MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI,
cùng với việc xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, Việt
Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cho đến nay, mặc
dù nền kinh tế đã có những bước phát triển tích cực, song tình hình xã hội
Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng của cơ chế quản lý cũ và đi liền với nó là
sự tác động tiêu cực của mặt trái của cơ chế thị trường, do đó tình hình tội
phạm còn diễn biến phức tạp.
Trộm cắp tài sản là một trong số các loại tội phạm xảy ra phổ biến
hiện nay ở nước ta. Thời gian gần đây, loại án này chiếm 80% số các vụ án
xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt. Điều đáng chú ý là, hiện nay loại
tội phạm này xảy ra với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, có
nhiều vụ đối tượng phạm tội đã sử dụng những kiến thức mới về khoa học kỹ
thuật để thực hiện hành vi phạm tội. Một điều dễ nhận thấy là, cùng với quá
trình đô thị hóa, các khu chung cư được xây dựng ngày càng nhiều đặc biệt là
ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điều này sẽ dẫn
đến một thực tế sẽ có ngày càng nhiều các hộ dân đến sinh sống ở các khu
chung cư này. Đi liền với nó tình hình tội phạm nói chung cũng như tình hình
tội trộm cắp tài sản tài sản nói riêng có những diễn biến phức tạp. Thực tế của
công tác giữ gìn an ninh, trật tự ở cơ sở cho thấy: địa bàn phạm tội tại các khu
chung cư cao tầng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình, đặc điểm của loại tội
trộm cắp tài sản hiện nay. Theo số liệu thống kê của Công an thành phố Hà
Nội, mỗi năm trung bình có từ 3.000 dến gần 4.000 vụ trộm cắp tài sản trên
địa bàn, trong đó số vụ trộm cắp có liên quan đến các khu chung cư cao tầng
chiếm khoảng 70 - 80%.
1
nhà riêng ở địa bàn Hà Nội, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Cảnh
sát nhân dân, Hà Nội, 1997 [13].
- Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, với đề tài Tổ chức điều tra khám phá
các vụ án trộm cắp tài sản của công dân theo chức năng của lực lượng Cảnh
sát hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học
Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, năm 1998. Trong luận văn thạc sĩ của mình, tác
giả lại chú trọng tập trung vào phương pháp điều tra vụ án trộm cắp trên một
địa bàn đã được giới hạn, để thấy được tính đặc thù của tội phạm này ở một
tỉnh trung du miền núi.
- Tác giả Khổng Văn Hà, Điều tra các vụ trộm cắp tài sản xảy ra tại
nhà riêng công dân, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Cảnh sát nhân
dân, Hà Nội, 1994 v.v...
Dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Tội
phạm học, tác giả Nguyễn Thanh Hải đã đề cập vấn đề này để đưa ra những
biện pháp nhằm "Đấu tranh phòng chống tội trộm cắp tài sản trên địa bàn
tỉnh Đồng Tháp", luận văn thạc sĩ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà nước và
pháp luật, Hà Nội, 1998...
Tình hình nêu trên cho thấy, tuy đã được chú ý, nhưng đề tài điều tra
các vụ án trộm cắp tài sản của công dân mới được đề cập ở các khía cạnh, góc
độ nhất định hoặc chỉ ở một số địa phương nhất định, chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách chuyên sâu về đặc điểm của loại tội phạm trộm cắp tài sản
tại các khu chung cư cao tầng hiện nay, để từ đó đề ra các giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa cũng như hoạt động điều tra ban đầu của
công an cấp cơ sở (cấp phường). Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ
thống chuyên sâu và toàn diện đề tài này ở nước ta có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
4
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tình hình tội trộm cắp tài sản
trong đó đặc biệt là tình hình trộm cắp tài sản tại các khu chung cư trên địa
bàn thành phố Hà Nội từ năm 1999 đến nay; nội dung, đặc điểm của hoạt
động phòng ngừa và điều tra ban đầu của Công an cấp phường trên địa bàn
Thủ đô. Tài liệu thực tế phục vụ cho hoạt động nghiên cứu của tác giả chủ
yếu được thu thập ở bình diện chung là cấp thành phố và cấp phường nhưng
chủ yếu vẫn là các địa bàn các quận, nơi tập trung nhiều các khu chung cư cao
tầng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
- Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu, trình bày trên cơ sở phương pháp luận và
cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, những quan điểm của Đảng và Nhà
nước về công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và chính sách
hình sự của Nhà nước đối với tội trộm cắp tài sản của công dân nói riêng.
