1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGÔ THỊ THUẬN
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG NHÀ TRƢỜNG CỦA TRẺ EM LỨA
TUỔI MẦM NON THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2013
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------
NGÔ THỊ THUẬN
HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI TRONG NHÀ TRƢỜNG CỦA TRẺ EM LỨA
TUỔI MẦM NON THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Minh Loan
1.3.2. Tình cảm ............................................................................................................ 36
1.3.3. Hành vi ............................................................................................................... 36
1.4. Một số yếu tố ảnh hƣởng đến tâm lý của trẻ em trong hoạt động vui chơi .............. 37
1.4.1. Yếu tố chủ quan ................................................................................................. 37
1.4.2. Yếu tố khách quan ............................................................................................. 37
Tiểu kết chƣơng 1: ........................................................................................................... 39
Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................... 41
2.1. Tổ chức nghiên cứu. ................................................................................................. 41
4
2.2. Đôi nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu ............................................................. 44
2.1.1: Địa bàn nghiên cứu ............................................................................................ 44
2.1.2. Khách thể nghiên cứu: ....................................................................................... 45
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................................... 45
2.3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu: ...................................................................... 45
2.3.2. Phƣơng pháp quan sát: ....................................................................................... 45
2.3.3. Phƣơng pháp phỏng vấn .................................................................................... 46
2.3.4. Phƣơng pháp phân tích sản phẩm của HĐ ......................................................... 47
2.3.5. Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi: ................................................................ 47
2.3.6. Phƣơng pháp thống kê toán học......................................................................... 48
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN ..................................................... 49
3.1. Nhận thức của trẻ MN thông qua HĐVC ................................................................. 49
3.1.1.Nhận thức chung của trẻ MN .............................................................................. 49
3.1.2. Nhận thức của trẻ MN theo độ tuổi ................................................................... 54
3.2. Cảm xúc của trẻ thể hiện thông qua hoạt động vui chơi ........................................... 64
3.2.1. Cảm xúc của trẻ MN thơng qua các trị chơi ..................................................... 64
3.2.1. Sự khác biệt trong cảm xúc của trẻ theo độ tuổi ................................................ 73
3.3. Hành vi của trẻ mầm non thể hiện qua hoạt động vui chơi ...................................... 78
3.3.1. Hành vi của trẻ MN thơng qua trị chơi ............................................................. 78
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Các cơng trình nghiên cứu về 6 năm đầu đời của con ngƣời đều khẳng định:
Đây là giai đoạn quan trọng bậc nhất trong sự phát triển của con ngƣời, là giai đoạn
có khả năng lĩnh hội lớn nhất. Nếu chúng ta khơng biết cách định hƣớng cho trẻ,
khuyến khích và phát hiện khả năng của trẻ sẽ làm thui chột đi phần lớn tiềm năng
của trẻ.
Hoạt động vui chơi (HĐVC) là một dạng hoạt động đặc biệt, đóng vai trị chủ
đạo, quyết định sự biến đổi về chất trong quá trình hình thành và phát triển nhân
cách trẻ em lứa tuổi mầm non (MN). Khơng chỉ vậy, HĐVC cịn làm bộc lộ rõ nét
các đặc điểm tâm lý của trẻ. Đối với trẻ MN, nếu không chơi, trẻ sẽ bị ngăn cách
với cuộc sống này bởi vì chơi cũng đồng thời là khám phá, là thử nghiệm và sáng
tạo, giúp trẻ học hỏi, lĩnh hội, giao lƣu, hình thành, phát triển và bộc lộ các thành tố
của nhân cách. Mặt khác HĐVC không chỉ giúp trẻ phát triển về mặt tinh thần mà
cịn cả về thể chất. Có thể nói, HĐVC là cuộc sống của trẻ thơ.
Hiện nay, tại Việt Nam, vấn đề chăm sóc, bảo vệ quyền lợi, phát triển toàn
diện cho trẻ ngày càng đƣợc chú trọng và quan tâm sát sao hơn. Trong lĩnh vực giáo
dục, đó là sự đầu tƣ nhiều về cơ sở giáo dục và đào tạo nâng cao trình độ chun
mơn cho giáo viên MN. Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy tại các trƣờng có tổ chức
các HĐVC dành cho trẻ MN, nhƣng hiệu quả giáo dục mà hoạt động này mang lại
còn chƣa đáp ứng đƣợc mục tiêu đã đặt ra.
