ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ THU HIỀN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT
ĐỊNH LƢẠ CHOṆ PHƢƠNG THƢƢ́C CAN
THIÊPP̣ CỦA CHA MẸ CÓ CON TỰ KY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ THU HIỀN
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
LƢẠ CHOṆ PHƢƠNG THƢƢ́C CAN THIÊPP̣ CỦA
CHA MẸ CÓ CON TỰ KY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÀM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐINH THỊ KIM
THOA TS. TRẦN VĂN CÔNG
DIR
DTT
HBO
JAT
MT
MTW
OT
PECS
PRT
SL
ST
TECCH
THCS
THPT
ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN................................................................................................................................... i
DANH MỤC VIẾT TẮT............................................................................................................ ii
MỤC LỤC......................................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................................ v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ................................................................................................ vi
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................ 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU......................5
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề........................................................................................ 5
1.1.1. Nghiên cứu vềtư ̣kỷ/ rối loạn phổ tự kỷ................................................................ 5
2.2.3. Thành phố Hải Phòng.................................................................................................... 54
2.2.4. Tỉnh Ninh Bình................................................................................................................. 55
2.2.5. Tỉnh Thanh Hóa............................................................................................................... 55
2.3. Mẫu nghiên cứu.................................................................................................................... 57
2.4. Phương pháp nghiên cứu................................................................................................. 58
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận.............................................................................. 58
2.4.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi..................................................................... 58
2.4.3. Phương pháp thông kê toán học.............................................................................. 58
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.................................................................. 60
3.1. Đặc điểm lựa chọn phương thức can thiệp của cha mẹ................................... 60
3.1.1. Thời gian cha mẹ quyết định cho con đi can thiệp........................................ 60
3.1.2. Nơi cha mẹ lựa chọn để can thiệp cho trẻ.......................................................... 61
3.1.3. Mức độ hiểu biết và sử dụng của phương pháp can thiệp..........................62
3.2. Đặc điểm các yếu tố liên quan đến cha mẹ có con tự kỷ................................66
3.2.1. Yếu tố trình độ học vấn, khả năng ngoại ngữ của cha mẹ......................... 66
3.2.2. Yếu tố công việc và thời gian dành cho trẻ tự kỷ........................................... 69
3.2.3. Yếu tố đặc điểm vấn đề của trẻ tự kỷ.................................................................... 69
3.2.4. Yếu tố cảm xúc của cha mẹ có con bị tự kỷ...................................................... 71
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cha mẹ trong việc lựa chọn phương thức
can thiệp cho trẻ tự kỷ................................................................................................................ 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ................................................................................... 86
1. Kết luận......................................................................................................................................... 86
2. Khuyến nghị............................................................................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................................... 91
PHỤ LỤC........................................................................................................................................ 97
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1. Số lượng cha mẹ theo các tỉnh................................................................... 56
Biểu đồ 3.1. Thời gian cha mẹ đưa ra quyết định cho trẻ đi can thiệp.............60
Biểu đồ 3.2. Trình độ học vấn của khách thể nghiên cứu....................................... 67
Biểu đồ 3.3. Tự đánh giá khả năng ngoại ngữ và khả năng đọc dịch tài
liệu của khách thể nghiên cứu................................................................................................ 68
vi
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Tự kỷ có thể xuất hiện ở bất cứ gia đình nào, bất cứ trẻ nào, không phân
biệt văn hóa, độ tuổi, giới tính, nền tảng học vấn và giáo dục của bố mẹ. Theo
số liệu thống kê, tỷ lệ trẻ mắc chứng tự kỷ có xu hướng tăng lên [47].
Cho đến nay tự kỷ chưa được xác định rõ nguyên nhân, cơ chế hình
thành và do đó chưa chữa khỏi. Vì vậy, nhiều phương pháp điều trị tự kỷ đã
được đưa ra… Trong đó có những phương pháp đã được nghiên cứu và chứng
minh về hiệu quả đối với một số triệu chứng tự kỷ căn bản và những phương
pháp chưa được khoa học chứng minh, công nhận. Theo thống kê, hiện nay có
khoảng hơn 100 phương pháp can thiệp và điều trị tự kỷ được giới thiệu ở
Hoa Kỳ. Ở Việt Nam, khoảng 30 phương pháp đang được sử dụng trong điều
trị, can thiệp cho trẻ tự kỷ [4].
