THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO CÁC NƯỚC ASEAN TRONG THỜI GIAN QUA - Pdf 69

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA NHẬT BẢN VÀO CÁC NƯỚC
ASEAN TRONG THỜI GIAN QUA.

I.Thực trạng đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN trong
thời gian qua.
Lợi ích kinh tế của Nhật Bản ở khu vực Đông Nam á luôn gắn chặt với
các khoản đầu tư của Nhật Bản đối với khu vực này. Do vậy, ngay từ những
năm 50, cùng với việc thực hiện “chính sách ngoại giao kinh tế”, Nhật Bản đã
tiến hành đầu tư vào khu vực Đông Nam á. Tuy nhiên sự nguy kỵ của các nước
trong khu vực Đông Nam á đối với Nhật Bản thời gian này cùng với hạn chế về
năng lực tài chính khi đó và nhu cầu đầu tư bên trong đang gia tăng mạnh mẽ
đã hạn chế đầu tư của Nhật Bản đổ vào đây. Phải đến đầu thập kỷ 70, FDI của
Nhật Bản vào khu vực Đông Nam á mới bắt đầu gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt
trong giai đoạn sau năm 1985 đã được coi là “ giai đoạn bùng nổ đầu tư của
Nhật Bản vào ASEAN”.
Bước sang thập kỷ 90, tình hình khu vực có nhiều biến đổi đã tác động
mạnh mẽ tới dòng FDI của Nhật Bản vào ASEAN. Sau đây sẽ đi sâu vào nghiên
cứu tìm hiểu sự biến động của FDI của Nhật Bản vào ASEAN.
1. Số lượng vốn đầu tư:
Trên thực tế nửa đầu thập kỷ 90, khối lượng đầu tư trực tiếp của Nhật
Bản vào các nước ASEAN tiếp tục có sự gia tăng mạnh mẽ (bảng 4 và dồ thị
1).Từ năm 1990 đến năm 1993 FDI của Nhật Bản vào các nước này tăng từ
7,8% đến 11,33%. Đến năm 1994, tổng số vốn đầu tư này đã lên tới 5,13 tỷ
USD. con số này tương đương với 12,5% tổng đầu tư ra nước ngoài của Nhật
Bản và 54% đầu tư trực tiếp của Nhật Bản tại châu á. Có tình trạng này là do
sau thoả thuận Plaza, đồng yên lên giá mạnh so với đồng đô la Mỹ và các đồng
tiền ASEAN, dẫn đến các sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài một mặt bị mất
tính cạnh tranh trên thị trường, mặt khác vì đã được tính bằng đô la nên tiền
thu về khi đổi sang đồng yên bị giảm đi rất nhiều gaay ảnh hưởng nghiêm
trọng đến kinh doanh của các công ty trong nước, đặc biệt là các công ty vừa
và nhỏ. Điều này làm gia tăng xu hướng chuyển dịch các cơ sở sản xuất sang

Nước
1990 1991 1992 1993 1994 1995
Inđônêxia
1.105 1.193 1.676 813 1.759 1.596
Singapo
840 613 670 644 1.054 1.152
Malaixia
725 880 704 800 742 573
Philippin
258 203 160 207 668 718
Thái Lan
1.154 807 657 578 719 1.224
Nguồn: “ Báo cáo về đầu tư trực tiếp nước ngoài”, Bộ tài chính Nhật Bản
Nếu như trong năm 1990 FDI của Nhật Bản ở Inđônêxia là 1.105 triệu USD
thì đến năm 1992 đã tăng lên 1.676 triệu USD, chiếm 4,9% tổng FDI của Nhật
Bản trên toàn thế giới. Ở Thái Lan FDI của Nhật Bản có chiều hướng giảm, từ
1154 triệu USD năm 1990 xuống 658 triệu USD năm 1992. Mặc dù vậy, đây
vẫn là địa chỉ có khối lượng FDI của Nhật Bản lớn nhất trong khu vực. Còn ở
Malaixia và Singapo lượng FDI của Nhật Bản có tăng lên nhưng tốc độ tăng từ
từ. Nước có FDI của Nhật Bản thấp nhất trong các nước ASEAN là Philippin.
Sang nửa sau thập kỷ 90, khi ASEAN hoàn thành ý tưởng về một tổ chức
ASEAN 10 với việc kết nạp thêm các nước Đông Nam á còn lại cơ cấu FDI của
Nhật Bản vào ASEAN lại có sự thay đổi, dần dần mở rộng sang các nước thành
viên mới, đặc biệt là Việt Nam.
Bảng 6: FDI của Nhật Bản vào ASEAN nửa sau thập kỷ 90
Đơn vị: 100 triệu yên
Năm
Nước
1996 1997 1998 1999
Số dự