Nội dung của luận văn được hình thành trên cơ sở kế thừa các kết quả
nghiên cứu của các công trình đã được công bố trong lĩnh vực khoa học điều
tra tội phạm; các tài liệu, số liệu trong các báo cáo tổng kết của các cơ quan
bảo vệ pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp khoa học của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp phân tích,
tổng hợp, quy nạp, so sánh, điều tra xã hội học. Trong đó, tác giả sử dụng
phương pháp nghiên cứu điển hình
6. Điểm mới của đề tài
Lần đầu tiên đề tài hoạt động phòng ngừa, và điều tra ban đầu về tội
trộm cắp tài sản tại các khu chung cư của công an cấp phường được nghiên
cứu, xem xét một cách có hệ thống, và toàn diện. Luận văn đã nghiên cứu khá
dung luận văn gồm 3 chương:
6
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung
Chương 2: Thực trạng hoạt động phòng ngừa và điều tra ban đầu
của Công an cấp phường về tội trộm cắp tài sản tại các khu chung cư cao
tầng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
phòng ngừa và điều tra ban đầu của Công an cấp phường về tội trộm cắp tài
sản tại các khu chung cư cao tầng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. NHỮNG DẤU HIỆU PHÁP LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH SỰ CỦA TỘI
TRỘM CẮP TÀI SẢN Ở KHU CHUNG CƯ CAO TẦNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI
1.1.1. Những dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản
Đấu tranh phòng chống tội phạm trong đó có đấu tranh, phòng chống
tội trộm cắp tài sản nói chung cũng như tội trộm cắp tài sản tại các khu chung
cư cao tầng nói riêng là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của lực
lượng công an để đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
ở cơ sở. Để có thể đưa ra những giải pháp thích hợp, có hiệu quả trong công
tác phòng ngừa, điều tra ban đầu của công an cấp phường về loại tội trộm cắp
cắp tài sản hiện nay còn có nhiều ý kiến và cách hiểu không thống nhất về
khái niệm trộm cắp tài sản cũng như các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội
phạm này.
Ví dụ: Trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học
Luật Hà Nội xuất bản năm 2002, trộm cắp tài sản được hiểu là "hành vi lén lút
chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý" [32, tr. 214]. hoặc trong Bình luận
khoa học Bộ luật hình sự của nhà xuất bản Pháp lý năm 2002 - phần các tội
phạm, thì tội trộm cắp được hiểu là "lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản đang do
người khác quản lý". Theo chúng tôi, "tài sản đang do người khác quản lý" và
"tài sản đang có người quản lý" chỉ là hai cách nói khác nhau của cùng một
nội dung. Trong khi đó, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm
của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân xuất bản năm 2001 lại cho rằng:
"Trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của người chủ tài sản hoặc người
được giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút" . Qua
9
nghiên cứu, tham khảo quy định về tội trộm cắp tài sản trong BLHS một số
nước, chúng tôi thấy:
Điều 264 BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997
quy định: Người nào có hành vi trộm cắp tài sản của công dân với mức độ
tương đối lớn hoặc trộm cắp nhiều lần thì bị phạt tù từ 3 năm trở xuống, cải
tạo lao động hoặc quản chế và bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng lớn
hoặc có những tình tiết nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm
và bị phạt tiền; nếu trộm cắp với số lượng quá lớn hoặc có những tình tiết đặc
biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ 10 năm trở lên hoặc tù chung thân và
bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản...
