TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH - Pdf 69

TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH.
1.1. CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN
PHẨM.
1.1.1. Chất lượng sản phẩm.
1.1.1.1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng
rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, để hiểu rõ
và đầy dủ về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn giản. Bởi
đây là một phạm trù phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế
và xã hội. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản
xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng sản phẩm thành
những nhóm chủ yêu sau:
- Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất
của sản phẩm.
Quan niệm này quá tính trừ tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể xác
định một cách chính xác.
- Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm là tồng
hợp những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được,
phản giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu định trước
cho nó, trong những yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng
đơn thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.
Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất
lượng không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn đến
kết quả là tiêu thụ sản phẩm kém.
- Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiều chuyên
gia nổi tiếng như:
Theo W.E.Deming: “ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng
đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp nhận”.
Theo Philip B.Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không” đã diễn
tả: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.

1.1.1.2. Phân loại chất lượng sản phẩm.
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đã đưa
ra 6 loại chất lượng sản phẩm như sau:
Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của
sản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản
xuất, chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu
cầu về vật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu cầu về
bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất lượng thiết
kế còn gọi là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết đối
với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không thì nó còn
chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được
phê duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là các cơ
quan quản lý và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê chuẩn rồi
thì chất lượng này trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản
phẩm.
Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng
chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan
quản lý chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp
đồng giữa đôi bên quy định.
Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thị
trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất. Nó nói lên
mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí.
Chất lượng toàn phần: là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữa
hiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để sản
xuất và sử dụng sản phẩm đó.
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng ta có thể chia

tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi nước.
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất
lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín
và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dung.
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến
chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc
huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương
pháp quản lý chất lượng hiện đại.
* Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm ( được biệu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả
thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Năng
lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng.
- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức
quản lý và tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích hợp,
với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức có thể
khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng sản
phẩm.
- Machines (máy móc thiết bị): khả năng về công nghệ, máy móc thiết bị
của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong việc
nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất lao
động.
- Materials (nguyên vật liệu): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ
chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên
nhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số
lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản
phẩm.
[1]

cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là có
thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt động
của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của khách hàng khi sử
dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở đây theo đó cũng hết sức rộng:
‘nó là kết quả của một quá trình hoạt động của con người’. Đây cũng là hệ quả
tất yếu của quá trình quản lý chất lượng của thế giới trước tác động của quá
trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương mại nói riêng đang ngày càng
sâu rộng. Các phương pháp quản lý chất lượng gồm:
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản
phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các
sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản
phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa
việc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải
kiểm soát các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm
(như dây truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…), công
cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa điểm
sản xuất).
- Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục
tiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình
xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên
cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển,
phân phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng.
- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với
mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở
mức tốt nhất có thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt
động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động
sự tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất
lượng đã đặt ra.
Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự

Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham
gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh
nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các
hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên quan
lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp.
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi doanh
nghiệp. Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất, doanh
nghiệp phải liên tục cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh
muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và thông
tin.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.
Doanh ngiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ tương
hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.
1.2. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH.
1.2.1. Khái niệm quản lý chất lượng công trình.
Thông thường, xét từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ
hưởng sản phẩm xây dựng:
Chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công
năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính
thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời
gian (thời gian phục vụ của công trình).
Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu

[1]
Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để
quản lý được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân tố
ảnh hưởng đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện pháp kỹ
thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến.
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
1.2.2.1. Về con người.
Để quản lý chất lượng công trình tốt thì nhân tố con người là hết sức quan
trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình. Cán bộ phải là những kỹ
sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong công tác, có phẩm chất, đạo đức
tốt, có ý thức trách nhiệm cao. Và công nhân phải có tay nghề cao, có chuyên
ngành, có sức khỏe tốt và có ý thức trách nhiệm cao và đều là công nhân được
đào tạo cơ bản qua các trường lớp. Nếu kiểm soát tốt chất lượng cán bộ, công
nhân thì sẽ kiểm soát được chất lượng công trình góp phần vào việc quản lý tốt
chất lượng công trình. Nội dung về quản lý nguồn nhân lực gồm có:
- Nguồn nhân lực phải có năng lực dựa trên cơ sở được giáo dục, đào tạo,
có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.
- Đảm bảo sắp xếp công việc sao cho phù hợp với chuyên môn của mỗi
cán bộ, công nhân, để phát huy tối đa năng lực của họ.
- Lập báo cáo đánh giá năng lực của các cán bộ kỹ thuật, công nhân hàng
năm thông qua kết quả làm việc để từ đó có kế hoạch cụ thể trong việc xắp xếp
công việc phù hợp với năng lực của từng người. Đồng thời đó sẽ là cơ sở để
xem xét việc tăng lương, thăng chức cho các cán bộ, công nhân.
[1][1] TS. Bùi Ngọc Toàn - Nguồn tin: T/C Giao thông vận tải, số 12/2006
- Lưu giữ hồ sơ thích hợp về trình độ, kỹ năng, kinh ngiệm chuyên môn,
hiệu quả làm việc của mỗi người lao động. Sau này sẽ dựa vào đó để xem xét
lựa chọn người được cử đi học chuyên tu nâng cao chuyên môn, tay nghề.
- Công ty cần có chính sách đãi ngộ hợp lý cho các bộ cán bộ,công nhân để
có thể khuyến khích họ làm việc hăng say và có trách nhiệm trong công việc.
Việc khuyến khích phải tuân theo nguyên tắc:

nghiệm thu vật tư.
- Ta cũng cần quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các phòng chức năng và
các đơn vị thành viên:
+ Phòng kế hoạch - kỹ thuật có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc xét
duyệt tiến độ cung ứng vật tư, tổng mặt bằng thi công (trong đó thể hiện phương
án quản lý vật liệu). Kiểm tra quy trình quản lý chất lượng vật liệu tại công trình
như: Kho tàng, hệ thống sổ sách, chứng từ phản ánh nguồn gốc chất lượng,
phẩm cấp vật tư, biên bản nghiệm thu.

Trích đoạn nghĩa của việc nâng cao công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng. Mục tiêu và phương hướng phát triển chung của ngành xây dựng trong những năm tới.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status