Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 1
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Khi đất nước chuyển mình cùng với sự phát triển chung của thế giới thì diện mạo
đất nước cũng thay đổi, như sự phát triển về kinh tế, cơ cấu hạ tầng được nâng cao,
chất lượng cuộc sống cũng được nâng cao hơn. Có thể quan sát thấy trực tiếp đó là sự
mọc lên của các công trình công nghiệp và dân dụng đáp ứng yêu cần của công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một đất nước với những tòa nhà cao ốc,
những khu công nghiệp, những khu chung cư, sẽ là bức tranh toàn cảnh về đất nước
đó có thịnh vượng hay không? Tuy nhiên, những công trình xây dựng chỉ phản ánh
một mặt vấn đề xã hội, khi nhu cầu xây dựng, kiến thiết càng cao thì rất dễ xảy ra tình
trạng chất lượng các công trình yếu kém, nguyên nhân có thể do công tác chuẩn bị đầu
tư, tư vấn thiết kế chưa tốt, chưa đầy đủ, thiết kế phải khảo sát lại; nhiều nhà thầu năng
lực tài chính kém nhưng nhìn một cách tổng thể thì còn một nguyên nhân cốt lõi
khiến chất lượng công trình thi công yếu kém là do công tác quản lý công trình của các
cán bộ, quản lý dự án. Phải chăng chúng ta nên quan tâm đúng mức hơn nữa đến vấn
đề nâng cao chất lượng công trình? Đúng vậy, vấn đề này đã trở nên cấp thiết hơn bao
giờ hết trong toàn xã hội, trong đó doanh nghiệp xây dựng giữ vai trò hết sức quan
trọng bởi họ chính là những người trực tiếp thực hiện các công trình. Do vậy, các
doanh nghiệp cần chủ động hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý
chất lượng để tránh xảy ra những tình trạng đáng tiếc. Nâng cao chất lượng các công
tác xây dựng là một việc vô cùng quan trọng và cấp thiết.
Mặt khác, với sự hội nhập kinh tế thì sẽ đi cùng với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa
các doanh nghiệp trong cùng ngành nghề. Và ngành xây dựng cũng không phải là
ngoại lệ, trong khi Ninh Bình đang trên đà phát triển thì các doanh nghiệp xây dựng sẽ
cạnh tranh gay gắt để có đươc những hợp đồng xây dựng cho mình. Một trong những
yếu tố cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng không chỉ là quy mô,
tính chất công trình mà còn là chất lượng công trình xây dựng. Trên thực tế hiện nay,
lượng công trình.
1.3. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động quản lý chất lượng các công trình xây dựng
của công ty TNHH Vương Đô
Đối tượng điều tra: cán bộ quản lý trực tiếp tại các công trình đang thực hiện.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 3
Phạm vi nội dung: các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý chất
lượng công trình xây dựng.
Phạm vi không gian: Công ty TNHH Vương Đô
Phạm vi thời gian:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập các dữ liệu trong những năm 2009- 2011 thời gian
tháng 3-2012
- Dữ liệu sơ cấp : Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian tháng 3 đến tháng 4
năm 2012 bằng cách phát bảng hỏi để thu thập. Nhập và xử lý số liệu từ ngày 5 tháng
4 đến ngày 8 tháng 4 năm 2012.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
- Dữ liệu thứ cấp: Từ phòng Kế toán- Tài chính, phòng Kỹ thuật, phòng Tổ
chức- Hành chính của Công ty như: sơ lược về Công ty, tình hình kết quả kinh doanh,
công tác xây dựng, Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp còn được thu thập từ sách báo, tạp chí,
Internet, liên quan tới Quản trị chất lượng, công trình xây dựng,
- Dữ liệu sơ cấp: Ngoài các số liệu thứ cấp nói trên để có cơ sở khách quan cho
việc phân tích, đánh giá, sâu hơn các yếu tố bên trong tổ chức ảnh hưởng tới chất
lượng công trình, tôi tổ chức lấy ý kiến đánh giá đối với cán bộ quản lý, giám sát của
Công ty qua phiếu điều tra được soạn sẵn. Thang điểm sử dụng cho các ý kiến đánh
giá là từ 1 đến 5 tương ứng với từ rất không đồng ý tới rất đồng ý (Phụ lục số 2)
- Phương pháp lựa chọn đối tượng nghiên cứu: Do các dự án công trình Công ty
đấu thầu thành công chủ yếu được giao khoán gọn việc tổ chức thi công cho Đội (từng
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 5
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Chất lượng sản phẩm và quản lý chất lượng sản phẩm
1.1.1. Chất lượng sản phẩm
1.1.1.1. Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất
phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Tuy nhiên, để hiểu rõ và đầy đủ
về khái niệm chất lượng sản phẩm thì thật không hề đơn giản. Bởi đây là một phạm trù
phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những
góc độ khác nhau và tùy theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra
những quan niệm về chất lượng sản phẩm thành những nhóm chủ yếu sau:
Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo nhất của
sản phẩm.