Với cách qui định như trên, các luật gia Trung Quốc cũng mới chỉ
dừng lại ở việc nêu tên tội danh, mà chưa mô tả cụ thể hành vi trộm cắp là
lén lút, bí mật hay là công khai nên không phân biệt được hành vi trộm cắp
với các hành vi chiếm đoạt khác. Cuối cùng, cũng như BLHS của Liên bang
Nga, điều luật cũng không xác định mức độ thiệt hại về tài sản để làm căn cứ
xử lý về hình sự nên việc xác định ranh giới này phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của người áp dụng pháp luật.
Qua thực tiễn của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như
qua việc nghiên cứu về pháp luật hình sự, chúng tôi cho rằng Điều 138 BLHS
1999, cần phải được hiểu như sau:
* Khách thể của tội trộm cắp tài sản
Là một trong các tội có dấu hiệu mục đích chiếm đoạt, nghĩa là người
phạm tội muốn biến tài sản của người khác hoặc đang do người khác quản lý
thành tài sản của mình, hành vi phạm tội tội trộm cắp tài sản xâm hại khách
thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ đó là quan hệ sở hữu.
Tài sản là đối tượng của tội trộm cắp, theo Hiến pháp năm 1992 bao gồm:
"Thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản
xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế
11
khác" (Điều 58). Tài sản đó có thể là tiền, vàng, hoặc những tài sản có giá trị
khác...
Khi nghiên cứu đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản cần phải
xác định, tài sản đó phải là tài sản đang có người quản lý. Đây là dấu hiệu
quan trọng để phân biệt đối tượng tác động của tội Tham ô tài sản - tài sản do
người phạm tội trực tiếp quản lý- tội chiếm giữ trái phép tài sản- tài sản đang
tạm thời chưa có chủ. Trên thực tế tài sản là đối tượng tác động của tội này
thường là của người khác, hoặc của Nhà nước, nhưng có không ít trường hợp
tài sản đó lại của chính người phạm tội nhưng đang thuộc quyền quản lý của
người khác. Ví dụ: A cho B mượn một chiếc xe đạp, khi B dựng xe ở sân ký
+ Chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành vi phạm tội, là trường hợp
mà người phạm tội chỉ che giấu việc chiếm đoạt đối với chủ tài sản, còn đối
với những người khác họ vẫn có thể biết hành vi này.
Ví dụ: Lợi dụng chủ nhà đi vắng, người phạm tội dùng chìa khóa mở
cửa một cách công khai và chuyển tài sản lên ô tô đàng hoàng như là có việc
chuyên chở hàng hóa bình thường. Trong trường hợp này, người phạm tội
không che giấu hành vi thực tế mà chỉ che giấu tính chất phi pháp của hành
vi. Những người không phải là chủ tài sản vẫn biết sự việc xảy ra, nhưng có
thể không biết đó là hành vi trộm cắp.
Về giá trị của tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả tác hại. Theo qui định
tại vào khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chỉ được coi là phạm tội trộm cắp
tài sản trong những trường hợp sau:
- Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ năm trăm nghìn đồng trở lên (đến
dưới năm mươi triệu đồng).