Thực tế trong thời gian gần đây, rất nhiều giáo viên (GV) mầm non bỏ nghề
do mức thu nhập của họ quá thấp, không đảm bảo đƣợc đời sống cho họ. Điều này
ảnh hƣởng không nhỏ tới chất lƣợng của nhiều hoạt động tại trƣờng MN, trong đó
có HĐVC của trẻ MN. Theo đó, có thể dễ dàng nhận thấy: việc tổ chức HĐVC của
trẻ lứa tuổi MN vẫn cịn mang tính hình thức, tức là GV vẫn chƣa thực sự hết lòng,
chú tâm vào việc hƣớng dẫn, định hƣớng cho trẻ chơi, chƣa dành nhiều thời gian
cho HĐVC của trẻ. Và nhƣ vậy, trong hoạt động chơi, trẻ chƣa lĩnh hội hết các quy
luật chơi, ý nghĩa trò chơi, cũng nhƣ tác dụng giáo dục trong các trị chơi, từ đó
- Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt đơng.
- Phương pháp xử lý SPSS.
7. Cấu trúc luận văn
Nội dung luận văn gồm 3 chƣơng:
9
- Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận tâm lý học về hoạt động vui chơi trong nhà
trƣờng của trẻ em lứa tuổi mầm non.
- Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu.
- Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu biểu hiện tâm lý bộc lộ qua HĐVC của trẻ em
lứa tuổi mầm non.
10
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TÂM LÝ HỌC VỀ HOẠT ĐỘNG VUI
CHƠI CỦA TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON
1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu tâm lý của trẻ trong HĐVC
1.1.1. Trên thế giới:
Nửa cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trong Tâm lý học có rất nhiều quan
điểm và học thuyết nghiên cứu về trò chơi, tuy nhiên, các quan điểm về vấn đề này
khơng có sự thống nhất bởi họ có cơ sở nghiên cứu cũng nhƣ cách lí luận khác
nhau. Ngƣời ta thƣờng xếp theo nhóm các học thuyếthay quan niệm giống nhau của
các học thuyết để dễ phân biệt.
1.1.1.1. Các lý thuyết có quan điểm sinh vật hóa trị chơi
Theo một số lý thuyết cổ điển, chơi là hoạt động không có mục đích, tự nhiên
sẵn có của sinh vật nhằm giải tỏa năng lƣợng dƣ thừa hoặc là hoạt động thƣ giãn
muốn tự ý nhƣng luôn phải tuân thủ những giới hạn và qui tắc của xã hội. Trẻ phải
đạt đƣợc sự cân bằng lành mạnh giữa ý muốn tự ý lựa chọn những điều trong khuôn
phép, chứ không bị ép buộc hoặc từ chối cảm giác có tội khi lựa chọn những điều
khơng đƣợc phép. Các hoạt động chơi tƣởng tƣợng giúp trẻ giải tỏa xung đột này,
trẻ tƣởng tƣợng những tình huống giả định, trong đó những quy luật trở nên đƣợc
chấp nhận dễ dàng, khơng gị ép ý chí lựa chọn tự do.
Có thể nói, lý thuyết Phân tâm cho rằng: Chơi là hoạt động gây phấn chấn, cho
phép đứa trẻ làm chủ những tình huống khó khăn. Trẻ sử dụng những tình huống
tƣởng tƣợng để đóng vai ngƣời lớn, lấy cảm giác làm chủ trong hoạt động chơi mà
sao chép trong tình huống thật. Thơng qua hoạt động chơi, trẻ có thể tái hiện những
sự kiện đau đớn, những xung đột của cá nhân, làm chủ nỗi đau đó bằng cách giải
toả nó trong tình huống tƣởng tƣợng.
Các tác giả nhƣ Stenlin Kholl, Stanley Hall, G.Spencer, Karl Groos, V.Stern,
Ph.Siller, Reaney, Claparède, Arian Sumo Seipt cũng cho rằng: HĐVC của trẻ em
mang tính bản năng, di truyền và sinh học học đơn thuần. Cụ thể:
A.S.Seipt: Quan điểm của bà đƣợc thể hiện trong tác phẩm "Niềm hạnh phúc
của con bạn". Theo bà: Trị chơi là phƣơng tiện để bình thƣờng hóa các quan hệ của
đứa trẻ đối với thế giới xung quanh, xua tan đi những phiền muộn và khó khăn
trong tâm lý, loại bỏ đọc những yếu tố tiêu cực của nhân cách [29, tr.216].