Thực tế cho thấy, cha mẹ là người có vai trò quyết định lựa chọn các
phương thức can thiệp cho trẻ. Cha mẹ thường được xem như những người
đồng trị liệu cho trẻ tự kỷ [40]. Họ là người đưa ra những quyết định có liên
quan đến đứa con tự kỷ của họ như: học ở đâu, học như thế nào, phương pháp
nào, cách thức thực hiện ra sao, ăn uống, sinh hoạt trong gia đình và ngoài xã
hội của trẻ. Khi lựa chọn phương thức can thiệp cho trẻ, cha mẹ cũng có thể bị
ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: hoàn cảnh gia đình, kinh tế, khu vực sống
(nơi đó có nhiều trung tâm hay giáo viên can thiệp hay không), tác động của
những người xung quanh (ông bà, anh em họ hàng, hàng xóm, đồng nghiệp,
v.v.).
Ngoài ra, với kinh nghiệm cá nhân khi đi dạy trẻ tự kỷ, tôi có cơ hội
được tiếp xúc cha mẹ của trẻ tự kỷ. Tôi thấy rằng các bậc phụ huynh đều có
chung mong muốn là con mình có thể được can thiệp bằng phương pháp tốt
nhất và hiệu quả nhất. Vì vậy, trong khuôn khổ một luận văn khoa học, chúng
tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa
chọn phương thức can thiệp của cha mẹ có con tư ̣ky”.
1
Theo “Nỗi niềm bác sĩ có con tự kỷ” – Vnexpress, ngày 20/9/2013
8
2.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết đinḥ lưạ choṇ phương thưc can thiêp ̣ cua cha me ̣co con tư ̣ky
đưa ra nhưng giai phap giúp cha me ̣có con tự kỷ lưạ ch
5.2. Khách thể nghiên cứu: Cha mẹ có con tự kỷ
9
5.3. Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu đươ ̣c tiến hành choṇ mâũ ở 150 cha
mẹ và người chăm sóc trẻ tự kỷ tại Hà Nội , Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Binh ̀,
Thanh Hóa. Thời gian: từ tháng 12/2014 đến tháng 11/2015.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
6.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp này đươc ̣ sử dung ̣ đểhê ̣
thống laịcơ sởlýthuyết, đồng thời thu thập và phân tích tài liệu cũng như các
công trình nghiên cứu có liên quan, tìm hiểu các nghiên cứu đã có về rối loạn
phổ tự kỷ, các yếu tố ảnh hưởng đến việc quyết định lựa chọn phương thức can
thiệp của cha mẹ cho con bị tự kỷ.
6.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi : Tham khảo tài liệu , xây dựng
bảng hỏi nhằm điều tra về các yếu tốảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng
của các yếu tố này đến quyết đinḥ lưạ choṇ phương thức can thiêp ̣ của cha mẹ
có con mắc chứng tự kỷ.
6.3. Phương pháp thống kê toán học: Từ số liệu thu được khi khảo sát thực
tế, chúng tôi sẽ tiến hành tổng hợp, mã hóa, xử lý dữ liệu, và phân tích kết quả
thông qua phần mềm SPSS nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận: sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề, các khái
niệm cơ bản của luận văn.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
10
đươc ̣ giữnguyên . Cùng với tính kỳ lạ ấy ông còn ghi nhận việc trẻ có khả
năng la ̣thường như giỏi toán , nhạc, trí nhớ tài tình…Có trẻ nhớ và đọc lại tất
cả những trang trong bộ bách khoa từ điển.
11
Giống như Kanner , ông Asperger cho rằng hôịchứng găp ̣ ởtrẻnh ỏ là
do khiếm khuyết căn bản vềmăṭgiao tiếp xa ̃ hôị . Ông nêu ra viêc ̣ trẻit ́ chiụ
nhìn vào mắt người khác , ít thông cảm , yếu kém vềmăṭliên lac ̣ không bằng
lời như chỉtay, có giọng nói nặng nề, đơn điêụ, rất đỗi si mê những đềtài như
thểthao , thời tiết vàchống đối đáng kểviêc ̣ thay đổi . Dâũ vâỵ hôịchứng
Asperger không cóviêc ̣ trit̀ rê đ ̣ áng kểvềsư ̣phát triển ngôn ngữhay tri thức
nhưng cókhiếm khuyết vềcử đông ̣ tổng quát vàtin h tế. Môṭđiểm màhôị
chứng Asperger khác với chứng tư ̣kỷlàngười tư ̣kỷkhông nhất thiết cócử
chỉ vụng về2.