- Giá trị tài sản bị chiếm đoạt tuy chưa đến năm trăm nghìn đồng, nhưng
gây hậu quả nghiêm trọng; hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm
13
đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt (bất kỳ tội nào xâm phạm sở hữu có
tính chất chiếm đoạt), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Về nguyên tắc khi xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt cần phải thông
qua hội đồng định giá tài sản. Tuy vậy trong một số trường hợp như tài sản
bị chiếm đoạt không còn hoặc đã bị hủy hoại một phần thì việc xác định giá
trị tài sản khá phức tạp. Để giải quyết vấn đề này Thông tư liên tịch số
02/2001/TT-LT/TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp
hướng dẫn một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu của
Bộ luật hình sự năm 1999" đã qui định một số nguyên tắc xác định như sau:
Trường hợp trộm cắp dưới 500.000đ nhưng "gây hậu quả nghiêm
trọng". Theo đó, "gây hậu quả nghiêm trọng" được hiểu là "hậu quả phải do
hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và
hậu quả). Hậu quả đó có thể là thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản hoặc
hậu quả phi vật chất (gây ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối của
Đảng, chính sách của Nhà nước; gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an
toàn xã hội). Ví dụ: A trộm cắp tài sản có giá trị 450.000đ nhưng đó lại là
tiền, tài sản do nhân dân quyên góp để ủng hộ đồng bào bão lụt.
Trường hợp trộm cắp dưới 500.000đ nhưng trước đó "đã bị xử phạt
hành chính về hành vi chiếm đoạt", được hiểu là:
Nếu trước đó đã bị xử lý bằng một trong các hình thức sau
đây về hành vi chiếm đoạt, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là
chưa bị xử lý mà lại thực hiện một trong các hành vi công nhiên
chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính;
15
b) Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng điều lệnh, điều lệ của lực
lượng vũ trang;
c) Đã bị xử lý kỷ luật theo đúng quy định của cơ quan có
thẩm quyền...
Cũng theo Mục I điểm 1 Thông tư số 02/2001, bị coi là "đã bị xử phạt
hành chính về hành vi chiếm đoạt" nếu trước đó đã bị xử phạt hành chính về
một trong các hành vi sau có tính chiếm đoạt được qui định trong BLHS.
Trường hợp trộm cắp dưới 500.000đ nhưng "đã bị kết án về một tội
chiếm đoạt", cũng theo Thông tư số 02/2001, được hiểu là: Nếu trước đó đã bị
sáng; chiều từ 13h30 đến 16h.
* Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản
Tội phạm là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan.
Nếu như mặt khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt
chủ quan là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội. Mặt chủ quan của
tội phạm không tồn tại một cách độc lập mà luôn gắn liền với mặt khách quan
của tội phạm. Nói cách khác, hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội
luôn gắn liền với biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Mặt chủ quan của tội
phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ phạm tội. Lỗi là thái độ tâm lý của một
người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do
hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [30, tr. 132].
Lý trí và ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi. Lý trí thể hiện năng
lực nhận thức thực tại khách quan còn ý chí thể hiện năng lực điều khiển hành
17
vi trên cơ sở nhận thức. Đây là những yếu tố tâm lý cần thiết của mọi hoạt
động có ý thức của con người.
Lỗi của người phạm tội trộm cắp tài sản chỉ có thể là cố ý trực tiếp.
Theo BLHS, cố ý trực tiếp là lỗi của một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình có tính chất nguy hiểm cho xã hội,
thấy được hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra [32, tr. 136].
Về lý trí, người phạm tội trộm cắp tài sản nhận thức rõ tính chất nguy
hiểm cho xã hội về hành vi của mình trên cơ sở nhận biết đối tượng sẽ chiếm
đoạt là tài sản của người khác, nhận biết mức độ thực hiện hành vi, công cụ,
phương tiện phạm tội cũng như các phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa
điểm thực hiện tội phạm... sẽ gây thiệt hại đến tài sản của người khác.
Về ý chí, cũng như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, người phạm
tội trộm cắp tài sản luôn mong chiếm đoạt được tài sản. Do đó, lỗi của người
đây là tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, còn nếu phạm vào
khoản 1 và khoản 2 Điều 138 BLHS thì không bị truy cứu TNHS vì là tội ít
nghiêm trọng và nghiêm trọng. Đối với người tù đủ 16 tuổi trở lên không hạn
chế phạm vi chịu TNHS.
