MỤC LỤC
Lời nói đầu
Chương I: Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
2
I- Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
2
1- Khái niệm
2
2- Đặc điểm của FDI
4
3- Ưu nhược điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
7
II- Các hình thức và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài
12
1- Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài
12
2- Xu hướng vận độn của đầu tư trực tiếp nước ngoài
13
III- Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI
21
1- Sự ổn định về Kinh tế chính trị xã hội và luật pháp đầu tư
22
2- Sự mềm dẻo, hấp dẫn của các hệ thống chính sách khuyến khích đầu tư trực
tiếp nước ngoài
23
3- Sự phát triển của cơ sở hạ tầng
25
Luận Văn Tốt Nghiệp
4- Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học công nghệ và hệ
thống doanh nghiệp trong nước trên địa bàn
25
55
5- Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Thái Lan
.....................................................................................................................................
58
III- Đánh giá quá trình đầu tư của Nhật Bản vào các nước ASEAN và một số
bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
.....................................................................................................................................
59
1- Đánh giá quá trình đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào các nước ASEAN
.....................................................................................................................................
53
2- Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
.....................................................................................................................................
63
Chương III: Triển vọng và một số giải pháp thu hút FDI của Nhật Bản vào
Việt Nam
.................................................................................................................................
68
I- Triển vọng của đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam
.....................................................................................................................................
68
II- Một số giải pháp nhằm thu hút FDI của Nhật Bản vào Việt Nam
.....................................................................................................................................
74
1- Về phía Chính phủ
.....................................................................................................................................
75
2- Phía doanh nghiệp
.....................................................................................................................................
84
Qua đây, em muốn bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo Th.s
Bùi Huy Nhượng, cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Kinh tế & Kinh
doanh quốc tế, toàn thể cán bộ nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu Nhật
Bản đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này.
Sinh viên
Lê Văn Hinh
Luận Văn Tốt Nghiệp
Luận Văn Tốt Nghiệp
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
I. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
1. Khái niệm
Đầu tư : Đầu tư nói chung là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để
tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu được các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó . Nguồn lực
đó có thể là vốn , tàI nguyên thiên nhiên , sức lao động ,trí tuệ… Các kết quả
thu đực có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính ( tiền vốn) , tài sản vật chất
( nhà máy , đường xá… ) , tài sản trí tuệ ( trình độ văn hoá , chuyên môn,
khoa học kỹ thuật …) và nguồn nhân lực có đủ điều để làm việc có năng suất
trong nền sản xuất xã hội. Trên giác độ nền kinh tế, đầy tư là sự hy sinh giá trị
hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế. Các hoạt động
mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân, tổ chức
không phải là đầu tư đối với nền kinh tế. Thực chất của vấn đề này là như thế
nào? chúng ta cùng xem xét một số tình huống sau: Một công ty bỏ ra 10
triệu USD để xây dựng thêm một phân xưởng sản xuất mới. Một sinh viên bỏ
ra 10 triệu VND để học tiếp cao học, một nhân viên bỏ ra 2000 USD để mua
cổ phần của một công ty, một công nhân bỏ ra 10 triệu VND. Tất cả các hoạt
động bỏ tiền trên đây đều nhằm mục đích chung là thu được một lợi ích nào
đó trong tương lai về tài chính, cơ sở vật chất, trí tuệ…, lớn hơn các chi phí bỏ
ra. Vì vậy nếu xem trên giác độ từng cá nhân hoặc đơn vị đã bỏ tiền ra thì các
ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần cơ sở đó. Đây là hình thức
đầu tư mà chủ sở hữu đầu tư nước ngoài đóng góp một phần vốn đủ lớn vào
lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành
đối trọng mà họ bỏ vốn ra. Trên thực tế, phần lớn FDI được thực hiện dưới
dạng thành lập cáccông ty con hoặc công ty liên doanh trực thuộc các công ty
đa quốc gia và nhà đầu tư là những tổ chức chóp bu của các công ty nay. Một
điều đáng lưu ý là ngày nay, FDI còn được thực hiện bởi các công ty vừa và
Luận Văn Tốt Nghiệp
nhỏ, tuy nhiên các công ty đa quốc gia vẫn giữ vai trò chủ đạo trong quá trình
này. Do đó FDI có thể được định nghĩa là sự mở rộng phạm vi hoạt động sản
xuất kinh doanh của các công ty đa quốc gia trên phạm vi quốc tế. Sự mở rộng
đó bao gồm chuyển giao vốn, công nghệ và các kỹ năng sanư xuất, bí quyết
quản lý… tới nước tiếp nhận đầu tư để thực hiện quá trình sản xuất kinh do-
anh theo kế hoạch của dự án đầu tư.
