Biện pháp để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong học tập môn Ngữ văn lớp 6,7 ở trường THCS Buôn Trấp - Pdf 69

    
SÁNG KI
ẾN KINH NGHI
ỆM
PHÒNG GIÁO D
ỤC VÀ ĐÀO T
ẠO KRÔNG ANA
Krông Ana, tháng 03/2017
TRƯỜNG THCS BUÔN TRẤP

BIỆN PHÁP ĐỂ PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, CHỦ 
ĐỘNG CỦA HỌC SINH TRONG HỌC TẬP MÔN NGỮ 
VĂN LỚP 6,7 Ở TRƯỜNG  THCS BUÔN TRẤP
BỘ MÔN: NGỮ VĂN
Họ và tên: Nguyễn Thị Hoài Sương
Chức danh: Giáo viên
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm
Môn đào tạo: Ngữ Văn

1


I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1. Lý do chọn đề tài
Ngữ văn là một môn học rất quan trọng trong hệ thống các môn học  ở cấp 
THCS. Mục tiêu của môn Ngữ  văn là sự  cụ thể hóa mục tiêu giáo dục nói chung, 
chú trọng dạy chữ, dạy người và hướng nghiệp. Cụ  thể, môn học Ngữ  văn nhấn  
mạnh ba mục tiêu chính sau: Thứ nhât rang b
́
ị những kiến thức phổ thông, cơ bản,  
hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn  

́ ̉ ̃ ưng vang, dam bay to y kiên, suy nghi cua minh. Do vây, viêc nâng cao
̃
̀
́
̀ ̉ ́ ́
̃ ̉
̀
̣
̣
 
chât l
́ ượng day hoc môn Ng
̣
̣
ữ văn la vô cung quan trong.
̀
̀
̣
  Tuy vây, trong viêc hoc môn Ng
̣
̣
̣
ữ văn hiên nay noi chung, nhi
̣
́
ều em rất rụt  
rè trong giao tiếp, không dám bày tỏ ý kiến, suy nghĩ … của mình trước lớp, thiếu  
chủ  động, tích cực trong việc tiếp thu kiến thức bài học. Chât l
́ ượng hoc tâp 
̣

Chia sẻ  cùng các thầy cô giáo một số  kinh nghiệm nhằm phát huy tính tích 
cực, chủ  động của học sinh thông qua việc vận dụng phương pháp dạy học tích 
cực trong giảng dạy phân môn Đoc – Hiêu văn ban thuôc môn Ng
̣
̉
̉
̣
ữ văn cấp THCS, 
góp phần nâng cao chất lượng bộ  môn, tạo niềm say mê, hứng thú cho các em  
trong học tập.
b. Nhiệm vụ của đề tài
Trình bày cụ thể những việc cần làm và làm như  thế nào để  tạo điều kiện 
cho học sinh phát triển tư duy sáng tạo, phát huy tính chủ động, tích cực trong học 
tập.
I.3. Đối tượng nghiên cứu
Từ thực tế  việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh trường THCS  
Buôn Trấp. Đặc biệt là việc dạy và học môn Ngữ  văn ở hoc sinh l
̣
ơp 6,7 Tôi tiên
́
́ 
hanh nghiên c
̀
ưu nh
́ ưng biên phap day hoc tich, viêc ap dung biên phap day hoc nay
̃
̣
́ ̣
̣ ́
̣ ́ ̣