Những năm tiệp đó khối lượng đầu tư tăng dần. Đến năm 1995 Nhật Bản đã
trở thành nhà đầu tư lớn thứ 3 ở Việt Nam ( sau Đài Loan và Hồng Kông) với
109 dự án đầu tư của hầu hết các tổ hợp công nghiệp hàng đầu Nhật Bản và
tổng số vốn lên tới 1,598 tỷ USD. Từ năm 1996trở lại đây, mặc dù FDI của
Nhật Bản vào Việt Nam có sự giảm sút nhưng đây vẫn là một trong những địa
điểm được các nhà đầu tư Nhật Bản coi trọng. Các nước thành viên khác như
Myanma và Brunei cũng bắt đầu nhận được FDI của Nhật Bản nhưng số
lượng còn rất ít. Riêng Lào và Campuchia do là hai thị trường nhỏ, dân số ít và
sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa (thêm vào đó Campuchia còn có bất ổn về
chính trị ) nên FDI cảu Nhật Bản vào đây vô cùng nhỏ. Ở Campuchia, khoản
đầu tư đầu tiên của Nhật Bản vào đây là công ty buôn bán gỗ Okada . Co. Công
ty này đã thành lập tại Phnômpênh một xí nghiệp sản xuất ván sàn từ gỗ
thông với số vốn là 5,5 triệu USD. Còn ở Lào, đã có 5 công ty thiết lập văn
phòng tại Viêng Chăn nhưng chỉ hoạt động như cơ quan của chương trình
viện trợ.
Tuy nhiên, trong thời gian sau này nhìn chung FDI của Nhật Bản bắt đầu
giảm mạnh. Điều này thể hiện rõ nhất trong hai năm 1997 và 1998 (bảng 7)
Bảng 7: Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN giảm mạnh
trong hai năm 1997 và 1998
Đơn vị: 100 triệu yên
Năm
Nước
1997 1998 % thay đổi
Thái Lan 2291 1755 -30,5
Malaixia 971 658 -32,2
Inđônêxia 3085 1378 -55,3
Philippin 642 485 -24,5
Singapo 2238 815 -63,5
Nguồn: ASEAN FDI Database: Data compiled from Ministry of Finland, Japan
Trích: Statistics of foreign direct investment in ASEAN (Enhanced data set);