2. Đặc điểm của FDI
Hiện nay xét về bản chất, FDI có những đặc điểm sau:
2.1. FDI trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài
Xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất
lượng trong nền kinh tế thế giới , gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp,
tham gia vào sự phân công lao động theo chiều sâu và tạo thành cơ sở hoạt
động của các công tyãuyên qốc gia và các doanh nghiệp quốc tế.
2.2. FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển
Đầu tư lẫn nhau giữa các nước công nghiệp phát triển tăng mạnh trong vài
thập kỷ lại đây, đặc biệt là nửa cuối những năm 1980 là một trong những đặc
điểm quan trọng nhất của cá quan hệ kinh tế quốc tế kể từ sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai.
Có nhiều lý do giả thích mức độ đầu tư cao giửa các nước công nghiệp phát
triển với nhau, nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất, môi
trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương hợp cao. Môi trường này
hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và môi trường pháp
xuyên quốc gia của Mỹ đã đóng cửa các chi nhánh của mình ở Tây Âu và
Canada trong các ngành dệt,da, sản xuất các đồ dùng và thực phẩm .Các
nguồn vốn thu hồi này được chuyển về Mỹ và sử dụng để cải tạo và hiện
đại hoá các cơ sở sản xuất trong nước.
- Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống khi FDI vào các
ngành dịch vụ tăng lên. Điều này liên quan đến tỷ trọng khu vực dịch vụ
trong GDP của các nước OECD tăng lên và hàm lươngj dịch vụ trong
Luận Văn Tốt Nghiệp
công nghiệp chế tạo cao. Một số lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ
thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí. Tỷ lệ các nguồn
FDI vào dịch vụ tăng rất mạnh từ thập kỷ 80: năm 1985, FDIvào dịch vụ
tại Mỹ chiếm tỷ trọng 44% ( so với 32% năm 1950), vào Nhật Bản là 52%
( so với 20% năm 1965) và cộng hoà Liên bang Đức là47%(so với 10%
năm 1966).
Một vấn đề đáng lưu ý trong phương thức tiến hành FDI trong thời gian gần
đây là vai trò tăng lên của các công ty vừa và nhỏ. Chẳng hạn số dự án FDI
của các công ty vừa và nhỏ của Nhật Bản tăng mạnh từ 318 dự án năm 1985
lên 994 dự án năm 1990, chiếm 58% số dự án ( so với 13% năm 1985). Đa số
các công ty này thuộc mạng lưới các công ty xuyên quốc gia, tiến hành đầu
tư theo yêu cầu của công ty mẹ.
2.4. Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI với ODA, thương mại, và chuyển
giao công nghệ.
FDI và thương mại có liên quan chặt chẽ với nhau. Thông thường,
một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích
tăng tiềm năng xuất khẩu cuả một nước .Mặt khác ,các công ty nước ngoài
được lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Sự thay đổi kết cấu ngành
đầu tư , như phân tích ở trên, đã chứng minh điều này. Ngay cả đối với Nhật
Bản, nước đã từng hướng đầu tư nước ngoài vào những ngành khai thác để
cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp trong nước thì những năm
Đầu tư trực tiếp cho phép các công ty kéo dài chu kỳ sống của sản
phẩm mới được tạo ra. Đầu tư trực tiếp giúp các công ty tạo dựng được thỉ
trường cung cấp nguyên vật liệu dồi dào với giá rẻ.
