1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGÔ THỊ THUẬN
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG NHÀ TRƢỜNG CỦA TRẺ EM
LỨA TUỔI MẦM NON THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGÔ THỊ THUẬN
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG NHÀ TRƢỜNG CỦA TRẺ EM
LỨA TUỔI MẦM NON THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Minh Loan
1.3.2. Tình cảm............................................................................................................ 36
1.3.3. Hành vi...............................................................................................................36
1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tâm lý của trẻ em trong hoạt động vui chơi..............37
1.4.1. Yếu tố chủ quan................................................................................................. 37
1.4.2. Yếu tố khách quan..............................................................................................37
Tiểu kết chƣơng 1:...........................................................................................................39
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................................41
2.1. Tổ chức nghiên cứu...................................................................................................41
4
2.2. Đôi nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu .............................................................
2.1.1: Địa bàn nghiên cứu ............................................................................................
2.1.2. Khách thể nghiên cứu: .......................................................................................
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu ..........................................................................................
2.3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu: ......................................................................
2.3.2. Phƣơng pháp quan sát: .......................................................................................
2.3.3. Phƣơng pháp phỏng vấn ....................................................................................
2.3.4. Phƣơng pháp phân tích sản phẩm của HĐ .........................................................
2.3.5. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi: ................................................................
2.3.6. Phƣơng pháp thống kê toán học .........................................................................
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN .....................................................
3.1. Nhận thức của trẻ MN thông qua HĐVC .................................................................
3.1.1.Nhận thức chung của trẻ MN ..............................................................................
3.1.2. Nhận thức của trẻ MN theo độ tuổi ...................................................................
3.2. Cảm xúc của trẻ thể hiện thông qua hoạt động vui chơi ...........................................
3.2.1. Cảm xúc của trẻ MN thông qua các trò chơi .....................................................
3.2.1. Sự khác biệt trong cảm xúc của trẻ theo độ tuổi ................................................
3.3. Hành vi của trẻ mầm non thể hiện qua hoạt động vui chơi ......................................
3.3.1. Hành vi của trẻ MN thông qua trò chơi .............................................................
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài:
Các công trình nghiên cứu về 6 năm đầu đời của con ngƣời đều khẳng định:
Đây là giai đoạn quan trọng bậc nhất trong sự phát triển của con ngƣời, là giai đoạn
có khả năng lĩnh hội lớn nhất. Nếu chúng ta không biết cách định hƣớng cho trẻ,
khuyến khích và phát hiện khả năng của trẻ sẽ làm thui chột đi phần lớn tiềm năng
của trẻ.
Hoạt động vui chơi (HĐVC) là một dạng hoạt động đặc biệt, đóng vai trò chủ
đạo, quyết định sự biến đổi về chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân
cách trẻ em lứa tuổi mầm non (MN). Không chỉ vậy, HĐVC còn làm bộc lộ rõ nét
các đặc điểm tâm lý của trẻ. Đối với trẻ MN, nếu không chơi, trẻ sẽ bị ngăn cách
với cuộc sống này bởi vì chơi cũng đồng thời là khám phá, là thử nghiệm và sáng
tạo, giúp trẻ học hỏi, lĩnh hội, giao lƣu, hình thành, phát triển và bộc lộ các thành tố
của nhân cách. Mặt khác HĐVC không chỉ giúp trẻ phát triển về mặt tinh thần mà
còn cả về thể chất. Có thể nói, HĐVC là cuộc sống của trẻ thơ.
Hiện nay, tại Việt Nam, vấn đề chăm sóc, bảo vệ quyền lợi, phát triển toàn
diện cho trẻ ngày càng đƣợc chú trọng và quan tâm sát sao hơn. Trong lĩnh vực giáo
dục, đó là sự đầu tƣ nhiều về cơ sở giáo dục và đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn cho giáo viên MN. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy tại các trƣờng có tổ chức
các HĐVC dành cho trẻ MN, nhƣng hiệu quả giáo dục mà hoạt động này mang lại
còn chƣa đáp ứng đƣợc mục tiêu đã đặt ra.