1.1.2. Đặc điểm hình sự của tội trộm cắp tài sản tại các khu chung
cư cao tầng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đối với những người tiến hành tố tụng nói chung, điều tra viên nói
riêng, sự hiểu biết đầy đủ về đặc điểm hình sự của các loại tội phạm có ý
nghĩa quan trọng vì nó là cơ sở để xây dựng phương pháp điều tra đối với
từng loại tội phạm cụ thể, phát huy tính tích cực, sáng tạo và tư duy khoa học
của cán bộ điều tra trong quá trình điều tra từng vụ án. Mặt khác, nắm vũng
được đặc điểm hình sự của tội phạm còn giúp chúng ta đề ra được những biện
pháp phòng ngừa có hiệu quả đối với loại hành vi phạm tội này.
19
Khi nghiên cứu về đặc tính hình sự của các loại tội phạm cụ thể, các
chuyên gia hình sự đều có cùng quan điểm khẳng định vai trò quan trọng của
việc nắm vững đặc tính hình sự của các loại tội phạm trong quá trình điều tra
để đề ra phương pháp điều tra các loại tội phạm cụ thể, nhưng quan niệm về
đặc tính hình sự của tội phạm đến nay vẫn còn có ý kiến khác nhau.
Các nhà khoa học hình sự Xô viết cho rằng, khái niệm về đặc tính
hình sự của tội phạm bao hàm cả dấu hiệu đặc trưng của tội phạm, đặc điểm
của tội phạm như: phương thức, thủ đoạn gây án, dấu vết đặc trưng để lại ở
hiện trường, đặc điểm nghề nghiệp... Theo quan điểm trên, mặc dù về nội
dung đặc điểm hình sự của tội phạm được đề cập ở các mức độ khác nhau
nhưng các tác giả đều thống nhất với nhau ở: nguồn gốc thông tin về tội
phạm, phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm, phương thức che giấu tội
phạm, những dấu vết vật chất đặc trưng của tội phạm và những nơi có thể tìm
Thứ tám, thông tin về động cơ, mục đích phạm tội;
Thứ chín, thông tin về các điều kiện tạo thuận lợi cho việc gây án và
che giấu tội phạm;
Thứ mười, thông tin về nhân cách của người bị hại.
Trong khoa học Điều tra hình sự, đặc điểm hình sự tội phạm được
chia làm ba loại như sau:
Đặc điểm hình sự của tội phạm chung (cùng nguồn gốc);
Đặc điểm hình sự của nhóm tội phạm;
Đặc điểm hình sự của một vụ tội phạm.
Từ những quan niệm trên về đặc điểm hình sự tội phạm trong khoa
học Điều tra hình sự thế giới và Việt Nam, chúng tôi quan niệm đặc điểm
hình sự tội phạm trộm cắp tài sản là hệ thống những đặc điểm của tội phạm
21
trộm cắp tài sản và những tình tiết có liên quan tới tội phạm này có ý nghĩa để
điều tra và khám phá tội phạm trộm cắp tài sản
Đặc điểm hình sự của tội phạm tội trộm cắp tài sản ở các khu chung
cư trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay nhìn chung không vượt ra ngoài
đặc điểm hình sự của tội trộm cắp tài sản nói chung, nhưng chúng tôi cho
rằng, tội trộm cắp tài sản ở các khu chung cư có các đặc điểm hình sự nổi bật
sau đây:
- Đặc điểm nguồn tin ban đầu về vụ trộm ở khu chung cư cao tầng
Cũng như tội trộm cắp tài sản, nguồn tin về tội trộm cắp tài sản ở khu
chung cư cao tầng thường do người bị hại, người làm chứng cung cấp và cũng
có thể do đồng bọn bị bắt khai báo, đồng bọn tố giác lẫn nhau, do cơ sở, đặc
tình cung cấp. Tuy vậy, mỗi thông tin ban đầu mà cơ quan điều tra thu thập
được thường có những đặc điểm riêng biệt.