Đầu tư trực tiếp cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế,
tăng cường ảnh hương của mình trên thị trường thế giới.
Đầu tư trực tiếp làm tăng tổng sản phẩm quốc dân của nước đi đầu tư
,từ các khoản lợi nhuận, tiền bản quyền và các khoản khác do các chi nhánh
Luận Văn Tốt Nghiệp
của các công ty đa quốc gia từ nước ngoài chuyển về. Nhiều trường hợp đầu
tư trực tiếp là phương tiện không những để kích thích sự phát triển kinh
tế ,mà còn để phục vụ cho các mục tiêu khác của nước thực hiện đầu tư.
Đầu tư trực tiếp biến các nước thực hiện đầu tư từ địa vị là nước xuất
khẩu thành địa vị là nước nhập khẩu đối với một số hàng hoá nhất định.
Tuy những ảnh hưởng tiêu cực của dòng FDI ra nước ngoài đối với các chủ
đầu tư là chưa được khảng định một cách chắc chắn, nhưng những ảnh hưởng
tiêu cực đối với việc làm và thu nhập của người lao động trong nước, việc
suy giảm dòng vốn tiết kiệm trong dài hạn, cũng như làm mất đi tính cạnh
tranh của hành hoá sản xuất của các nước đầu tư trên thị trường quốc tế cũng
là những vấn đề cần được xem xét và phân tích hiện nay.
3.2.Đối với nước nhận đầu tư.
a. Ưu điểm:
Đối với các nước tiếp nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển,
FDI là yếu tố quan trọng làm tăng cường vốn đầu tư trong nước trong điều
kiện tỷ lệ tiết kiệm nội địa thấp, thiếu ngoại tệ và quá trình tích luỹ từ nội bộ
nền kinh tế chậm, không đáng kể so với nhu cầu phát triển chung của nền
kinh tế.
Cùng với việc cung cấp vốn thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp, các
công ty đã chuyển giao công nghệ và các tài sản vô hình khác từ nước mình
hoặc các nước khác sang nước tiếp nhận đầu tư. Phần lớn những ảnh hưởng
tích cực của FDI đối với các nước đang phát triển diễn ra thông qua hoạt
xã hội của đất nước có điều kiện để khai thác, điều đó có tác động mạnh
mẽ đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu ngành, cơ cấu công nghệ,
cơ cấu sản phẩm và lao động, cơ cấu lãnh thổ được thay đổi theo chiều
hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của
đất nước, phù hợp với xu thế chung của thời đại , của các nước trong khu
vực.
Luận Văn Tốt Nghiệp
Tiếp nhận đầu tư trực tiếp, nước chủ nhà không phải lo trả nợ, thông
qua hợp tác với chủ đầu tư, nước chủ nhà có điều kiện xâm nhập vào thị
trường thế giới. Các công ty thuộc các nước đang phát triển khó hoặc ít có
cơ hội xâm nhập vào thị trường quốc tế, với sự liên doanh với các công ty
đa quốc gia, các công ty thuộc các nước đang phát triển sẽ vươn tới các thị
trường nước ngoài. Có thể nói đây là cách thức nhanh và có hiệu quả nhất
giúp các công ty đó đến với thị trường nước ngoài và thực hiện kinh
doanh quốc tế.
Nếu đầu tư sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, nước nhận đầu tư có
được hàng hoá cần thiết với giá cả thấp hơn giá nhập từ nước ngoài nhờ
tiết kiệm được chi phí vận chuyển và những lợi thế về lao động, nguồn
nguyên liệu trong nước.