Bruno Bettelheim, bác sĩ nhi khoa người Mỹ, nghiên cứu trẻ mà ông
cho là tự kỷ. Ông tuyên bố rằng vấn đề ở trẻ là do “người mẹ tủ lạnh”. Tức là
người mẹ không vỗ về, không quan tâm, không chăm sóc cho trẻ lúc còn nhỏ.
Vì vậy trẻ thiếu đi sự quan tâm chăm sóc, yêu thương. Nhưng quan điểm này
của Bruno đã bị Bernard Rimland là một nhà tâm lý học và phụ huynh có con
mắc chứng tự kỷ phản đối, Bernard cho rằng nguyên nhân bệnh tự kỷ của con
trai mình không phải là do người mẹ tủ lạnh hoặc kỹ năng làm cha mẹ của vợ
mình. Vì vậy mà năm 1964, Bernard Rimland đã cho xuất bản cuốn sách “Tự
kỷ trẻ sơ sinh hội chứng và tác động của nó đối với một lý thuyết thần kinh
3
của hành vi” để nói về vấn đề này .
Nhưng tận đến những năm 70 của thế kỷ XX, tự kỷ mới được biết đến
nhiều hơn. Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX các quỹ đầu tư cho giáo dục
Ở
về
Việt Nam , trong hơn một thâp ̣ kỷqua đa ̃córất nhiều nghiên cứu
rối loạn phổ tư ̣kỷ. Từ năm 2008 – 2010, tác giả Nguyêñ Thi Hương ̣ Giang ,
Bênḥ viên nhi Trung ương đa ̃nghiên cứu mô ṭ sốđăc ̣ điểm lâm sàng của trẻtư ̣
kỷ từ 18 tháng đến 36 tháng tuổi. Kết quảnghiên cứu cho thấy tỉlê ̣trẻnam mắc
chứng tư ̣kỷnhiền hơn trẻ là nữ(6,4/1). Tỉ lệ trẻ tự kỷ ở mức độ nặng cao
(85,7%). Khiếm khuyết vềchất
lương ̣ quan hê ̣như : không giao tiếp mắt ,
không biết gâṭđầu hoăc ̣ lắc đầu khi đồng ýhoăc ̣ phản đối
, thích chơi một
mình, không biết khoe khi đươc ̣ đồvâṭ , không đáp ứng khi đươc ̣ goịtên .
Khiếm khuyết vềchất lương ̣ giao tiếp : phát ra một chuỗi âm thanh khác
thường, không biết chơi giảvờ. Có hành vi bất thường: thích một loại đồ chơi
hoăc ̣ đồvâṭnào đó, thích quay bánh xe , thích đi nhón chân . Các bất thường
câṇ lâm sàng như : nồng đô ̣canxi trong máu giảm (56,8%), điêṇ naõ đồcó
sóng bất thường (55,7%) [9].
Tác giả Hoàng Thi Ý Nhi taịbênḥ viêṇ điều dưỡng – phục hồi chức năng
Thừa Thiên Huếđa b̃ ước đầu đánh giáthưc ̣ trang ̣ bênḥ nhi tư ̣kỷđiều tri ̣ tại
bệnh viện điều d ưỡng – phục hồi chức năng Thừa Thiên Huế năm 2008 –
2010. Theo kết quảnghiên cứu thic̀ ómôṭsốđăc ̣ điểm chung như : nhóm bệnh
13
chức năng cho trẻtư ̣kỷđa ̃đưa ra kết luâṇ : M-CHAT 23 là bộ công cụ có giá
14
trị trong sàng lọc phát hiện sớm tự kỷ có độ nhậy là
74,4% và độ đặc hiệu
99.9%, xác địch được tỷ lệ hiện mắc tự kỷ tại Thái Bình là 0,46% [10].