1. Cơ sở lí luận
Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục nói 
chung và vấn đề  đổi mới PPDH trong trường trung học nói riêng. Vấn đề  này đã 
được đề  cập nhiều lần trong các văn kiện Đại hội Đảng, trong Luật Giáo dục. 
Đặc biệt, trong thông báo kết luận của Bộ  Chính trị  về  tiếp tục thực hiện Nghị 
3


quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến  
năm 2020 đã chỉ  rõ  “ Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ  
bản lối truyền thụ  một chiều. Phát huy PPDH tích cực, sáng tạo, hợp tác, giảm  
thời gian giảng lý thuyết, tăng thời gian tự  học, tự  tìm hiểu cho học sinh, giáo  
viên; gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu  
khoa học, sản xuất và đời sống”.
Thực tế cho thấy: hoạt động đổi mới PPDH chỉ  có thể  thành công khi giáo  
viên có động lực hành động và chuyển hóa được từ ý chí trở thành tình cảm và tinh 
thần trách nhiệm đối với học sinh, đối với nghề dạy học.
Các chuyên đề  về  đổi mới PPDH được đưa ra tập huấn luôn là cơ  sở  cho  
giáo viên nghiên cứu, vận dụng một cách chủ động, tích cực, sáng tạo phù hợp với 
đặc trưng bộ môn, phù hợp với yêu cầu của từng bài học, giúp học sinh phát triển  
và rèn luyện các kỹ năng cần thiết như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xử lý thông tin,  
giải quyết các tình huống, kỹ năng thực hành …
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
 

2.1. Thuận lợi, khó khăn

a) Thuận lợi:
­ Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban giám hiệu nhà trường rất tích cực trong  
việc chỉ đạo đổi mới PPDH.

của học sinh theo hướng học sinh – đối tượng của hoạt động “dạy” trở thành  
chủ  thể của hoạt động “học  là một PPDH tích cực – “phương thuốc” khá hữu 
hiệu nhằm kích thích tư duy độc lập của học sinh, dạy học sinh cách tự  suy nghĩ, 
lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm cho không khí lớp học sôi nổi, sinh 
động, kích thích hứng thú học tập, lòng tự tin của các em, rèn cho các em năng lực 
diễn đạt, mạnh dạn bày tỏ sự hiểu biết của mình, biết chú ý lắng nghe và hiểu ý 
diễn đạt của người khác. Tạo môi trường học tập thân thiện để  học sinh có điều 
kiện giúp đỡ  lẫn nhau. Học sinh kém có điều kiện học tập các bạn trong nhóm, 
cùng các bạn trong nhóm hoàn thành nhiệm vụ  được giao. Thông qua đàm thoại, 
dạy học tích cực, giáo viên sẽ  nhanh chóng thu thập được thông tin phản hồi từ 
phía người học, duy trì và kiểm soát được hành vi của học sinh. Học sinh sẽ  có 
được niềm vui khi mình được trực tiếp tham gia khám phá, tìm hiểu và nắm bắt 
kiến thức mới thông qua sự hướng dẫn của thầy cô giáo.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp: 
3.1. Mục tiêu của giải pháp
Giúp các thầy cô giáo cùng dạy môn Ngữ văn hiểu rõ hơn về mục đích của 
việc dạy học tích cực;  có thêm kinh nghiệm trong việc thiết kế hệ thống câu hỏi 
5


và đặt câu hỏi cũng như tổ chức hoạt động dạy học nhằm phát huy tính tích cực,  
chủ  động của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng bộ  môn, tạo niềm say mê, 
hứng thú cho các em trong học tập.
3.2.  Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp
Từ y th
́ ưc vê tâm quan trong cua viêc phat huy tinh tich c
́ ̀ ̀
̣
̉
̣

̀ ươc đâu đa thây hiêu qua. Chung tôi xin trinh bay cach nôi dung va
́ ̀ ̃ ́
̣
̉
́
̀
̀ ́
̣
̀ 
cach th
́
ức thực hiên giai phap, biên phap nh
̣
̉
́
̣
́ ư sau:
1. Biện pháp tổ  chức hoạt động học tập của học sinh theo hướng học  
sinh  –  đối  tượng  của  hoạt  động “dạy”  trở  thành chủ  thể   của  hoạt  động  
“học”. 
    ­ Trước hết, cần đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy và học. Giáo viên phải  
chú trọng đến phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Trong đó học sinh  
dưới sự  tổ chức, gợi mở, dẫn dắt của giáo viên tự  mình chiếm lĩnh tác phẩm, tự 
rút ra những kết luận, những bài học cần thiết cho mình với sự chủ động tối đa.
Theo chúng tôi, trong giờ  dạy văn bản, giáo viên cần tổ  chức, dẫn dắt cho  
học sinh theo bốn cấp độ sau đây:
Thứ nhất, giúp học sinh tri giác, cảm thụ văn bản, hiểu ngôn ngữ, tình tiết, 
cốt truyện, thể  loại... để  có thể  cảm nhận được hình tượng nghệ  thuật trong sự 
toàn vẹn của các chi tiết, các liên hệ.
Thứ  hai, giúp học sinh tiếp xúc với ý đồ  sáng tạo của nghệ  sĩ, thâm nhập 