12
Ph.Siller (1756 - 1800): Ơng nói rằng: Trị chơi là cơ sở của tất cả các nghệ
thuật. Điều kiện nảy sinh trị chơi là khi khơng cịn những nhu cầu sơ đẳng nhất cho
sự tồn tại. Trò chơi giúp tiêu hao sức lực dƣ thừa, có nhu cầu tinh thần, nhu cầu
sáng tạo. Có nghĩa là, trị chơi giống nhƣ một sự giải trí, một nhu cầu cao của trẻ,
khi trẻ khỏe mạnh, đƣợc ăn no, uống đủ, có sức lực dƣ thừa là xuất hiện hành động
chơi. Tuy nhiên, một mâu thuẫn thấy rõ rằng: Với những trẻ ốm yếu, khơng có sức
lực - sự tồn tại chƣa đƣợc đảm bảo, thì việc chơi đùa vẫn diễn ra dù việc thực hiện
"Trị chơi của trẻ mang tính chất thuần túy sinh học. Trị chơi là một hình thức hoạt
động sống làm cho các cơ thể non trẻ hoàn thiện các bản năng di truyền, các năng
lực và sức lực. Chơi là phƣơng thức đặc thù của các loại bản năng [29, tr 213].
Nhà tâm lý ngƣời Mỹ, Reaney đã phân tích cụ thể những trị chơi của trẻ
tƣơng đƣơng với những bƣớc tiến hóa của lồi ngƣời. Ơng gắn trị chơi với 4 thời kì
phát triển của trẻ. Thời kì thú vật (trẻ từ 0 - 7 tuổi), các bé chơi trị chơi vận động,
trèo leo, xích đu; thời kì dã man (trẻ từ 7 - 9 tuổi) chơi đuổi tìm nhau, bắn bia, chơi
gậy; thời kì du mục (từ 9 -12 tuổi), đua nhau khéo léo, sƣu tập đồ vật, bắt đầu dùng
trí tƣởng tƣợng trong các trò chơi; đến thời kỳ bộ lạc (từ 12 - 17 tuổi), biết kết đoàn
mà chơi… Đứng trƣớc một cái gậy, vài mảnh gỗ, một đống đá, cát, một miếng
vải… đứa trẻ 3 tuổi chơi khác đứa trẻ 8 tuổi. Nhƣng cùng một lứa tuổi thì cách dùng
chơi cũng tƣơng tự. Vì vậy, phải đứng về phƣơng diện sinh trƣởng mà xét hiểu trò
chơi của trẻ con. Chơi đùa tiến hóa theo và vận dụng vào q trình sinh trƣởng, chơi
đùa trong đời con trẻ không phải là một hoạt động vơ ích, vơ nghĩa.
Theo quan điểm này, ta thấy ơng cũng khơng nằm ngồi cách nhìn nhận và
đánh giá con ngƣời nhƣ sinh vật. Đặc biệt giai đoạn trẻ từ 0 - 7 tuổi ơng gọi là thời
kì dƣơng vật - điều này càng khẳng định cái nhìn khơng đúng của ơng về lồi
ngƣời. Mặt khác, trị chơi của trẻ ơng chỉ gắn với vận động, mà khơng tính đến trí
tuệ, sự năng động, sáng tạo của trẻ, khơng tính đến yếu tố cá nhân cũng nhƣ tâm lý xã hội bên trong trẻ, khơng có sự phân chia rõ ràng cho từng lứa tuổi.
V.Stern (1871 - 1938): Khẳng định: Vui chơi là bình minh của bản năng đúng
đắn. Ông nhấn mạnh ý nghĩa của trò chơi trong việc rèn luyện những cơ chế di
truyền của phẩm hạnh. Trò chơi của con ngƣời không khác của con vật.
Nhà tâm lý Thụy Sĩ, Claparède nói rằng: Có chơi lâu năm trẻ con mới lớn
lên, thành ngƣời lớn đƣợc. Lúc mới sinh, những bản năng chƣa thể hoạt động hoàn
14
thiện, phải luyện tập ít hay nhiều. Lồi ngƣời là sinh vật tối cao thì thời thơ ấu càng
phải chơi nhiều cách và lâu năm. Đây cũng là một cách nhìn sai lầm khi cho rằng
trúc nhận thức đơn giản trẻ có đƣợc nhờ những hành vi phản xạ tự phát ban đầu.