Tác giả Nguyêñ Thi Thanḥ (2014) tiến hành nghiên cứu về biêṇ pháp
phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
thấy tre tư k ̣ y la nhưng tre châṃ trễ trong ngôn ngư noi hoăc ̣ ngôn ngư noi
̃̉
khác thường ; giao tiếp va tương tac kem , có những hành v i râp ̣ khuôn , đinḥ
̃̉ ̀
̃̀
hình, khả năng tư duy trưu tương ̣ kem
̃̀
nhau nhưng cómôṭđăc ̣ điểm chung làkhókhăn vềgiao tiếp . Đồng thời, bằng
kết qua thưc ̣ nghiêṃ
̃̉
cưu va đềxuất trong luâṇ an la môṭhếthống liên hoan
̃́
̃̀
Năm 2011, Trung tâm nghiên cứu Giáo duc ̣ vàChăm sóc trẻem đa ̃cho
xuất ban bô s ̣ ach danh cho cac đối tương ̣ khac nhau như : Nhưng điều cần biết
̃̉
vềhôịchưng tư ̣ky
̃́
dục trẻ mắc hội chứng tự kỷ
chuẩn đoan đanh gia vềhôịchưng tư ̣ky
̃́
hướng đến các đối tương ̣ khác nhau, vai tròkhác nhau nhưng cùng chung muc ̣
đich́ làcósư ̣ nhiền nhâṇ, hiểu biết đúng đắn vềtrẻtư ̣ kỷ. Từ đó, có thể hỗ trợ
môṭcách tốt nhất vàtoàn diêṇ các măṭphát triển của trẻ.
Năm 2014, Phạm Toàn và Lâm Hiến Minh đã xuấn bản cuốn sách
“Thấu hiểu và hô ̃trơ t ̣ rẻtư ̣kỷ”, đem đến những thông tin hữu ich́ cho các bâc ̣
cha mẹ, các giáo viên và người đang chăm sóc trẻ tự kỷ , mà còn với các bác
sỹ, chuyên viên tâm lýđang từng ngày đồng hành vàmang đến sư ̣tiến bô ̣cho
các trẻ [29].
1.1.2. Những nghiên cứu vềphương thức can thiêp ̣ cho trẻ tự ky
1.1.2.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Phương thức can thiệp bao gồm việc sử dụng các phương pháp và cách
thức điều trị, can thiệp cho trẻ tự kỷ. Hiện nay, trên thế giới, nhiều phương pháp
điều trị, giáo dục và can thiệp đối với trẻ tự kỷ đã được xây dựng và ứng dụng.
Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu để có thể đưa ra được
những phương pháp điều trị cho trẻ tự kỷ như phân tích hành vi ứng dụng
(ABA), thời gian chơi dưới sàn (Floortime), hệ thống giao tiếp thông qua trao
đổi hình ảnh (PECs), can thiệp phát triển quan hệ xã hội (RDI), Điều trị và
giáo dục cho trẻ tự kỷ và các khuyết tật về giao tiếp (TEACCH), âm ngữ trị
thiện về nhận thức, hành vi và giao tiếp là những kết quả thu được trong quá
trình thực nghiệm ở tất cả các trẻ. Điều qua trọng mà phương pháp TEACCH
hướng đến là sự độc lập trong hoạt động cho trẻ tự kỷ và những kỹ năng thích
ứng giúp cho các em hòa nhập với môi trường học tập và cuộc sống xung
quanh. Giáo viên và phụ huynh tham gia vào quá trình thử nghiệm đều khẳng
định rằng TEACCH không phải là một phương pháp khó sử dụng [2].
17
Với phương pháp PECS – hệ thống giao tiếp thông qua trao đổi hình ảnh
cũng được nghiên cứu và đưa vào sử dụng tại Khoa tâm bênh – Bệnh viện Nhi
trung ương. Kết quả thực tế đã chỉ ra rằng: sau 6 tháng dạy trẻ tự kỷ bằng
phương pháp PECS thì trẻ tiến bộ rõ ở các lĩnh vực chú ý chung, giao tiếp
mắt, tăng hiểu lời, phát âm từ và cử chỉ điệu bộ nhiền hơn, tuy nhiên hành vi
tăng động chưa cải thiện rõ. Yếu tố góp phần vào tiến triển tốt lên ở trử là
91,1% phụ huynh đã hiểu đúng về phương pháp và 84,4% đã thấy được lợi
ích của PECS nên đã tích cực dạy trẻ theo phương pháp này. Nhiều phụ huynh
còn thiếu về thời gian dạy trẻ và khó khăn về phương pháp dạy con
[18].