bài…
­ Dựa vào các mục biên soạn trong SGK để  hướng dẫn học sinh chuẩn bị  
bài  Với người dạy và người học hiện nay  ở  nước ta, SGK là công cụ  có tính 
chất pháp lí. Nội dung kiểm tra, thi cử  bắt đầu và xuất phát từ  chương trình và  
Sách giáo khoa. Nói cách khác dạy và học không thể thoát li chương trình và Sách 
giáo khoa. Phần Đọc văn trong SGK ở chương trình THCS hiện nay thường được 
biên soạn theo một cấu trúc cố  định với những mục rõ ràng, với trình tự  gồm các  
mục: Tên bài – Kết quả cần đạt – Tên văn bản – Chú thích  – Đọc – Hiểu văn bản  
– Ghi nhớ­ Luyên tập. Để chuẩn bị bài, nhất thiết học sinh phải có trong tay quyển  
SGK và tự làm việc với sách theo hướng dẫn của thầy cô giáo. Trang bị SGK đầy 
đủ, học sinh thường xuyên đọc sách, bám sát tất cả  các mục  ở  trong SGK, mỗi  
mục có một vai trò cụ thể. Đặc biệt, HS phải chú trọng đến mục Đọc – hiểu văn 
bản sau mỗi văn bản. Đây là mục quan trọng có tác dụng định hướng tìm hiểu văn  
bản cho cả người học và người dạy. Ở mục hướng dẫn học bài này có nhiều câu 
hỏi được sắp xếp theo hệ  thống. Dựa vào hệ  thống câu hỏi này để  giáo viên  
hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài một cách phù hợp, thiết thực và có hiệu quả. Bắt  
7


đầu từ SGK là một định hướng khoa học trong việc hướng dẫn học sinh chuẩn bị 
bài cho giờ Đọc văn. Chăng han
̉
̣
­ Gắn với từng bài học cụ  thể  phù hợp với đặc trưng thể  loại để  hướng  
dẫn học sinh chuẩn bị bài. 
Mỗi bài học, mỗi văn bản được phân bố  với một số  lượng thời gian nhất  
định trong bảng phân phối chương trình. Vì thế, giáo viên nhất thiết phải gắn với  
từng bài học, từng văn bản với số  tiết quy định cụ  thể  để  hướng dẫn học sinh  
cách thức nội dung, mức độ soạn bài phù hợp. Chẳng hạn với những bài học trong 
một tiết thì có cách hướng dẫn chuẩn bị bài gọn, nhẹ hơn so với bài hai tiết. Giáo 

kháng chiến. 
Hiểu được mục đích của người soạn Sách giáo khoa ở phần hướng dẫn học  
bài sau mỗi văn bản sẽ giúp giáo viên xác định phương pháp dạy học phù hợp từng 
bài học cụ  thể. Chẳng hạn, với mục đích đồng sáng tạo  ở  bạn đọc, trong phần 
hướng dẫn học bài của văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê, sách giáo 
khoa Ngữ văn 7 có nêu câu hỏi: Tại sao khi dắt em ra khỏi trường Thành lại kinh ngạc  
thấy mọi người vẫn đi lại bình thường và nắng vẫn ươm trùm lên cảnh vật? Từ đó em  
cảm nhận được điều gì mà tác giả muốn nhắn nhủ?(  Thành cảm nhận được sự bất 
hạnh của hai anh em mình. Đó là bi kịch riêng của gia đình Thành và Thủy còn dòng chảy 
thời gian, màu sắc cảnh vật, nhịp điệu cuộc sống vẫn diễn ra một cách tự  nhiên. Thành 
cảm thấy cô đơn trước sự vô tình của người và cảnh. Qua đó tác giả  muốn nói nỗi đau  
khổ của những đứa con thơ khi bố mẹ bỏ nhau là lên đến tột cùng của sự đau khổ, một 
nỗi đau không biết ngỏ cùng ai. Nhắc nhở ta không nên dửng dưng vô tình trước nỗi đau  
của đồng loại).