Khi các kích thích quen thuộc xuất hiện thƣờng xuyên, các phản xạ tự phát dần dần
có chọn lọc, sơ cấu càng đƣợc củng cố và trở thành kiểu hành vi có thể lặp đi lặp lại
khi trẻ nhận biết kích thích quen thuộc tác động. Piaget cho rằng trẻ luôn sử dụng
lập đi lập lại các sơ cấu mới đạt đƣợc trong các tình huống tƣơng tự và mới mẻ. Quá
trình lập lại các sơ cấu đó giúp đứa trẻ chọn lọc các hành vi và kết hợp chúng lại.
Các sơ cấu đƣợc tổ chức và kết nối với nhau dựa trên quá trình tƣ duy thao tác logic
này trở thành các “thao tác”.
Lý thuyết này đƣợc chứng thực khi ta quan sát trẻ chơi. Khi chơi, trẻ thao tác
lập đi lập lại nhiều lần trên một vật và thử chơi bằng nhiều cách khác nhau với đồ
chơi đó, cho tới khi chọn đƣợc cách chơi tƣơng ứng với chức năng của đồ vật đó, và
kết hợp chơi giữa đồ vật đó với đồ vật khác. Trẻ đập, quăng chiếc xe nhiều lần
trƣớc khi biết đẩy xe chạy và cho hình ngƣời lên xe.
Theo Piaget, những sơ cấu càng phát triển cho phép đứa trẻ càng thích nghi
hơn với mơi trƣờng sống. Sự phát triển của các sơ cấu dựa trên hai cơ chế: đồng hố
và điều ứng. Q trình đồng hố giúp mở rộng các sơ cấu với những đối tƣợng mới
có tính chất tƣơng đồng với những đối tƣợng đã biết, quá trình điều tiết giúp mở
rộng các sơ cấu với những đối tƣợng mới có tính chất mới chƣa hề biết. Ví dụ, trẻ
biết kẹo là vật nhỏ, có màu, bỏ vào miệng ăn thì ngọt; trẻ thấy nút áo cũng là vật
nhỏ, có màu, nên bỏ vào miệng ăn; đây là q trình đồng hố. Trẻ ngậm nút áo
không thấy ngọt, và ngƣời lớn bắt nhè ra, dần dần, trẻ biết thêm có vật mới là nút
áo, nhỏ, có màu, khơng ngọt, khơng phải kẹo và khơng đƣợc ăn; đây là quá trình
điều ứng. Cả hai quá trình này liên kết với nhau chặt chẽ trong suốt quá trình phát
triển hiểu biết và kiến thức về thế giới xung quanh của đứa trẻ [32, tr. 11].
Piaget cho rằng sự phát triển nhận thức của trẻ tuỳ thuộc vào sự phát triển
thành thục của hệ thần kinh qua các độ tuổi khác nhau. Đối với trẻ từ 0 - 6 tuổi,
Piaget chia làm hai giai đoạn phát triển nhận thức: Giai đoạn giác động (từ 0 - 2
tuổi) và Giai đoạn tiền thao tác (từ 2 - 6 tuổi).
Ơng chỉ ra tƣ duy đã nảy sinh và hình thành nhƣ thế nào trong lòng của hoạt động
cảm giác vận động. Song song đó, Piaget cũng chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa tri giác
17
với trí tuệ, mối quan hệ giữa tình cảm với trí tuệ. Đây cũng chính là một trong
những cơ sở để chúng tơi áp dụng nghiên cứu trong q trình thực hiện đề tài này.
1.1.1.3. Tâm lý học hoạt động
Nhiều nhà TLH trên thế giới, đặc biệt là các nhà TLH Macxit đã tiến hành
nhiều nghiên cứu và thấy đƣợc bản chất thực sự của trị chơi - đó chính là bản chất
xã hội. Họ khẳng định trò chơi mang bản chất xã hội cả về nguồn gốc, nội dung,
hình thức biểu hiện và khuynh hƣớng của nó.
- L.X.Vƣgotxki - Nhà TLH nổi tiếng của Nga và là một trong những ngƣời
sáng lập trƣờng phái TLH Hoạt động cho rằng: Nguồn gốc của các thao tác, hành
vi, hành động chính là sự xuất hiện ngôn ngữ ở trẻ em. Hoạt động trí tuệ đƣợc triển
khai từ hành động đƣợc thự hiện bằng ngôn ngữ sang hành động thực tiễn. Yếu tố
quy định sự phát triển cấu trúc tâm lý lứa tuổi - tuyến phát triển trung tâm chính là
quan hệ đặc thù độc đáo giữa trẻ em và hiện thực bao quanh nó, trước hết là quan
hệ xã hội. Bởi thế khi nghiên cứu về trẻ em phải làm sáng tỏ tình huống xã hội của
sự phát triển đó. Hoạt động chơi không xuất hiện ngẫu nhiên mà là sản phẩm sáng
tạo của cá nhân thuần túy dưới ảnh hưởng trực tiếp của môi trường xung quanh.