Thực tế trong thời gian gần đây, rất nhiều giáo viên (GV) mầm non bỏ nghề do
mức thu nhập của họ quá thấp, không đảm bảo đƣợc đời sống cho họ. Điều này ảnh
hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng của nhiều hoạt động tại trƣờng MN, trong đó có
HĐVC của trẻ MN. Theo đó, có thể dễ dàng nhận thấy: việc tổ chức HĐVC của trẻ
lứa tuổi MN vẫn còn mang tính hình thức, tức là GV vẫn chƣa thực sự hết lòng, chú
tâm vào việc hƣớng dẫn, định hƣớng cho trẻ chơi, chƣa dành nhiều thời gian cho
hiện ở 3 mặt: Nhận thức, cảm xúc và hành vi;
-
Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình thành và bộc lộ các đặc điểm
tâm lý này;
-
Đề xuất một số kiến nghị góp phần góp phần làm cho việc tổ chức HĐVC
của trẻ ở trƣờng MN phát huy đƣợc tính ƣu việt của chúng, giúp cho quá trình hình
thành và phát triển các đặc điểm tâm lý theo mong muốn ở trẻ em.
5. Giả thuyết khoa học.
Các đặc điểm tâm lý của trẻ em lứa tuổi mầm non tại các trƣờng trên địa bàn
Hà Nội về cơ bản đã hình thành và bộc lộ khá rõ thông qua các trò chơi và phù hợp
với sự phát triển tâm lý của trẻ theo độ tuổi. Có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến sự hình
thành và bộc lộ các đặc điểm tâm lý này, trong đó yếu tố chủ quan cơ bản là động
cơ thúc đẩy trẻ tham gia vào trò chơi và yếu tố khách quan cơ bản là GV tổ chức
HĐVC.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt đông.
- Phương pháp xử lý SPSS.
7. Cấu trúc luận văn
Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng:
nhằm nạp lại năng lƣợng đang thiếu. Họ xem hoạt động chơi không mang mục đích
quan trọng nào và có thể thay thế bằng hoạt động khác.
Đại diện và là cha đẻ của lý thuyết này chính là S.Freud (1856 - 1933): Freud
cho rằng nhiều trò chơi của trẻ là cách chuyển hoá của xung lực tính dục bị ngƣời
lớn kiềm chế. Đối với cha mẹ, anh chị, trẻ có một tình cảm hai chiều trái ngƣợc
nhau, vừa yêu mến, kính phục, vừa ghen ghét, căm giận. Tâm trí trẻ chƣa đủ sức
hóa giải mâu thuẫn giữa hai tình cảm ấy, nên đƣợc “trá hình” vào trong những hoạt
động chơi. Trong những hoạt động chơi đó, trẻ ôm ấp nâng niu đồ chơi, hay trút
giận, đập phá đồ chơi đều là cách giải tỏa những cảm xúc mâu thuẫn nội tại không
thể diễn đạt. Trẻ thu nhận kiến thức bên trong trên cơ sở hoạt động đáp ứng những
kích thích bên ngoài. Ở trẻ, bản năng biểu hiện ra trò chơi, thể hiện mong ƣớc, niềm
đam mê của trẻ và liên quan tới bản năng tình dục, chịu ảnh hƣởng của bản năng
tình dục [32, tr.11]. Hơn nữa, Freud là ngƣời đầu tiên dùng hoạt động chơi nhƣ một
liệu pháp chữa các chứng rối nhiễu tâm lý ở trẻ em. Trong hoạt động chơi đó, đứa
trẻ đƣợc tự do giải phóng nội tâm nhiều uẩn ức, lo hãi, huyễn tƣởng trên các đồ
chơi.
11
Ông chia các giai đoạn phát triển tâm lý của trẻ dựa theo các biểu tƣợng gây
khoái cảm cho trẻ trong giai đoạn đó. Dù có những hạn chế rõ rệt là đã bản năng
hóa trò chơi cũng nhƣ tuyệt đối hóa bản năng về HĐVC của trẻ giống nhƣ vấn đề
nhân cách, song mặt tích cực, thành quả không chối cãi đƣợc trong lý thuyết của
Freud về trò chơi đó là việc dùng trò chơi nhƣ một liệu pháp tâm lý chữa bệnh cho
trẻ của ông. Đã có rất nhiều ngƣời và nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng liệu pháp
này thành công.