Nguồn tin ban đầu do người bị hại cung cấp thường chỉ rõ địa điểm
thường có các đặc điểm đặc định mà chủ nhà nhớ rõ. Đây là các yếu tố rất
quan trọng phục vụ cho việc truy nguyên tài sản bị trộm cắp trong quá trình
điều tra. Do địa điểm phạm tội ở trên cao nên tài sản bị trộm cắp thường là
những tài sản gọn, dễ mang vác. Những tài sản quá cồng kềnh như tủ lạnh,
máy giặt rất ít khi bị chiếm đoạt, những tài sản này chỉ bị chiếm đoạt chỉ trong
trường hợp người phạm tội sử dụng những thủ đoạn quá táo bạo.
+ Đối với những tài sản là xe đạp, xe máy có thể là đối tượng của
hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp ở các khu chung cư cao tầng thường là
những tài sản mà chủ tài sản không có biện pháp bảo vệ an toàn như không
khoá càng, khóa cổ hoặc không có biện pháp trông giữ cẩn thận...
- Phương thức, thủ đoạn chuẩn bị phạm tội và thực hiện tội phạm
trộm cắp tài sản ở các khu chung cư cao tầng;
Như chúng tôi đã đề cập đến ở phần đầu, do đặc điểm của nơi gây án
là các căn hộ tại các khu chung cư có tính độc lập cao hơn các địa bàn phạm
23
tội khác, nên dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là hành vi "lén lút, bí mật"
chiếm đoạt tài sản được thể hiện rõ nét. Để thực hiện hành vi chiếm đoạt,
người phạm tội thường có sự chuẩn bị trước khi gây án như: người phạm tội
thường đóng vai là những sinh viên đi thuê nhà, nhân viên bán hàng tiếp thị
để nghiên cứu, xem xét địa điểm, lối cầu thang thuận tiện cho việc gây án,
quan sát nhà cửa, nghiên cứu chủng loại khóa cửa và đặc biệt là quy luật sinh
hoạt của gia đình cũng như của các hộ liền kề xung quanh, vị trí để tài sản,
thói quen của chủ tài sản..; đồng thời chuẩn bị các công cụ, phương tiện cần
thiết để cạy, phá, cắt khóa. Công cụ phương tiện có thể được chúng mua,
mượn hoặc tự tạo. Trong các vụ án có đồng phạm thường có sự phân công vai
trò, vị trí, trách nhiệm của từng đối tượng cụ thể, xác định phương thức, thủ
đoạn sẽ thực hiện tội phạm. Những tên tội phạm chuyên nghiệp còn chuẩn bị
ngủ, chủ nhà quên không đóng cửa hoặc ra ngoài không đóng cửa;
- Thủ đoạn che giấu tội phạm và ngụy trang, giả tạo hiện trường đối
với các vụ trộm cắp tại khu chung cư cao tầng;
Khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ở khu chung cư, người phạm
tội thường sử dụng nhiều thủ đoạn để che giấu hành vi phạm tội như tạo hiện
trường giả hoặc xóa dấu vết để đánh lạc hướng điều tra của Công an. Thực tế
cho thấy, các đối tượng chuyên nghiệp thường để lại rất ít dấu vết ở hiện
trường; các dấu vân tay hầu như không có vì chúng thường đi găng tay hoặc
dùng vải, khăn mặt để lót tay. Các dấu vết giày, dép cũng không có vì chúng
đi tất chân, không đi giày, dép hoặc nếu có dấu vết giày, dép để lại thì cũng
là giày, dép chúng không thường xuyên sử dụng nên khó xác định được diện
thủ phạm.
Có trường hợp sau khi dùng các công cụ để cắt khóa và đột nhập vào
nhà, lấy được tài sản kẻ phạm tội đem luôn cả khóa đi, cho nên khi khám
nghiệm hiện trường Cơ quan điều tra (CQĐT) rất khó xác định thủ phạm đã
dùng công cụ, phương tiện gì.
25