Quan niệm này khá trừu tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể xác định một
cách chính xác.
Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm là tổng hợp
những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh được, phản giá trị sử
dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu định trước cho nó, trong những
yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng đơn
thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.
Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất lượng
không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn đến kết quả là
tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong
những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng của sản phẩm mà người
tiêu dùng mong muốn.”
Cho tới nay quan niệm chất lượng sản phẩm tiếp tục được mở rộng hơn nữa,
“Chất lượng là sự kết hợp giữa các đặc tính của sản phẩm thỏa mãn những nhu cầu của
khách hàng trong giới hạn chi phí nhất định. Trong thực tế ta thấy rằng các doanh
nghiệp không theo đuổi chất lượng cao với bất cứ giá nào mà luôn đặt nó trong một
giới hạn về công nghệ, kinh tế, xã hội.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 7
1.1.1.2. Phân loại chất lượng sản phẩm
Qua sự phân tích nghiên cứu, các chuyên gia chất lượng sản phẩm đã đưa ra 6
loại chất lượng sản phẩm như sau:
Chất lượng thiết kế: là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản
phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để sản xuất, chất
lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các yêu cầu về vật liệu chế
tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu cầu về bảo quản, về thử nghiệm
và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính
sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý thuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có
đạt được điều đó hay không thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó được phê
duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là các cơ quan quản lý
và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê chuẩn rồi thì chất lượng này
trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm
và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng chuẩn
và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý chất
lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế, hợp đồng giữa đôi
quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm.
Sự phát triển của khoa học - kỹ thuật:
Trong thời đại ngày nay, trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn
liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là sự ứng dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Hướng chính của việc áp dụng các kỹ
thuật tiến bộ hiện nay là: Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế hoặc cải tiến
hay đổi mới công nghệ hoặc cải tiến sản cũ và chế thử sản phẩm mới.
Hiệu lực của cơ chế quản lý:
Có thể nói rằng khả năng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi tổ chức
phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế quản lý của mỗi nước.
Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất lượng
sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy tín và quyền lợi
của nhà sản xuất và người tiêu dung.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 9
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải tiến chất
lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động
các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng những phương pháp quản lý chất
lượng hiện đại.
Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng sản
phẩm ( được biểu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- M1- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả thành
viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Chất lượng sản phẩm
phụ lớn vào trình độ chuyên môn, tay nghề, ý thức trách nhiệm, tinh thần hợp tác của
các thành viên trong bộ phận doanh nghiệp.
- M2- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức quản
lý và tổ chức sản xuất của tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo và nâng
Theo các định nghĩa này ta có thể thấy phạm vi quản lý là rất rộng. Tuy nhiên,
đứng ở phạm vi quốc gia quản lý chất lượng được thực hiện chủ yếu ở hai cấp độ
chính là Nhà nước và Doanh nghiệp. Xét về đối tượng, đối tượng của quản lý chất
lượng chính là các sản phẩm của tổ chức, trong đó bao gồm hàng hóa, dịch vụ hoặc
quá trình.
1.1.2.2. Các phương pháp quản lý chất lượng gồm
Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection- QI) với mục tiêu để sàng lọc các sản
phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản
phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm
bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
Kiểm soát chất lượng (Quality Control - QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo
ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát các yếu
tố ảnh hưởng trực tiếp đến quy trình tạo ra chất lượng sản phẩm, bao gồm:
- Kiểm soát con người thực hiện.