E. Erikson (1905 - 1994): Ông chia sự phát triển con ngƣời ra 8 giai đoạn,
trong đó có giai đoạn trẻ từ 3 đến 6 tuổi: là giai đoạn xung đột giữa ý muốn tự ý và
cảm giác có tội. Giai đoạn này, trẻ có khả năng tự hoạt động và nảy sinh nhiều ý
nó có khó khăn. Bởi trò chơi của trẻ, không chỉ có trò chơi vận động mạnh để tiêu
hao sức lực dƣ thừa mà có những trò chơi đơn giản, nhẹ nhàng giúp trẻ tăng thêm
sức lực và có khả năng hồi phục sức khỏe của mình. Mặt khác, với trẻ, việc chơi
nhƣ là một hoạt động tất yếu, trẻ chơi để khám phá và tiếp thu kinh nghiệm tri thức
xã hội,biết cách sử dụng đồ vật và ứng xử, giao tiếp... chứ không hẳn là nhu cầu
sáng tạo, nhu cầu tiêu hao năng lƣợng dƣ thừa [29, tr212].
G.Spencer (1820 - 1903), đã phát triển học thuyết của Ph.Sille, cho rằng trò
chơi xuất hiện khi có sức lực dƣ thừa. Và gọi học thuyết của Ph.Sille là “sức dƣ
thừa”. Ở đó những năng lực dƣ thừa của cơ thể con vật non không đƣợc sử dụng
cho hoạt động thực mà đƣợc tiêu khiển qua sự bắt chƣớc các hoạt động thực bằng
trò chơi. Ông cũng khẳng định: Trẻ có bản năng nghịch ngợm, phá phách - bản năng
này đƣợc đáp ứng qua trò chơi [32, tr.10].
S.Kholl: Trong học thuyết di truyền sinh học và trò chơi, Ông nói rằng: Sự
phát triển tâm lý của trẻ là sự thu gọn, lặp lại toàn bộ những thời kỳ phát triển của
loài ngƣời. Nền tảng của học thuyết là quy luật di truyền sinh học: sự phát triển
phôi thai diễn ra nhƣ thế nào thì sự phát triển sau này của trẻ cũng hệt nhƣ thế. Nội
dung, hình thức của trò chơi cũng lặp lại lịch sử phát triển nhân loại [29, tr 214].
S.Hall - Nhà tâm lý ngƣời Anh: Phát triển học thuyết của Stenlin Kholl. Ông
đã quan sát các trò chơi và lịch sử của xã hội để phát hiện ra rằng, những trò chơi
của trẻ con lần lƣợt diễn lại những hành động tƣơng tự của loài ngƣời trong quá
trình tiến hóa. Ong cho rằng: Bản năng chi phối toàn bộ đời sống con ngƣời. Trò
chơi giúp trẻ loại bỏ khỏi nhân cách một loạt những điểm yếu nhƣ tính nhõng nhẽo,
13
ích kỷ, ... với xung quanh, xua tan đi những nỗi bực tức, bƣớng bỉnh. Trong trò chơi trẻ
mô phỏng lại những tình huống khác nhau dẫn tới kết quả điều trị tốt, làm lành lại
những chấn thƣơng, bình thƣờng hóa những mối quan hệ của trẻ với ngƣời lớn.
15
trúc nhận thức đơn giản trẻ có đƣợc nhờ những hành vi phản xạ tự phát ban đầu.
Khi các kích thích quen thuộc xuất hiện thƣờng xuyên, các phản xạ tự phát dần dần
có chọn lọc, sơ cấu càng đƣợc củng cố và trở thành kiểu hành vi có thể lặp đi lặp lại
khi trẻ nhận biết kích thích quen thuộc tác động. Piaget cho rằng trẻ luôn sử dụng
lập đi lập lại các sơ cấu mới đạt đƣợc trong các tình huống tƣơng tự và mới mẻ.
Quá trình lập lại các sơ cấu đó giúp đứa trẻ chọn lọc các hành vi và kết hợp chúng
lại. Các sơ cấu đƣợc tổ chức và kết nối với nhau dựa trên quá trình tƣ duy thao tác
logic này trở thành các “thao tác”.
Lý thuyết này đƣợc chứng thực khi ta quan sát trẻ chơi. Khi chơi, trẻ thao tác
lập đi lập lại nhiều lần trên một vật và thử chơi bằng nhiều cách khác nhau với đồ
chơi đó, cho tới khi chọn đƣợc cách chơi tƣơng ứng với chức năng của đồ vật đó,
và kết hợp chơi giữa đồ vật đó với đồ vật khác. Trẻ đập, quăng chiếc xe nhiều lần
trƣớc khi biết đẩy xe chạy và cho hình ngƣời lên xe.