rất thấp so với thời kỳ 1995 – 1996.Đầu tư của Nhật Bản dần được phục hồi,
tuy nhiên, mức độ phục hồi còn châm và không đồng đều giữa các nước. Có
nước thì FDI của Nhật Bản tăng hơn so với năm trước nhưng có nước thì FDI
lại giảm đi so với năm trưóc. Điều này được thể hiện trong bảng dưới đây:
Bảng 8: FDI của Nhật Bản đang dần được phục hồi
Đơn vị:100 triệu yên
Năm
Nước
1999 2000
Thái Lan 910 1029
Malaixia 586 256
Inđônêxia 1024 457
Philippin 688 506
Singapo 1073 468
Nguồn: ( Như bảng 7)
Nhìn vào bảng 8 ta thấy FDI của Nhật Bản dần được phục hồi ở một số
nước, điều này được thấy ró nhất ở Singapo. Năm 1999 FDI của Nhật Bản vào
nước này là 107,3 tỷ yên trong khi đó năm 1998 FDI của Nhật Bản ở nước này
là 81,5 tỷ yên vậy mức tăng tương đối trong năm 1999 so với năm 1998 là
31,6%. Năm 1999 FDI của Nhật Bản ở Philippin cũng tăng đạt giá trị là 68,8 tỷ
yên tăng hơn so với năm 1998 là 44,3% trong khi đó năm 1998 là 48,5 tỷ yên.
Nhìn chung FDI trong năm này vẫn giảm ở các nước khác, nhưng tốc độ giảm
là không mạnh lắm.Tuy nhiên, đến năm 2000 chỉ có Thái Lan là thu hút được
nhiều FDI của Nhật Bản và tăng so với năm trước còn các nước khác FDI của
Nhật Bản lại giảm mạnh. Năm 2000 FDI của Nhật Bản tại Thái Lan là 102,9 tỷ
yên so với năm 1999 tăng khoảng 13,1%, năm 1999 FDI của Nhật Bản tại Thái
Lan là 91 tỷ yên. Đặc biệt trong năm 2000 FDI của Nhật Bản tại các nước
Singapo, Malaixia và Inđônêxia giảm rất mạnh. Ở Singapo năm 2000 FDI của
Nhật Bản giảm khoảng 56,4% so với năm 1999, Malaixia giảm khoảng 56,3%
còn ở Inđônêxia giảm khoảng 55,4% so với năm 1999. FDI của Nhật Bản dần

(%)
1995 ASEAN 10,3 16,0 75,0
Thế giới 89,7 84,0 36,7
1997 ASEAN 14 22,0 67,5
Thế giới 86 88,0 35,8
1998 ASEAN 9,7 17,7 54,0
Thế giới 92,3 92,3 30,0
1999 ASEAN 5,8 5,70 60,9
Thế giới 94,2 94,3 63,4
Nguồn: được trích ra từ Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 5 (2001)
Biểu đồ 2: Cơ cấu FDI vào ngành chế tạo trong tổng số vốn của Nhật Bản tại
các nước ASEAN
Đơn vị: (%)
Nguồn: (Số liệu được lấy từ bảng 9)
Đầu tư của Nhật Bản vào ngành chế tạo ở các nước ASEAN ngày một
gia tăng theo các năm. Năm 1995 FDI của Nhật Bản vào các nước ASEAN
chiếm 10,3% trong tổng số FDI của Nhật Bản trên thế giới thì đầu tư vào
ngành chế tạo của Nhật Bản ở các nước ASEAN chiếm 16% toàn thế giới là
84%, và số vốn đầu tư của Nhật Bản vào các nước ASEAN vào ngành chế tạo
chiếm 75% trong tổng số vốn mà Nhật Bản đầu tư vào các nước ASEAN, năm
1997 số vốn đầu tư của Nhật Bản vào các nước ASEAN chiếm 14% trong tổng
vốn đầu tư của Nhật Bản trên toàn thế giới và ngành chế tạo chiếm 22% trên
toàn thế giới, trong khi đó ngành chế tạo ở các nước ASEAN được Nhật Bản
đầu tư vào chiếm 67,5% trong tổng số vốn mà Nhật Bản đầu tư vào ASEAN và
thế giới là 35,8%. Năm 1999 FDI của Nhật Bản vào ngành chế tạo ở các nước
ASEAN chiếm 60,9 trong tổng số vốn Nhật Bản đầu tư vào các nước ASEAN.
Những con số này cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ bình quân FDI của Nhật Bản
vào lĩnh vực chế tạo tại các khu vực khác trên thế giới.
Chế tạo là một lĩnh vực đòi hỏi phải sử dụng nhiều lao động. Còn các
nước ASEAN lại có nguồn lao động dồi dào. Bên cạnh đó, giá nhân công bình