- Kiểm soát phương pháp và quy trình sản xuất.
- Kiểm soát nguyên vật liệu đầu vào.
- Kiểm soát bảo dưỡng thiết bị.
- Kiểm soát môi trương làm việc.
Việc kiểm soát nhằm chủ yếu vào quá trình sản xuất để khắc phục những sai sót
ngay trong quá trình thực hiện.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 11
Đảm bảo chất lượng (Quanlity Assurance- QA) là hoạt động có kế hoạch, có hệ
thống được hình thành trong một hệ thống chất lượng và được kiểm định chất lượng
sản phẩm sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu đã quy định đối với chất lượng. Nội dung cơ
bản của các hoạt động đảm bảo chất lượng là người cung cấp phải xây dựng một hệ
thống đảm bảo chất lượng có hiệu lực, hiệu quả, đồng thời làm thế nào để chứng tỏ
khách hàng biết được điều đó.
Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control - TQC) với mục tiêu
như ISO 14001 - hệ thống quản lý môi trường, HACCP - Hệ thống Phân tích các nguy
cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản thực phẩm, GMP - Quy
chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS 18001 - Hệ
thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội
và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống
quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa
dầu - Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầu đối
với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước
cũng được quan tâm. Điều này chứng tỏ quản lý chất lượng ngày càng trở nên quan
trọng và được áp dụng sâu rộng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
1.1.2.3. Các nguyên tắc quản lý chất lượng
Nguyên tắc 1: Định hướng bởi khách hàng.
Doanh nghiệp phụ thuộc vào khách hàng của mình và vì thế cần hiểu những nhu
cầu hiện tại và tương lai của khách hàng để không chỉ đáp ứng mà còn vượt cao hơn sự
mong đợi của họ.
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của doanh
nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh nghiệp để hoàn
toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự tham gia
đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho doanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các hoạt
động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 13
các bản vẽ thiết kế
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 14
- Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên
vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng
mục công trình.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định
nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện
các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ công nhân, kỹ sư
lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng.
- Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ
hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công
nhân, kỹ sư xây dựng.
- Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể
phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai
thác, sử dụng.
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải
chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các
hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các
yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu
tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.
Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để quản lý
được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân tố ảnh hưởng
đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện pháp kỹ thuật và áp dụng
các tiêu chuẩn tiên tiến.
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
1.2.2.1. Về con người.
Để quản lý chất lượng công trình tốt thì nhân tố con người là hết sức quan trọng,
nhưng lại thiếu lao động có tay nghề cao. Kế hoạch tuyển dụng có thể tiến hành hàng
năm hoặc 5 năm 1 lần, tùy theo nhu cầu của Công ty, và tính chất công việc.
Việc tuyển dụng cần được thực hiện như sau:
+ Lập hồ sơ chức năng: nêu rõ những yêu cầu, tính chất công việc cần tuyển dụng.
+ Dự kiến trước nội dung thi và cách thức tổ chức, đánh giá và tuyển chọn. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 16
1.2.2.2. Về vật tư
Vật tư bao gồm vật liệu xây dựng, cấu kiện, bán thành phẩm, linh kiện…được
đưa vào quá trình xây lắp tạo ra các công trình hoàn thiện. Vật tư có vai trò quan trọng,
là điều kiện tiên quyết trong việc đảm bảo chất lượng công trình. Quản lý và sử dụng
đúng các chủng loại vật liệu, đảm bảo chất lượng và số lượng các loại vật tư sẽ góp
phần nâng cao chất lượng công trình xây dựng. Để là được điều đó thì cần phải thực
hiện quản lý toàn bộ quá trình từ khi tìm kiếm, khai thác nguồn cung cấp vật tư cho
đến khi đưa vật tư vào sản xuất và thi công, bao gồm:
- Nhà cung cấp uy tín có địa chỉ rõ ràng, có đăng ký chất lượng hàng hoá.
- Kho tàng đạt tiêu chuẩn.
- Thủ kho tinh thông nghiệp vụ và phẩm chất tốt.
- Phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép.
