu trú, nhu cầu ăn uống, nhu cầu tham quan giải trí, và các
loại nhu cầu khác [4, tr. 110].
1.2.2.1.
Nhu cầu vận chuyển:
Nhu cầu vận chuyển là những đòi hỏi tất yếu về các phương tiện, dịch vụ vận
chuyển mà khách cần được thỏa mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình.
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu này đầu tiên phải đề cập đến chính là các
phương tiện vận chuyển như: máy bay, tàu thủy, tàu hỏa, ô tô, xe máy, xích lô, xe
Nhu cầu lưu trú là những đòi hỏi về các sản phẩm dịch vụ lưu trú ăn uống mà
khách cần thỏa mãn để thực hiện chuyến du lịch của mình. Đây là nhu cầu thiết yếu của
du khách, tuy nhiên cần phân biệt nhu cầu này có những đặc điểm khác so với nhu cầu
thiết yếu trong cuộc sống hằng ngày của khách. Cũng là nhu cầu lưu trú nhưng nếu là
đòi hỏi thường nhật nó mang tính nề nếp, khuôn mẫu trong những điều kiện và môi
trường quen thuộc, còn lưu trú tại nơi du lịch, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt
mà còn đòi hỏi thỏa mãn những yếu tố tâm lí, tinh thần khác…
Đối tượng thỏa mãn nhu cầu lưu trú, chính là hệ thống các cơ sở lưu trú như: khách
sạn, nhà nghỉ, làng du lịch, resort (khu nghỉ dưỡng tổng hợp), tàu du lịch, bãi cắm trại,
caravan (lưu trú trên toa xe di động), homestay (nhà dân cho khách thuê ở cùng)…
17
Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu lưu trú của khách du lịch:
Khả năng thanh toán của khách.
Hình thức tổ chức chuyến đi, thời gian hành trình và lưu lại.
Mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi.
Giá cả, chất lượng, chủng loại, vệ sinh, thái độ phục vụ của nhân viên…
trong các cơ sở lưu trú.
Các đặc điểm tâm sinh lí cá nhân của khách (độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp,
thói quen tiêu dùng…).
Các hiện tượng tâm lí xã hội phổ biến (phong tục, tập quán, truyền thống, tôn
giáo tín ngưỡng, bầu không khí tâm lí xã hội, dư luận xã hội, thị hiếu, tính cách dân
tộc…) [4, tr. 113 – 115].
1.2.2.3.
Các đối tượng thỏa mãn nhu cầu này chính là các tài nguyên du lịch như:
Các điểm du lịch với điều kiện tự nhiên, danh lam thắng cảnh, các tài nguyên
du lịch, điều kiện văn hóa – xã hội và những nét độc đáo của nó (một số điểm du
lịch nổi tiếng ở Việt Nam như: Hạ Long, Cát Bà, Nha Trang, Vũng Tàu…).
Các vườn quốc gia, công viên, rừng, núi, biển…
Các công trình kiến trúc mang tính văn hóa, lịch sử , tôn giáo – tín ngưỡng…
Những tài nguyên du lịch nhân văn như: phong tục tập quán, truyền thống,
các lễ hội, các trò chơi dân gian…
Các khu vui chơi giải trí, nhà hàng, quán bar, sàn nhảy, các khu phố, viện bảo
tàng, hội chợ, triển lãm, rạp chiếu bóng, nhà hát…
Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham quan, giải trí:
Khả năng thanh toán của khách;
Mục đích chính cần thỏa mãn trong chuyến đi;
Mức độ hấp dẫn, độc đáo của các tài nguyên du lịch, của các đối tượng thỏa
mãn nhu cầu này;
Các đặc điểm tâm sinh lí cá nhân của khách (đặc biệt phải lưu ý đến thị hiếu,
thẩm mỹ, đến trình độ học vấn, văn hóa, nghề nghiệp, giai cấp, dân tộc…);
Các hiện tượng tâm lí xã hội phổ biến (phong tục, tập quán, truyền thống, tôn
giáo tín ngưỡng, bầu không khí tâm lí xã hội, dư luận xã hội, thị hiếu, tính cách dân
tộc…) [4, tr. 117 – 120].