án
Trị giá dự
án
Trị
giá
Thực
phẩm và
đồ uống
37 100 32 160 17 37 27 49 18 104 11 58
Dệt
may
80 374 85 186 51 121 39 62 49 158 61 213
Gỗ và bột
giấy
45 105 19 42 18 50 12 43 14 48 7 32
Hoá
chất
52 654 32 638 35 112
5
17 109 31 797 37 397
Luyện kim 56 206 44 275 46 252 29 159 30 262 64 530
Máy
móc
34 237 34 194 17 153 27 190 12 215 37 222
Điện
tử
86 940 68 899 49 372 40 435 60 680 108 1185
Phương
tiện vận
tải

hoá chất. Năm 1992 trong khi FDI vào ngành điện tử giảm xuống chỉ còn 37,2
tỷ yên, thì ngành hoá chất được Nhật Bản đầu tư nhiều nhất với 35 dự án đạt
số vốn là 112,5 tỷ yên chiếm khoảng 44,8% trong tổng vốn đầu tư của Nhật
Bản vào ngành hoá chất. Trong khi đó, ngành điện tử chiếm khoảng 14,8%.
Tuy nhiên, ngành hoá chất lại ít được Nhật Bản quan tâm đầu tư trong những
năm tiếp theo, năm 1993 Nhật Bản đầu tư vào ngành này với 17 dự án đạt số
vốn là 29 tỷ yên chiếm khoảng 15,2% trong tổng số vốn FDI voà ngành chế tạo.
Những ngành được Nhật Bản quan tâm đầu tư tiêp theo là ngành luyện kim,
chế tạo máy móc, thiết bị vận tải, dệt may. Năm 1990, ngành dệt may đầu tưạ
số vốn đầu tư là 37,4 tỷ yên chiếm khoảng 11,1% tổng số vốn đầu tư của Nhật
Bản vào ngành chế tạo, ngành luyện kim chiếm khoảng 6,1% trong tổng vốn
đầu tư vào ngành chế tạo, ngành thiết bị vận tải chiếm khoảng 13,9% trong
tổng vốn đầu tư vào ngành chế tạo.
Tóm lại, trong giai đoạn 1990 – 1995 FDI của Nhật Bản đầu tư vào ngành
chế tạo chủ yếu là ngành điện tử và ngành hoá chất.Trong đó, Nhật Bản đầu
tư vào công nghiệp điện tử chủ yếu để giải quyết vấn đề xung đột thương mại
với Bắc Mỹ và Tây Âu. Những dự án đầu tư vào ngành sản xuất thiết bị vận tải
chủ yếu nhằm chiếm lĩnh thị trường ASEAN, mặt khác đó còn là một bộ phận
của chiến lược “ Hợp lý hoá quá trình sản xuất và thương mại xuyên biên giới”,
nhằm tạo lập mối liên minh kinh tế với các đói tác mới.
Đối với hai ngành hoá chất và luyện kim, Nhật Bản đầu tư vào ASEAN
nhằm bù đắp cho sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên của nền kinh tế trong
nước. Mặt khác, đây là những ngành công nghiệp có khả năng gây ô nhiễm
môi trường với mức độ cao nhất, việc phát triển chúng ở trong nước bị kiểm
soát ngặt nghèo, do đó việc xử lý chất thải sẽ làm tăng chi phí sản xuất mà vẫn
không thẻ tránh khỏi những tổn hại về môi sinh.
Trong giai đoạn 1996 – 2000 FDI của Nhật Bản vào ngành chế tạo có sự
biến đổ rất lớn, chúng ta có thể thấy điều này qua bảng sau:
Bảng 10b: Đầu tư của Nhật Bản vào ngành chế tạo ở các nước ASEAN
giai đoạn 1996 - 2000