- Hệ thống sổ sách, chứng từ xuất, nhập đúng quy định, cập nhật thường xuyên,
phản ánh đúng đủ số lượng, chủng loại, phẩm cấp chất lượng và nguồn gốc vật liệu.
- Hệ thống lưu mẫu các lô vật tư nhập vào kho kèm theo các biên bản nghiệm
thu vật tư.
- Ta cũng cần quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các phòng chức năng và các
đơn vị thành viên:
+ Phòng kế hoạch - kỹ thuật có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc xét duyệt tiến
độ cung ứng vật tư, tổng mặt bằng thi công (trong đó thể hiện phương án quản lý vật
- Xây dựng và quản lý hồ sơ của từng máy móc thiết bị, phương tiện, dây chuyển
sản xuất theo từng năm. Tiến hành ghi sổ nhật ký tình hình sử dụng, sửa chữa, bảo
dưỡng các máy móc thiết bị và đánh giá định kỳ hàng năm.
- Quản lý định mức, đơn giá máy thi công, ban hành các quy trình, quy phạm sử
dụng máy.
- Bên cạnh đó cần tiến hành phân cấp quản lý cho từng bộ phận, xí nghiệp thành viên:
+ Phòng kế hoạch kỹ thuật có nhiệm vụ tổng hợp xây dựng kế hoạch đầu tư thiết
bị, phương tiện Công ty hàng năm và dự báo nhu cầu đầu tư máy móc thiết bị trung và
dài hạn. Thực hiện việc quản lý thống kê, đánh giá năng lực máy theo định kỳ, đề xuất
việc điều phối phương tiện, thiết bị giữa các xí nghiệp thành viên.
+ Các phòng chức năng khác tuỳ thực hiện nhiệm vụ tương ứng với chức năng
của mình.
+ Các xí nghiệp là đơn vị chịu trách nhiệm trước giám đốc Công ty về việc bảo
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 18
toàn, khai thác hiệu quả máy móc thiết bị. Cụ thể các xí nghiệp phải thực hiện các
công việc:
Xây dựng kế hoạch đầu tư thiết bị phục vụ sản xuất, thi công của “xí nghiệp”
hàng năm phù hợp kế hoạch sản xuất kinh doanh của đơn vị, lựa chọn đầu tư những
thiết bị, phương tiện phù hợp công nghệ và tiên tiến nhất.
Thực hiện quá trình đầu tư đúng trình tự, thủ tục theo quy định hiện hành của
Nhà nước, đảm bảo hiệu quả vốn đầu tư cao nhất.
Xây dựng định mức hạch toán chi phí nội bộ cho từng loại thiết bị, phương tiện
được giao quản lý đề nghị Công ty phê duyệt.
Sử dụng các thiết bị, máy móc, phương tiện đúng mục đích, đúng quy trình vận
hành, tính năng theo tài liệu hướng dẫn sử dụng. Không được khai thác quá công suất
tối đa cho phép. Đối với mỗi loại thiết bị, phương tiện phải xây dựng bảng chỉ dẫn quy
trình vận hành.
Xây dựng kho, lán đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật, an ninh, an toàn, có hệ thống
tiến hiệu năng của tổ chức đạt mục tiêu.
1.2.2.6. Về yếu tố môi trường
Bao gồm môi trường làm việc vật chất và môi trường làm việc tinh thần. Đảm
bảo điều kiện làm việc với trang thiết bị an toàn lao động với việc cung cấp đầy đủ
trang thiết bị bảo hộ lao động, các quy chế đảm bảo nhằm thực hiện tốt nhất yếu tố an
toàn. Đồng thời thực hiện giám sát chặt chẽ công tác an toàn trên công trường nhằm
giảm thiểu tới mức thấp nhất những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
1.2.3. Nội dung cơ bản của quy trình quản lý thi công
1.2.3.1. Các hình thức tổ chức thi công
Có 03 hình thức tổ chức thi công chính:
Quản lý tập trung có giao khoán chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho CNCT (Chủ
nhiệm công trình)
Giao khoán gọn việc tổ chức thi công cho Đội thi công (từng giai đoạn hoặc cả
công trình).
Giao khoán toàn bộ hợp đồng cho Đội thi công.