Đầu tư trực tiếp được sử dụng một cách có hiệu quả trong việc phát
triẻn các khu địa lý, khu công nghiệp hoặc ngành công nghiệp cụ thể
thông qua việc xây dựng và giới thiệu dự án gọi đầu tư vói những ưu đãi,
khuyến khích các công ty nước ngoài đầu tư vào các ngành, vùng mà họ
muốn phát triển.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo công ăn việc làm cho nước nhận đầu
tư .Trong thực tế, FDI còn có tác động tích cực đến lĩnh vực giáo dục, đào
tạo tâm lý đội ngũ người lao động của các nước tiếp nhận đầu tư.
b. Nhược điểm:
Việc quản lý vốn đầu tư trực tiếp của nước chủ nhà có nhiều khó khăn
do các chủ đầu tư có kinh nghiệm né tránh sự quản lý của nước chủ nhà.
tế. Sự hoạt động của các công ty này gây ra những thay đổi trong cách
thức kinh doanh, nếp sống, sở thích tiêu dùng… ảnh hưởng tới giá trị tinh
thần của dân cư nước sở tại. Dòng FDI vào các nước đang phát triển có
thể tác động làm giảm tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư nội địa. Tác động này xuất
phát từ quyền lực thị trường của các công ty đa quốc gia và khả năng của
các công ty này trong việc sử dụng quyền lực đó nhằm thu lợi nhuận cao
Luận Văn Tốt Nghiệp
và chuyển ra nước ngoài .Bằng các phương pháp cạnh tranh khác nhau,
các công ty đa quốc gia có thể làm phá sản các doanh nghiệp trong nước
nhằm chiếm lĩnh thị phần của họ.
Dòng FDI vào các nước đang phát triển thường có xu hướng làm
tăng sự phát triển vốn đã không đồng đều giữa các ngành, các vùng và các
khu vực kinh tế, làm tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.
Đầu tư trực tiếp là nguồn vốn quan trọng đối với các nước đang phát
triển, tuy nhiên lượng vốn đổ vào thi trường nước nhận đầu tư chưa chắc
đã lớn hơn lượng vốn đổ ra do việc các công ty đa quốc gia mang các
khoản lợi nhuận ra khỏi nước sở tại. Do đó lợi ích kinh tế do đầu tư nước
ngoài trực tiếp tạo ra cũng là vấn đề cần gây nên nhiều tranh luận.
Hai loại tác động tiêu cực và tích cực luôn song song tồn tại trong
quá trình đầu tư và tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, tuỳ
từng thời điểm, từng điều kiện của các quốc gia mà có thể tác động này
hay tác động khác chiếm ưu thế hơn. Mỗi quốc gia cần phải xác định rõ
các điều kiện của nước mình, từ đó xem xét các tác động nhằm hạn chế
các tiêu cực và để quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước mình
được hiệu quả hơn.
II.Các hình thức và xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước
ngoài.
1. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09 tháng 6 năm 2000
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Luận Văn Tốt Nghiệp
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu
của nhà đầu tư nước ngoài, do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam,
tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
2.Xu hướng vận động của đầu tư trực tiếp nước ngoài .
2.1.Xu hướng tự do hoá đầu tư và sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đầu tư :
Những năm gần đây, hoạt động đầu tư phát triển mạnh mẽ trên thế giới và đã
được tự do háo trên tất cả các mặt. Xu hướng thể hiện trên ba bình diện : quốc
gia ,khu vực và quốc tế. Các quốc gia thì giảm dần những hạn chế về các hình
thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư, luật pháp liên quan tới đầu tư, về vấn đề góp
vốn, chuyển giao công nghệ… đồng thời các chính sách khuyến khích đầu tư
như khuyến khích về thuế quan, nhân công… được ban hành. Bên cạnh đó,
trên thế giới hình thành các khu vực đầu tư, liên minh kinh tế, các hiệp định
đầu tư đa phương và song phương liên tục ra đời, vốn đầu tư được trải rộng
trên toàn thế giới.