giấy
25 209 14 123 3 161 9 26 3 20
Hoá
chất
34 797 56 1020 35 452 28 492 13 267
Luyện
kim
85 806 62 576 13 472 22 406 22 245
Máy
móc
33 214 28 251 14 142 22 290 8 80
Điện
tử
90 1081 58 1404 48 526 46 704 52 715
Thiết bị
vận tải
62 468 50 793 33 621 30 335 10 387
Ngành
khác
62 529 67 1150 16 207 13 235 13 156
Tổng 44
5
4337 38
3
5578 17
2
2804 186 2791 130 1976
Nguồn: (như bảng 10a)
Năm 1996 và năm 1997 FDI của Nhật Bản vào ngành điện tử vẫn đạt giá
trị cao. Năm 1996 FDI vào ngành điện tử với số vốn là 108,1 tỷ yên chiếm

những ngành đó bởi vì đay là những ngành thế mạnh của các nước ASEAN.
Như chúng ta đã biết Nhật Bản đầu tư vào ASEAN chủ yếu là vào hai ngành
chế tạo và phi chế tạo, nhưng trong hai ngành này thì ngành chế tạo lại chiếm
ưu thế. Bảng sau sẽ minh hoạ điều này.
Bảng11: Cơ cấu đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN theo ngành
Đơn vị: 100 triệu yên
Ngành 1996 1997 1998 1999 2000
dự
án
giá
trị
dự
án
giá
trị
dự
án
giá
trị
dự
án
giá
trị
dự
án
giá
trị
Chế
tạo 445 433
7

Nguồn: Vụ quản lý dự án, Bộ kế hoạch và Đầu tư
Biểu đồ 3a: Cơ cấu FDI của Nhật Bản tại các nước ASEAN
Năm 1996
(Số liệu được tính từ bảng11)
Năm 1996, Nhật Bản đầu tư vào ngành chế tạo 445 dự án với số vốn là
433,7 tỷ yên chiếm khoảng 60,2% trong tổng số vốn mà Nhật Bản đầu tư vào
các nước ASEAN, ngành phi chế tạo là 224 dự án với số vốn là 265,5 tỷ yên
chiếm khoảng 36,8% trong tổng số vốn đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN, và
chỉ còn khoảng 3% đầu tư vào các ngành khác.
Biểu đồ 3b: Cơ cấu FDI tại các nước ASEAN
Năm 1997
(Số liệu được tính từ bảng 11)
Qua phân tích như trên ta thấy FDI của Nhật Bản vào ngành chế tạo lớn
hơn rất nhiều so với ngành phi chế tạo. Năm 1997 FDI vào ngành phi chế tạo
là 389,7 tỷ yên với 228 dự án chiếm khoảng 40,5% trong tổng số vốn đầu tư
của Nhật Bản vào ASEAN, trong khi đó Nhật Bản đầu tư vào ngành chế tạo là
557,8 tỷ yên với 383 dự án chiếm khoảng 58% trong tổng vốn đầu tư của Nhật
Bản vào ASEAN và chỉ còn 1,5% là vào các ngành khác.
Biểu đồ 3c: Cơ cấu FDI của Nhật Bản vào các nước ASEAN
Năm 1998 (Số liệu được tính từ bảng 11)
Đến năm 1998 FDI của Nhật Bản vào cả hai ngành phi chế tạo và ngành
chế tạo đều giảm. Tuy nhiên, ngành chế tạo vẫn có số vốn lớn hơn hết, trong
năm này số vốn đầu tư vào ngành chế tạo là 280,4 tỷ yên với 172 dự án chiếm
khoảng 54,4% trong tổng số vốn đầu tư của Nhật Bản vào ASEAN, trong khi đó
ngành phi chế tạo chiếm khoảng 43,6% trong tổng số vốn đầu tư của Nhật
Bản vào ASEAN.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status