1.2.3.2. Nội dung, trình tự thực hiện quy trình
Chuẩn bị tổ chức thi công:
- Ký hợp đồng giao khoán cho tổ đội thi công -> Theo Quy trình hợp đồng.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 20
- Ký hợp đồng lao động thời vụ -> Theo quy trình ký kết hợp đồng.
- Phòng Tổ chức hành chính và CNCT lập danh sách BCH (Ban chỉ huy) công
nhân, đăng ký tạm trú, tạm vắng.
- Phòng Kế hoạch vật tư thực hiện việc xây dựng lán trại, văn phòng, nhà kho, hệ
thống cấp điện thi công, cấp nước thi công -> Theo quy trình Quản lý Mua và Thuê và
Quy trình ký kết hợp đồng
- BCH công trường và Phòng Tổ chức hành chính thực hiện các nội dung sau (BCH
công trường thực hiện, Phòng Tổ chức hành chính hướng dẫn và nhắc nhở đôn đốc):
+ Nhận bàn giao mặt bằng xây dựng công trình (diện tích, mốc, cao độ), lập biên
- Việc thực hiện thi công phải theo đúng trình tự, biện pháp chi tiết của Biên bản
kỹ thuật đã được phê duyệt.
- Căn cứ nhiệm vụ được giao, trợ lý kỹ thuật kiểm tra, tính toán khối lượng công
việc thực hiện được trong mỗi ngày, ghi chép vào Sổ theo dõi công việc hàng ngày để
báo cáo CNCT vào buổi họp cuối mỗi ngày (kể cả công việc không tính toán cụ thể
được thì đánh giá tỉ lệ % hoàn thành). Song song với việc kiểm soát khối lượng, việc
kiểm tra chất lượng phải được thực hiện và báo cáo hàng ngày bằng các cập nhật vào
sổ theo dõi công việc hàng ngày.
- Tất cả mọi vấn đề (khối lượng công việc thực hiện được, chất lượng thi công,
nhân lực) thực tế khác với kế hoạch hàng ngày đều phải được ghi nhận, cộng dồn và
dự đoán để báo cáo CNCT vào buổi họp cuối ngày. Nội dung phải được ghi hàng ngày
vào nhật ký nội bộ kể cả khi CNTC vắng mặt.
- Căn cứ vào kết quả công việc hàng ngày, CNCT sẽ quyết định duy trì hoặc điều
chỉnh mức độ công việc để công trường hoạt động đúng kế hoạch đề ra. Khi có sự sai
khác vượt mức độ kiểm soát của CNCT, CNCT phải lập báo cáo đột xuất để đề xuất
xin ý kiến xử lý về Ban giám đốc để có biện pháp điều chỉnh, kiểm soát lại công tác thi
công tại công trường.
Nghiệm thu công việc nội bộ:
- Quá trình nghiệm thu được thực hiện liên tục song song với công tác thi công
của công nhân trên công trình. Trợ lý kỹ thuật có trách nhiệm đo đạc, kiểm tra, nhắc
nhở sửa chữa (nếu có sai sót) trong suốt quá trình thao tác thi công của công nhân.
- Khi tổ đội thi công hoàn thành một bộ phận hay một công việc, Ban chỉ huy
công trường sẽ xác nhận và cho phép thi công công việc tiếp theo bằng phiếu nghiệm
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 22
thu trong phiếu nghiệm thu phải thể hiện khối lượng và chất lượng kỹ thuật của công
việc hoàn thành hoặc số lượng, quy cách mẫu sản phẩm được lấy để làm kiểm nghiệm.
- Mỗi phiếu nghiệm thu được lập thành 02 bản, mỗi bản đính kèm cho hồ sơ
thanh toán nội bộ của tổ đội thi công. Một bản lưu ở công trường để phục vụ công tác
- CNCT phân chia khu vực vào giao nhiệm vụ quản lý an toàn lao động, vệ sinh
môi trường cho từng cán bộ chuyên trách hoặc trợ lý kỹ thuật.
- Mỗi công nhân thi công trên công trường đều phải được hướng dẫn, huấn luyện
về an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Kết quả của việc hướng dẫn, huấn luyện
phải được cập nhật vào biên bản và danh sách.