Thông qua chơi trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm lịch sử - xã hội và chơi chỉ trở thành
phương tiện giáo dục khi được hướng dẫn một cách đúng đắn [19, tr.101].
Hoạt động của trẻ em về tổ chức, cấu trúc và phƣơng thức hành động hoàn
toàn khác với hành vi của động vật và khơng có sẵn. Ơng cho rằng, ngay từ những
ngày đầu trong quá trình phát triển tâm lý trẻ em, sự thích ứng của nó với mơi
trƣờng đƣợc thực hiện bằng các phƣơng tiện xã hội thông qua những ngƣời xung
quanh. Con đƣờng từ đồ vật đến trẻ em và từ trẻ em đến đồ vật đều thông qua ngƣời
khác. Động cơ của hoạt động vui chơi nằm ngay trong q trình hoạt động chứ
triển tâm lý, nhân cách của trẻ. Sự phát triển tâm lý của trẻ cũng diễn ra theo quy
luật phát triển tâm lý chung của con ngƣời và phải đề cập đến 3 khía cạnh khi khai
thác sự phát triển tâm lý là nguồn gốc, nội dung và phƣơng thức của sự phát triển.
Theo đó, ứng dụng vào vấn đề chúng ta đang nghiên cứu, chúng ta cũng không thể
bỏ qua nguồn gốc, nội dung (bản chất) của hoạt động vui chơi và phƣơng thức phát
triển là phƣơng thức hoạt động.
Nhƣ vậy, với các nhà tâm lý học hoạt động, thơng qua hoạt động vui chơi thì
tâm lý trẻ em phát triển tồn diện ở các khía cạnh khác nhau nhƣ : nhâ ̣n thức: cảm
tính và lý tính, tình cảm và hành vi. Các đặc điểm tâm lý trên chịu sự tác động to
lớn của yếu tố giáo dục và yếu tố hoạt động lao động. Thơng qua giáo dục và hoạt
động thì tâm lý của con ngƣời nói chung và tâm lý của trẻ em mới phát triển hồn
thiện, mang tính ngƣời.
1.1.2. Ở Việt Nam.
21
Hiện nay, dù những nghiên cứu riêng biệt về HĐVC của trẻ khơng nhiều
nhƣng có khơng ít tác giả đề cập đến HĐVC trong các tác phẩm của mình. Và cũng
có thể nói, một nét chung của các tác giả này là luôn đứng trên quan điểm Macxit,
thừa hƣởng các thành quả của TLH hoạt động, do đó có một sự thống nhất nhất
định khi nói về HĐVC của trẻ em ở trƣờng mầm non.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định trongtác phẩm “Giáo dục MN, những
vấn đề lý luận và thực tiễn” và “Tâm lý học trẻ em lứa tuổi MN” rằng: Vui chơi là
hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo, nó chi phối tồn bộ đời sống tâm lý của trẻ và
các hoạt động khác. Hoạt động vui chơi của trẻ mang dấu ấn của thời đại và tính xã
hội sâu sắc. Hoạt động vui chơi của trẻ khơng mang tính bắt buộc, có tính tự lập, có
sự phối hợp giữa các thành viên trong nhóm và có tính ký hiệu tƣợng trƣng [29,
tr.221].
Ngồi việc xác định rõ vai trò của HĐVC đối với sự phát triển, dƣới ánh sáng
hình của trẻ.
Tác giả Vũ Thị Nho trong cuốn "Tâm lý học phát triển" khi nghiên cứu về
HĐVC của trẻ em cho rằng: Mâu thuẫn giữa khát vọng đƣợc tiếp xúc với thế giới
ngƣời lớn với những tri thức và kỹ năng để thực hiện điều đó, khiến trẻ phải tìm
một hoạt động mới thay thế cho hoạt động đồ vật ở tuổi vƣờn trẻ. Đó là hoạt động
vui chơi. Trong trị chơi, mà quan trọng nhất là trị chơi đóng vai theo chủ đề, tạo
nên những thay đổi về chất trong sự phát triển tâm lý trẻ. Trị chơi đóng vai giúp trẻ
tái tạo lại hoạt động lao động cùng vơi quan hệ của ngƣời lớn làm thỏa mãn khát
vọng sống nhƣ ngƣời lớn của trẻ. Hoạt động vui chơi cùng với hoạt động có sản
phẩm nhƣ vẽ tranh, tơ tƣợng, ở trẻ thể hiện những xúc cảm, tình cảm đối với cái ác
cái thiện, thẩm mỹ, [27, tr 59- 60].