Theo Piaget, những sơ cấu càng phát triển cho phép đứa trẻ càng thích nghi
hơn với môi trƣờng sống. Sự phát triển của các sơ cấu dựa trên hai cơ chế: đồng
hoá và điều ứng. Quá trình đồng hoá giúp mở rộng các sơ cấu với những đối tƣợng
mới có tính chất tƣơng đồng với những đối tƣợng đã biết, quá trình điều tiết giúp
mở rộng các sơ cấu với những đối tƣợng mới có tính chất mới chƣa hề biết. Ví dụ,
trẻ biết kẹo là vật nhỏ, có màu, bỏ vào miệng ăn thì ngọt; trẻ thấy nút áo cũng là vật
nhỏ, có màu, nên bỏ vào miệng ăn; đây là quá trình đồng hoá. Trẻ ngậm nút áo
không thấy ngọt, và ngƣời lớn bắt nhè ra, dần dần, trẻ biết thêm có vật mới là nút
áo, nhỏ, có màu, không ngọt, không phải kẹo và không đƣợc ăn; đây là quá trình
điều ứng. Cả hai quá trình này liên kết với nhau chặt chẽ trong suốt quá trình phát
triển hiểu biết và kiến thức về thế giới xung quanh của đứa trẻ [32, tr. 11].
Piaget cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ tuỳ thuộc vào sự phát triển
thành thục của hệ thần kinh qua các độ tuổi khác nhau. Đối với trẻ từ 0 - 6 tuổi,
Piaget chia làm hai giai đoạn phát triển nhận thức: Giai đoạn giác động (từ 0 - 2
cung cấp những cơ hội cho trẻ trải nghiệm về vật thể cũng nhƣ các hiện tƣợng tự
nhiên trong cuộc sống. Mà trong đó, hoạt động chơi là hoạt động thiết yếu và an
toàn nhất, cho trẻ nhiều cơ hội vui thú để trải nghiệm và khám phá không ngừng,
thúc đẩy liên tục sự phát triển trí tuệ của trẻ.
Tóm lại, bằng việc nghiên cứu, quan sát trẻ em thì Piaget đã chỉ ra thông qua
trò chơi đã giúp trẻ chuyển hóa từ trí tuệ cảm giác vận động sang trí tuệ thao tác.
Ông chỉ ra tƣ duy đã nảy sinh và hình thành nhƣ thế nào trong lòng của hoạt động
cảm giác vận động. Song song đó, Piaget cũng chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa tri giác
17
với trí tuệ, mối quan hệ giữa tình cảm với trí tuệ. Đây cũng chính là một trong
những cơ sở để chúng tôi áp dụng nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài này.
1.1.1.3. Tâm lý học hoạt động
Nhiều nhà TLH trên thế giới, đặc biệt là các nhà TLH Macxit đã tiến hành
nhiều nghiên cứu và thấy đƣợc bản chất thực sự của trò chơi - đó chính là bản chất
xã hội. Họ khẳng định trò chơi mang bản chất xã hội cả về nguồn gốc, nội dung,
hình thức biểu hiện và khuynh hƣớng của nó.
-
L.X.Vƣgotxki - Nhà TLH nổi tiếng của Nga và là một trong những ngƣời
sáng lập trƣờng phái TLH Hoạt động cho rằng: Nguồn gốc của các thao tác, hành
vi, hành động chính là sự xuất hiện ngôn ngữ ở trẻ em. Hoạt động trí tuệ đƣợc triển
khai từ hành động đƣợc thự hiện bằng ngôn ngữ sang hành động thực tiễn. Yếu tố
quy định sự phát triển cấu trúc tâm lý lứa tuổi - tuyến phát triển trung tâm chính là
quan hệ đặc thù độc đáo giữa trẻ em và hiện thực bao quanh nó, trước hết là quan
hệ xã hội. Bởi thế khi nghiên cứu về trẻ em phải làm sáng tỏ tình huống xã hội của
sự phát triển đó. Hoạt động chơi không xuất hiện ngẫu nhiên mà là sản phẩm sáng
phát triển xã hội, lao động có trƣớc và trò chơi chính là một hiện tƣợng xã hội, là
phƣơng tiện để trẻ em làm quen với lao động của ngƣời lớn. Trò chơi xuất hiện khi
công cụ lao động đã trở nên phức tạp, trong xã hội có sự phân công công việc theo
độ tuổi, trẻ không đƣợc tham gia vào các mối quan hệ với ngƣời lớn, trò chơi đóng
vai xuất hiện làm trẻ đƣợc thỏa mãn nguyện vọng của mình là đƣợc vƣơn tới xã
hội của ngƣời lớn, đƣợc hành động và đối xử nhƣ ngƣời lớn thực sự.