Ngoài ra, còn rất nhiều các phương pháp khác vẫn được mọi
người sử
dụng: như bấm huyệt, truyền năng lượng, cúng bái…
Nhìn chung, có rất nhiều phương pháp điều trị, giáo dục, can thiệp cho
trẻ tự kỷ ở trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhưng chúng ta có
thể phân thành những nhóm cụ thể như sau: nhóm các phương pháp y – sinh
học; nhóm điều trị phân tâm; nhóm can thiệp giáo dục. Trong đó, can thiệp
giáo dục bao gồm can thiệp hành vi, can thiệp phát triển, can thiệp dựa trên trị
liệu, can thiệp tích hợp và can thiệp thông qua hỗ trợ gia đình. Đây được xem
là hướng can thiệp hiệu quả nhất [28].
điều trị có sẵn để sử dụng cho con của họ. Do thiếu các thông tin sẵn có liên
quan đến hiệu quả điều trị, câu trả lời có thể có khả năng là xuất phát từ niềm
tin của cha mẹ về sự phát triển trẻ, những lý giải về các triệu chứng của ASD,
và kinh nghiệm của họ với việc ra các quyết định điều trị chịu ảnh hưởng bởi
hệ thống y tế. Nghiên cứu này của Mandell, D. S., & Novak, M. (2005) đã
xem xét vấn đề này đặt trong bối cảnh ảnh hưởng của văn hóa [44].
Nghiên cứu cho thấy nhiều triệu chứng, niềm tin của các gia đình về
các nguyên nhân và tiên lượng của bệnh tự kỷ có thể ảnh hưởng đến quyết
định điều trị của họ cho trẻ.
Niềm tin về quá trình diễn biến của chứng tự kỷ cũng có thể ảnh hưởng
đến quyết định điều trị. Ví dụ, các gia đình tin rằng tự kỷ là một tình trạng có
thể chữa được có thể làm theo một phác đồ điều trị được thiết kế để chữa trị
19
các rối loạn. Nếu triệu chứng không được cải thiện tốt hơn, họ có thể trở nên
thất vọng và chuyển đổi hoặc thêm phương pháp điều trị [44].
Ngoài ra, nghiên cứu của Hall (2011) cho rằng: nhiều bậc cha mẹ lựa
chọn để điều trị con của họ bị rối loạn phổ tự kỷ (ASD) với phương pháp điều
trị bổ sung và thay thế. Phương pháp điều trị bổ sung và thay thế như: chế độ
ăn kiêng Gluten và Casein, ô - xi cao áp, thực phẩm chức năng, bổ sung
vitamin B6, B12, ma-giê, giải đôc thủy ngân, liệu pháp âm nhạc, v.v. Trong
nghiên cứu này, các yếu tố góp phần vào quyết định của cha mẹ để điều trị
cho con của họ với phương pháp điều trị bổ sung hoặc thay thế đã được kiểm
tra thông qua việc sử dụng của một cuộc khảo sát trực tuyến. Thông tin liên
quan về tác động của các đặc điểm của cha mẹ, các triệu chứng về hành vi của
trẻ, đặc điểm của phương pháp điều trị bổ sung và thay thế cụ thể được phân
tích. Kết quả cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa mức độ nghiêm
trọng của các triệu chứng với việc có phương pháp điều trị đã thử trong quá
và tâm trạng về xã hội của họ. Trong đó, tâm trạng về gia đình có xu hướng
tích cực, tâm trạng về bản thân và tâm trạng về xã hội có xu hướng tiêu cực.
Khi khảo sát sự tương quan giữa các yếu tố kinh tế, địa vị xã hội và mối quan
hệ trong gia đình đến tâm trạng của cha mẹ có con tự kỷ thì yếu tố kinh tế (thu
nhập) có ảnh hưởng tương đối mạnh [22].