- Ban chỉ huy công trình lập phiếu đề nghị cấp trang thiết bị an toàn lao động và
tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng trang thiết bị an toàn lao động, vệ sinh môi
trường mỗi tháng 1 lần. Kết quả kiểm tra đánh giá được ghi vào biên bản kiểm tra có
xác nhận của cán bộ an toàn lao động và CNCT.
- Công tác kiểm tra an toàn lao động, vệ sinh môi trường của cán bộ được phân
công được thực hiện liên tục trong suốt thời gian thi công của công trường, kết quả
kiểm tra được báo cáo hàng ngày vào nhật ký nội bộ.
- Trước khi triển khai một số công tác như: Đổ bê tông, lắp đặt cấu kiện bê tông,
kết cấu sắt thép, lợp mái, lắp đặt hệ thống kỹ thuật và một số công tác có nguy cơ mất
an toàn lao động cao như tháo dỡ coffa, hoàn thiện bên ngoài phải tiến hành kiểm tra
các điều kiện về an toàn và lập biên bản kiểm tra.
Quản lý các công việc phát sinh:
- Các công tác phát sinh do yêu cầu của Chủ đầu tư:
Ban chỉ huy công trình phải thực hiện đúng những việc sau:
+ Lập biên bản xử lý hiện trường xác nhận nguyên nhân, nội dung, khối lượng
phát sinh có đủ chữ ký A, B, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát.
+ Theo dõi, thực hiện đôn đốc quy trình trình duyệt hồ sơ phát sinh. Từ chủ
trương, thiết kế, dự toán đến khi ra quyết định chỉ định thầu cho đơn vị thi công.
+ Báo cáo về Công ty (phòng Tổ chức- Hành chính) các kết quả của từng bước
duyệt hồ sơ phát sinh.
+ Khi cần sự hỗ trợ của Công ty phải báo cáo. Tuy nhiên BCH công trường vẫn
là đầu mối trực tiếp giải quyết các công việc cho đến khi ra văn bản phê duyệt dự toán
phát sinh và chỉ định thầu thi công.
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.s Trương Thị Hương Xuân
SVTH: Lại Thị Ngọc Hân - K42QTTH
Trang 25
+ Chuyển hồ sơ thanh toán đã đầy đủ pháp lý, phiếu giá thanh toán đến bộ phận
kế toán của Chủ đầu tư, lập phiếu giao nhận hồ sơ và chuyển một bản của phiếu giao
nhận hồ sơ cho Phòng tài chính - Kế toán.
- Phòng quản lý thi công
+ Kiểm tra hồ sơ thanh toán do Ban chỉ huy công trình chuyển về theo đúng
các quy định đã thống nhất với Chủ đầu tư và Nghị định về quản lý chất lượng của
Nhà nước.
+ Xác nhận vào phiếu đề nghị kiểm tra và trình ký
+ Trường hợp hồ sơ còn thiếu sót thì yêu cầu và phối hợp với Ban chỉ huy công
trường để hoàn chỉnh trong thời gian sớm nhất.
- Phòng Tài chính kế toán:
+ Khi nhận được phiếu giao nhận hồ sơ giữa Ban chỉ huy công trường và cơ
quan thanh toán vốn, Phòng tài chính kế toán đưa vào danh mục theo dõi nguồn vốn
chuẩn bị được thu hồi.
+ Liên hệ cơ quan thanh toán vốn để đôn đốc việc thanh toán vốn. Trường
hợp hồ sơ thanh toán còn gặp vướng mắc thì phối hợp với Ban chỉ huy công trường
để giải quyết.
+ Khi thu hồi được nguồn vốn, tổng hợp và báo cáo trong các hội nghị giao ban
của Công ty.
Kiểm soát nội bộ
Việc kiểm soát chất lượng nội bộ được thực hiện ở 2 cấp. Cấp công trường và cấp
Công ty.
- Đối với cấp công trường:
+ CNCT kiểm tra các trợ lý, nhân viên, công nhân dưới sự quản lý của mình thực
hiện đúng quy trình công việc đối với nhiệm vụ được giao.
+ Cán bộ kỹ thuật kiểm tra, giám sát đội thi công, công nhân thực hiện đúng yêu
cầu kỹ thuật, định mức sử dụng, quản lý vật tư, công tác an toàn lao động, vệ sinh môi