Xu hướng tự do hoá đầu tư và quá trình quốc tế hoá đã làm cho lượng
vốn đầu tư gia tăng mạnh mẽ trên toàn thế giới. Số vốn lưu chuyển quốc tế
trong những năm gần đây tăng mạnh khoảng 20-30%/năm. Những năm 70,
vốn đầu tư trực tiếp trên toàn thế giới trung bình hàng năm khoảng 25 tỷ
USD, đến thời kỳ 1980 – 1985, đã tăng lêngấp hai lần, đạt mức khoảng 50 tỷ
USD.Từ năm 1985 – 1990, tỷ lệ gia tăng danh nghĩa của dòng FDI hàng năm
là 34%, vượt xa mức tăng 13% hàng năm của tổng số hàng xuất khẩu trên thế
giới .Số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới năm 1986 là 78 tỷ
USD, năm 1987 là 133 tỷ USD, năm 1988 là 158 tỷ USD, năm 1989 là 195 tỷ
USD và từ năm 1990 đến 1993,số lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
Luận Văn Tốt Nghiệp
toàn thế giới hầu như không tăng lên, chỉ dừng ở mức trên dưới 200 tỷ USD.
Các nước ĐPT 14 25 30 30 32 80 84
Nguồn:World investment report 1995, United Nation. New york.1995
Năm 1985, FDI vào các nước đang phát triển đạt 11,3 tỷUSD thì đến
năm 1990, các dòng vốn đầu tư (gồm đầu tư trực tiếp , gián tiếp ) vào các
nước đang phát triển đã tăng gấp hai lần trong đó đầu tư trực tiếp tăng khoảng
3,5 lần. Tốc độ tăng FDI trung bình hàng năm là 31% và đạt mức 97 tỷ USD
năm 1995, một mức kỷ lục. Hiện tượng dòng vốn FDI chuyển hướng sang
các nước đang phát triển có nthể do các nguyên nhân sau: Thứ nhất: Do suy
giảm lãi suất, lợi nhuận đầu tư trong các nước công nghiệp phát triển làm cho
địa bàn đầu tư bị thu hẹp. Các nhà đầu tư buộc phải tìm đến các địa bàn đầu
tư mới, đó là các nước đang phát triển. Thứ hai: Do xu hướng toàn cầu hoá và
đa dạng hoá trong đầu tư quốc tế. Trên thế giới ngày càng xuất hiệnnhiều vấn
đề mang tính chất toàn cầu, buộc các nước công nghiệp phát triển phải có sự
hợp tác với các nước đang phát triển để cùng nhau giải quyết. Thứ ba: Các
nước đang phát triển thường là các nước có nền khoa học kỹ thuật lạc hậu,
với tốc độ phát triển của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, các nước đang
phát triển là nơi để các nước phát triển chuyển giao các thiết bị cũ, lạc hậu
thông qua việc đầu tư trực tiếp vào các nước này. Như vậy các nước công
nghệp phát triển vừa thay thế được các thiết bị lạc hậu, lại vừa thu được một
phần giá trị còn lại của các thiết bị cũ. Thứ tư: Do chính quá trình phát triển
mạnh mẽ của mình, các nước đang phát triển thu được rất nhiều vốn đầu tư
trực tiếp. Những năm gần đây, nhiều nước đang phát triển đã thu được những
thành tựu lớn về phát triển kinh tế, bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, thực
hiện sự cải cách kinh tế phù hợp, tạo được môi trường đầu tư thuận lợi. Đặc
biệt nhiều nước đang phát triển đã gần gỡ bỏ được cuộc khủng hoảng nợ, một
Luận Văn Tốt Nghiệp
trở ngại lớn trong quan hệ giữa các nước đang phát triển với các nước công
nghiệp phát triển.
Tuy nhiên, sự phân phối FDI giữa các nước đang phát triển lại rất không
đồng đều. Trong những năm 60 và đầu những năm 70, các nước Mỹ La Tinh
cổ phiếu…) ở các nước này đã làm tăng khối lượng vốn đầu tư vào trong
nước. Thứ hai: Việc đồng yên tăng giá đã kích thích Nhật Bản đầu tư ra nước
ngoài nhiều hơn mà Châu á lại là địa bàn quen thuộc của Nhật Bản. Thứ ba:
Các nước trong khu vực có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế nên đã tạo ra
được một lưọng tư bản thừa, do đó các nước trong khu vực có sự đầu tư lẫn
nhau.