1.2.2.5.
Nhu cầu bổ sung
1.3.1. Khái niệm
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền thống và
độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm
văn hóa, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn hóa của dân tộc,
mang bản sắc văn hóa của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất ra chúng [25, tr. 4].
1.3.2. Đặc điểm của sản phẩm thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch
1.3.2.1.
Tính văn hóa
Khác với sản phẩm công nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ công, lao động chủ
yếu dựa vào đôi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người nghệ
nhân. Sản phẩm làm ra vừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu ấn bàn tay tài
hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền quê nào đó. Cũng chính vì vậy
mà hàm lượng văn hóa ở các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được đánh giá cao hơn so
20
với các mặt hàng công nghiệp sản xuất hàng loạt. Ngay từ khi phát hiện ra các sản
phẩm trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lữ, thế giới đã biết đến nền văn hóa
Việt Nam qua những sản phẩm phản ảnh sinh động và sâu sắc nền văn hóa, tư tưởng
và xã hội thời Hùng Vương. Cho đến nay, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang
đậm tính văn hóa Việt như: chim lạc, kim quy, hoa sen… đã được xuất khẩu rộng rãi
ra khắp thế giới, người ta có thể tìm hiểu phần nào văn hóa Việt Nam.
Có thể nói đặc tính này là điểm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng nhất là
khách quốc tế, nó tạo nên một ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ công mỹ nghệ và được
coi như món quà lưu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến du lịch của du khách nước
ngoài. Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam không thể không mang theo một món
đồ thủ công mỹ nghệ, cho dù nước họ có thể có sản xuất ra nhưng sẽ không mang
hồn bản sắc văn hóa của Việt Nam. Sản phẩm thủ công mỹ nghệ không chỉ là hàng
được đâu là gốm Bát Tràng, Thồ Hà, Hương Canh… nhờ các hoa văn, màu men,
họa tiết có trên đó. Bên cạnh đó tính đơn chiếc còn có được là do hàng thủ công mỹ
nghệ của Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam, mang nét văn hóa và bản sắc
dân tộc Việt Nam, chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật Bản cho dù có
phong phú hay đa dạng đến đâu cũng không thể có được những nét đặc trưng đó,
cho dù kiểu dáng có thể giống nhưng không thể mang hồn của dân tộc Việt Nam.
Cùng với đặc trưng về văn hóa, tính riêng biệt đã mang lại ưu thế tuyệt đối cho hàng
thủ công mỹ nghệ của Việt Nam trong xuất khẩu. Đối với Việt Nam và cả khách
hàng nước ngoài nó không chỉ có giá trị sử dụng mà còn thúc đẩy giao lưu văn hóa
giữa các dân tộc [26, tr.2].
1.3.2.4.
Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ công mỹ nghệ được thể hiện ở phương thức,
nguyên liệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hóa trong sản phẩm. Nguyên liệu
làm nên sản phẩm đó có thể là gạch, đất, cói, dây chuối, xơ dừa… mỗi loại sẽ tạo
nên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho người sử
dụng những cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Là một đôi dép đi trong nhà, nhưng
dép làm bằng cói đã quá cũ đối với người tiêu dùng nên hiện nay, các nghệ nhân sử
dụng chất liệu dây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa có màu vàng ngà của chuối
vừa có màu mốc tự nhiên của thân chuối… Bên cạnh đó, tính đa dạng còn được thể
hiện qua những nét văn hóa đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra
chúng. Chính vì vậy trên thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ,
mỗi loại đều có sự khác biệt rõ rệt, không đồng nhất [26, tr. 2].
1.3.2.5.
Tính thủ công
Có thể cảm nhận ngay tính thủ công qua tên gọi của sản phẩm thủ công mỹ