Tác giả cũng chỉ ra thơng qua q trình hoạt động vui chơi mà các đặc điểm
tâm lý của trẻ có cơ hội đƣợc bộc lộ ra và phát triển. Với trẻ mầm non sự phát triển
tâm lý đƣợc thể hiện ở các đặc điểm khái quát: sự phát triển trí tuệ bằng việc
chuyển từ tƣ duy hành động định hƣớng bên ngoài thành hành động định hƣớng bên
trong; kiểu tƣ duy bằng tay (trực quan hành động) thành kiểu tƣ duy trực quan hình
tƣợng; cùng với đó là sự hình thành tƣ duy mang tính lý luận dựa trên những biểu
tƣợng cụ thể về thế giới khách quan. Đặc biệt, giai đoạn này ngôn ngữ cũng phát
triển mạnh đạt chất lƣợng cao về phát âm, vốn từ và hình thức ngữ pháp nhờ đó
23
manh nha cho sự phát triển tƣ duy “tiền khái niệm”. Điều cần lƣu ý nữa là tƣởng
tƣợng cũng phát triển mạnh ở lứa tuổi này, thể hiện trong trò chơi, bức vẽ, câu
chuyện bịa. Sự phát triển nhân cách cũng đƣợc chỉ rõ. Từ 3 tuổi trẻ đã có biểu hiện
về “cái tôi” của trẻ. Trong các hoạt động vui chơi, trẻ cũng phát triển các tình cảm,
xúc cảm. Đặc điểm nổi bật sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi này chính là sự hình
thành động cơ hành vi có liên quan đến ý thức bản ngã, đến sự hình thành “cái tơi”
với tƣ cách là một thành viên xã hội.
cũng chính là những đặc điểm tâm lý chúng tôi áp dụng vào trong luận văn để
nghiên cứu, đánh giá trẻ em thông qua HĐVC.
1.2. Các khái niệm cơ bản
Để thống nhất quan điểm về tâm lý trẻ em, lứa tuổi mầm non, hoạt động vui
chơi của trẻ em lứa tuổi mầm non chúng tôi đề cập đến các khái niệm trên ở phần
dƣới đây.
1.2.1. Lứa tuổi mầm non
1.2.1.1. Khái niệm
Có sự khác biệt trong quan niệm về các giai đoạn phát triển của con ngƣời
giữa quan điểm sinh vật và quan điểm tâm lý học Macxit. Cụ thể, quan điểm sinh
vật coi sự phát triển tâm lý là một quá trình sinh vật tự nhiên, đã khẳng định tính bất
biến, tính tuyệt đối của các giai đoạn. Quan niệm tâm lý học Mácxít coi lứa tuổi là
một thời kỳ phát triển nhất định, đóng kín một cách tƣơng đối mà ý nghĩa của nó
đƣợc quyết định bởi vị trí của thời kỳ đó trong cả quá trình phát triển chung. Khi
chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác bao giờ cũng xuất hiện cấu trúc tâm lý
mới.
Căn cứ vào thay đổi trong cấu trúc tâm lý hoạt động của trẻ và cả sự trƣởng
thành của trẻ mà ngƣời ta chia ra một số thời kỳ chủ yếu.
- Giai đoạn trƣớc tuổi học và giai đoạn tuổi học sinh. Trong đó, lứa tuổi mẫu
giáo đƣợc nằm trong giai đoạn trƣớc tuổi đi học từ 3 đến hết 5 năm [18, tr.25].
- Trẻ em lứa tuổi mầm non thuộc giai đoạn 4 – 6 tuổi với hoạt động chủ đạo là
trị chơi đóng vai. Nhờ các trị chơi này mà trẻ mơ phỏng lại trong trò chơi những
mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời. Nhờ đó mà trẻ dần dần phát triển nhân
cách với tƣ cách là một thành viên của xã hội. [27, tr.43].
25
Theo đó, từ 3 – 6 tuổi đƣợc xem là lứa tuổi mẫu giáo với hoạt động chủ đạo là
hoạt động vui chơi mà đóng vai theo chủ đề là trung tâm [29, tr.132]. Tuy nhiên,