-
Vallon, Khrixtencer: Trò chơi của trẻ là sự phản ánh cuộc sống, là hoạt động
bị quy định bởi những điều kiện xã hội. Trò chơi không bất biến, phản ánh hiện
thực luôn vận động và phát triển.
-
N.A.Crupxkaia: Chơi giúp trẻ thỏa mãn 2 nhu cầu, đó là: Trẻ mong muốn
đƣợc hiểu biết về cuộc sống xung quanh, hơn nữa trẻ thích bắt chƣớc ngƣời lớn và
mong muốn đƣợc hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi" [12, tr.65].
-
G.V.Plêkhanov: Ông cho rằng Trò chơi là cầu nối các thế hệ với nhau, truyền
tải thành tựu văn hóa từ đời này đến đời khác. Trò chơi phản ánh hoạt động lao
động của ngƣời lớn. Trong TC, trẻ bắt chƣớc kỹ năng lao động và lĩnh hội cả
những thói quen của ngƣời lớn trong xã hội. Nhu cầu và sự ham hiểu biết thế giới
xung quanh chính là động lực giúp trẻ tích cực hoạt động trong trò chơi. Trẻ có nhu
cầu chơi vì chúng có mong muốn hiểu biết về thế giới xung quanh. Ông cũng nhƣ
nhiều nhà TLH Macxit khác khẳng định: trò chơi có nguồn gốc từ lao động và xuất
hiện sau lao động.
- A.L. Lêonchiev, L.X. Rubinstein: Phát triển đầy đủ hơn tƣ tƣởng của. G.V.
lớn của yếu tố giáo dục và yếu tố hoạt động lao động. Thông qua giáo dục và hoạt
động thì tâm lý của con ngƣời nói chung và tâm lý của trẻ em mới phát triển hoàn
thiện, mang tính ngƣời.
1.1.2. Ở Việt Nam.
21
Hiện nay, dù những nghiên cứu riêng biệt về HĐVC của trẻ không nhiều
nhƣng có không ít tác giả đề cập đến HĐVC trong các tác phẩm của mình. Và cũng
có thể nói, một nét chung của các tác giả này là luôn đứng trên quan điểm Macxit,
thừa hƣởng các thành quả của TLH hoạt động, do đó có một sự thống nhất nhất
định khi nói về HĐVC của trẻ em ở trƣờng mầm non.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định trongtác phẩm “Giáo dục MN, những
vấn đề lý luận và thực tiễn” và “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi MN” rằng: Vui chơi là
hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, nó chi phối toàn bộ đời sống tâm lý của trẻ và
các hoạt động khác. Hoạt động vui chơi của trẻ mang dấu ấn của thời đại và tính xã
hội sâu sắc. Hoạt động vui chơi của trẻ không mang tính bắt buộc, có tính tự lập, có
sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm và có tính ký hiệu tƣợng trƣng [29,
tr.221].
Ngoài việc xác định rõ vai trò của HĐVC đối với sự phát triển, dƣới ánh sáng
của tâm lý học hoạt động, tác giả cũng chỉ ra các đặc điểm tâm lý đƣợc bộc lộ ra
trong HĐVC. Có thể kể ra các đặc điểm tâm lý tác giả chỉ ra trong các tác phẩm
khác nhau nhƣ: Phát triển tƣ duy, xuất hiện động cơ hành vi, tƣ duy trực quan hành
động, tƣ duy trực quan hình tƣợng, sự hình thành hệ thống thứ bậc động cơ, phát
triển đời sống tình cảm. Các đặc điểm tâm lý trên đƣợc tác giả phân tích khá cụ thể
chi tiết khuôn vào các giai đoạn phát triển khác nhau của trẻ mầm non từ 3 – 6 tuổi.
Tác giả cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ em lứa
tuổi mầm non chính là ảnh hƣởng của nền văn hóa trong đó đặc biệt là văn hóa gia
đình; ảnh hƣởng của hoạt động; ảnh hƣởng của giáo dục; ảnh hƣởng của điều kiện
phẩm nhƣ vẽ tranh, tô tƣợng, ở trẻ thể hiện những xúc cảm, tình cảm đối với cái ác
cái thiện, thẩm mỹ, [27, tr 59- 60].