Như vậy, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào các nước đang
phát triển tăng lên trong những năm gần đây nhưng chủ yếu chỉ đổ vào các
nước đang phát triển có trình độ phát triển kinh tế tương đối cao. Phải nói
rằng, sự năng động và khả năng tăng trưởng mạnh của nền kinh tế có sự hấp
dẫ đáng kể đối với đầu tư nước ngoài.Vì vậy, muốn tăng cường thu hút đầu tư
nước ngoài, các nước đang phát triển phải tạo ra được sự ổn định chính trị –
xã hội và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và lâu dài. Đặc biệt là
trong giai đoạn hiện nay, trên thế giới đang diễn ra một cuộc cạnh tranh quyết
liệt nhằn lôi kéo đầu tư trực tiếp nước ngoài, việc tạo lập một môi trường đầu
tư thuận lợi là nhân tố cơ bản có yếu tố quyết định đến khả năng thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2.3.Cơ cấu đầu tư có sự thay đổi theo hướng tập trung vào lĩnh vực công
nghiệp chế biến và dịch vụ:
Hiện nay, một cơ cấu kinh tế được coi là hiện đại là cơ cấu kinh tế trong
đó các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ chiếm một tỷ trọng lớn. Đây là
xu hướng có tính phổ biển trên thế giới và xu hướng này đã chi phối toàn bộ
Luận Văn Tốt Nghiệp
hoạt động đầu tư, trong đó đáng kể là hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Vì vậy, mà hầu hết các nước đều tập trung mọi cố gắng để tạo ra những điều
kiện thuận lợi thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển hai ngành
này. Xuất phát từ yêu cầu phát triển một cơ cấu kinh tế hiện đại theo hướng
công nghiệp hoá, Chính phủ của nhiều nước đang phát triển đã dành nhiều ưu
đãi cho những người nước ngoài đầu tư vào hai ngành này điều đó đã tạo ra
sức hấp dẫn mạnh mẽ cho các nhà đầu tư nước ngoài. Xu hướng chung của
hai nên Mỹ có nhiều tiềm năng kinh tế để thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài. Tuy nhiên, tính chất “một cực” này đã hoàn toàn bị thay thế bởi tính
chất “đa cực”. Hiện tượng này xuất hiện do có sự cạnh tranh của Tây Âu,
Nhật Bản và mới đây là sự xuất hiện của NICs đốibvới hoạt động FDI của
Mỹ. Ngày nay, số lượng các đối tác nước ngoài ở mỗi nước không phải có
một hay vài nước mà có rất nhiều các quoóc gia khác nhau cùng đầu tư
vào.Ví dụ ở Việt Nam, tính đến hết năm 1995 đã có trên 700 công ty của 50
nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào, với số vốn lên đến gần 20 tỷ USD .Nguyên
nhân của hiện tượng này là do có sự phát triển nhanh chóng của một loạt
nước công nghiệp mới, các nước này đã và đang rút ngắn dần khoảng cách
với các nước công nghiệp phát triển và do tình hình quan hệ kinh tế quốc tế
có nhiều biến đổi theo hướng các nước trên thế giới ngày càng hơp tác chặt
chẽ với nhau và có thể là chia sẻ rủi ro khi xảy ra.Về mặt lý thuyết, khi các
công ty nội địa của một quốc gia đã tích luỹ đầy đủ các điều kiện về vốn
,công nghệ… thì họ sẽ đầu tư ra nước ngoài. Trong một vài năm trở lại đây
cũmg đã xuất hiện thêm một số chủ đầu tư mới trong khu vực Châu á - Thái
Bình Dương mà nổi bật là các nước mới công nghiệp hoá .Những nước này
đang dần trở thành nhà đầu tư hàng đầu, thay thế dần các nhà đầu tư của các
nước công nghiệp phát triển trước đây trong khu vực. Các quốc gia Singa-