Một nghiên cứu khác về sự thích ứng của cha mẹ có con tự kỷ cho thấy
phần lớn sự thích ứng với hoàn cảnh có con tự kỷ của cha mẹ Hà Nội là trung
bình. Có cha mẹ khó thích ứng và có một sô thì thích ứng tốt với hoàn cảnh có
con tự kỷ. Trong đó, quá trình thích ứng của cha mẹ ở mặt thái độ - cảm xúc
cũng mang tích cực và ở mức trung bình. Còn quá trình thích ứng về mặt hành
vi bao gồm gây khó khăn cho các cha mẹ, thì lại có sự thích ứng thấp. Các
yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thích ứng với hoàn cảnh có con tư kỷ rất đa
dạng như học vấn, khả năng chịu áp lực, sự hy vọng và mong đợi về đứa con,
giới tính của trẻ, tuổi tác [8].
Hiện nay các đề tài nghiên cứu liên quan đến tự kỷ khá nhiều, có sự đầu tư
và mang tính ứng dụng, bởi vì đây là đề tài mới mẻ đối với chúng ta. Tuy nhiên
những nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng bên trong/bên ngoài có tác
động đến cha mẹ có con tự kỷ thì đang rất hạn chế và gần như chưa có.
1.2. Một số vấn đề lý luận tự kỷ/ rối loạn phổ tự kỷ
21
1.2.1. Khái niệm
Thuâṭngư “Autism” bắt nguồn tư chư Hi Lap ̣
̃̃
cái tôi . Khi đươc ̣ dicḥ sang Tiếng Viêṭ ,
thuâṇ ngư như: Tư ̣ky, tư ̣toa hay tư ̣bế. Sau đo
Năm 1964, Benrnard Rimland va môṭsốnha
kỷ là do những thay đổi của cấu trúc lưới trong bán cầu não trái, hoăc ̣ do những
thay đổi vềsinh hóa vàchuyển hóa những đối tương ̣ na.̀yDo đó, những trẻtư ̣kỷ
không cókhảnăng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân ;
không giao tiếp đươc ̣ vithiếù khảnăng khái quát hóanhững điều cu ̣thể[26].
Năm 1996, từ điển bách khoa Columbia cho rằng : Tư ̣kỷlàmôṭkhuyết
tâṭphát triển cónguyên nhân từ những rối loaṇ thần kinh ảnh hưởng đến chức
năng cơ bản của naõ bô ̣. Tư ̣kỷđươc ̣ xác đinḥ b ởi sư ̣phát triển không binh̀
thường vềkỹnăng giao tiếp, kỹ năng tương tác xã hội và suy luận. Nam nhiều
gấp 4 lần nữ. Trẻ có thể phát triển bình thường cho đến tâṇ 30 tháng tuổi [26].
Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về tự kỷ của Mỹ , các chuyên gia cho
rằng: “Tư ̣ky la môṭbênḥ ly đi kem vơi tổn thương chưc năng cua nao
̃̉ ̀
22
[13].
Tư ̣kỷlàmôṭdang ̣ rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển diện rộng , ảnh hưởng
đến nhiều măṭcủa sư ̣phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao
tiếp vàquan hê ̣xa h̃ ôị.
Năm 2008, Liên hiêp ̣ quốc đưa ra khái niêṃ “Tư ̣kỷlà môṭ dang ̣ khuyết
tâṭ phát triển tồn taị suốt cuôc ̣ đời , thường xuất hiêṇ trong 3 năm đầu đời. Tư ̣
kỷ là do rối loạn thần kinh , gây ảnh hưởng đến chức năng hoaṭ đông ̣ của não
bô. ̣ Tư ̣ky co thểxay ra ơ bất cư ca nhân nao không phân biêṭgiơi tinh, chủng
̀̉
̀́
này có thể xảy ra cho bất kỳ một đứa trẻ nào
hôị hay trinh đô ̣phat triển cua cha me” ̣ [14].
̀̀
Như vâỵ, mỗi goc đô ̣nghiên cưu khac nha
vềtư ̣ky.̉ Trong phaṃ vi nghiên cứu của đềtài này, chúng tôi lưạ choṇ khái niêṃ
của DSM -5 của Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological
23