Tác giả cũng chỉ ra thông qua quá trình hoạt động vui chơi mà các đặc điểm tâm
lý của trẻ có cơ hội đƣợc bộc lộ ra và phát triển. Với trẻ mầm non sự phát triển tâm lý
đƣợc thể hiện ở các đặc điểm khái quát: sự phát triển trí tuệ bằng việc chuyển từ tƣ
duy hành động định hƣớng bên ngoài thành hành động định hƣớng bên trong; kiểu tƣ
duy bằng tay (trực quan hành động) thành kiểu tƣ duy trực quan hình tƣợng; cùng với
đó là sự hình thành tƣ duy mang tính lý luận dựa trên những biểu tƣợng cụ thể về thế
giới khách quan. Đặc biệt, giai đoạn này ngôn ngữ cũng phát triển mạnh đạt chất lƣợng
cao về phát âm, vốn từ và hình thức ngữ pháp nhờ đó
23
manh nha cho sự phát triển tƣ duy “tiền khái niệm”. Điều cần lƣu ý nữa là tƣởng
tƣợng cũng phát triển mạnh ở lứa tuổi này, thể hiện trong trò chơi, bức vẽ, câu
chuyện bịa. Sự phát triển nhân cách cũng đƣợc chỉ rõ. Từ 3 tuổi trẻ đã có biểu hiện
về “cái tôi” của trẻ. Trong các hoạt động vui chơi, trẻ cũng phát triển các tình cảm,
xúc cảm. Đặc điểm nổi bật sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này chính là sự hình
thành động cơ hành vi có liên quan đến ý thức bản ngã, đến sự hình thành “cái tôi”
với tƣ cách là một thành viên xã hội.
Theo tác giả Nguyễn Thị Hòa khẳng định: Chơi là một hoạt động tự lập của
trẻ; Chơi không nhằm tạo ra sản phẩm mà chủ yếu thỏa mãn nhu cầu đƣợc chơi của
trẻ đƣợc bắt chƣớc làm ngƣời lớn của trẻ; Chơi của trẻ không phải là thật mà là giả
vờ nhƣng sự giả vờ ấy lại mang tính chất chân thật. Động cơ chơi của trẻ không
nằm trong kết quả mà nằm trong hành động chơi, chính vì thế, các hành động chơi
của chúng kích thích chúng chơi và duy trì hứng thú chơi [19, tr. 160]. Bà cũng nêu
lên các đặc điểm của HĐVC của trẻ chính là trò chơi mang tính tự do, tự nguyện; tự
điều khiển; sáng tạo; xúc cảm tình cảm của trẻ. Bà so sánh sự khác biệt của HĐVC
với các HĐ khác là Chơi mang tính kí hiệu tƣợng trƣng chứ không phải thực, và
giữa quan điểm sinh vật và quan điểm tâm lý học Macxit. Cụ thể, quan điểm sinh
vật coi sự phát triển tâm lý là một quá trình sinh vật tự nhiên, đã khẳng định tính bất
biến, tính tuyệt đối của các giai đoạn. Quan niệm tâm lý học Mácxít coi lứa tuổi là
một thời kỳ phát triển nhất định, đóng kín một cách tƣơng đối mà ý nghĩa của nó
đƣợc quyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung. Khi
chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác bao giờ cũng xuất hiện cấu trúc tâm lý
mới.
Căn cứ vào thay đổi trong cấu trúc tâm lý hoạt động của trẻ và cả sự trƣởng
thành của trẻ mà ngƣời ta chia ra một số thời kỳ chủ yếu.
-
Giai đoạn trƣớc tuổi học và giai đoạn tuổi học sinh. Trong đó, lứa tuổi mẫu
giáo đƣợc nằm trong giai đoạn trƣớc tuổi đi học từ 3 đến hết 5 năm [18, tr.25].
-
Trẻ em lứa tuổi mầm non thuộc giai đoạn 4 – 6 tuổi với hoạt động chủ đạo là
trò chơi đóng vai. Nhờ các trò chơi này mà trẻ mô phỏng lại trong trò chơi những
mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Nhờ đó mà trẻ dần dần phát triển nhân
cách với tƣ cách là một thành viên của xã hội. [27, tr.43].
25
Theo đó, từ 3 – 6 tuổi đƣợc xem là lứa tuổi mẫu giáo với hoạt động chủ đạo là
hoạt động vui chơi mà đóng vai theo chủ đề là trung tâm [29, tr.132]. Tuy nhiên, bản
thân cuốn sách Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non tác giả lại thể hiện độ tuổi mầm
non là từ lọt lòng đến 6 tuổi. Phải chăng có sự mâu thuẫn trong cuốn sách này?
Chúng tôi cho rằng, không tồn tại mâu thuẫn trong cuốn sách này. Bản chất chỉ là