 
Từ câu hỏi hướng dẫn này, giáo viên có thể lồng phương pháp vấn đáp, đàm 
thoại bên cạnh các phương pháp khác. Tất nhiên để đàm thoại được ở trên lớp thì  
giáo viên phải hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài trước ở nhà... 
­ Hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi trong Sách giáo  
khoa. 

Để  giúp học sinh có sự  chuẩn bị  hiệu quả trước khi bước vào giờ  học văn 
bản, giáo viên cần có những định hướng cho học sinh trong các hoạt động tiếp xúc 
với Sách giáo khoa, tập cho các em biết gia công tìm tòi, sáng tạo trong quá trình  
lĩnh hội tri thức. Hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà trước hết và quan trọng nhất  
vẫn là yêu cầu các em trả  lời các câu hỏi  ở  phần Hướng dẫn học bài. Việc đọc  
Sách giáo khoa như  đã nói trên trước hết là để  trả  lời được các câu hỏi này. Tuy 
vậy, muốn công việc này của các em đạt hiệu quả đòi hỏi giáo viên phải có những 
cách thức, biện pháp phù hợp. Giáo viên vừa yêu cầu vừa khuyến khích, động viên 

khi lên lớp các em sẽ tiếp thu bài rất nhanh.
    
Như vậy, việc hướng dẫn học sinh đọc Sách giáo khoa và trả lời câu hỏi là 
việc làm vô cùng quan trọng, bởi đây là một bước chuẩn bị  trước làm cơ  sở  cho  
việc đọc tác phẩm trên lớp. Nếu giáo viên làm tốt bước này thì khâu lên lớp sẽ 
nhẹ nhàng hơn, giờ học sôi nổi hơn và tất nhiên hiệu quả giờ học sẽ cao hơn. 
­ Hướng dẫn học sinh lập dàn ý khái quát sơ đồ tư duy cho bài học. 
Từ những hiểu biết của bản thân, học sinh tự lập thành sơ đồ, thành những 
dàn ý theo suy nghĩ của mình. Điều  ấy có nghĩa rằng sau khi đọc phân tích, học 
sinh cần phải tổng hợp, tái tạo lại cấu trúc của bài học. Ghi chép tóm tắt những gì  
và như  thế nào là phụ  thuộc vào hiểu biết và kinh nghiệm của từng người. Điều 
quan trọng là người học phải tự mình nêu lại được các thông tin quan trọng đã tiếp  
nhận bằng từ ngữ riêng theo cách của mình. 
­ Tổ chức phân công từng vấn đề cụ thể cho từng nhóm học sinh. 
Sau khi kết thúc một giờ học công việc thường thấy từ trước tới nay là giáo
viên dặn dò học sinh về  nhà học bài và chuẩn bị  bài mới cho giờ  học tiếp theo.  
Đây thường là việc làm lấy lệ  máy móc, qua loa, làm cho xong. Vì thế  tính hiệu  
quả thấp. Kinh nghiệm cho thấy đối với học sinh THCS giao việc càng cụ thể thì 
10


tính hiệu quả càng cao. Vì vậy, tổ  chức phân công vấn đề  cho học sinh chuẩn bị 
trước là bước đệm rất quan trọng cho bài học mới đạt kết quả. Để  việc làm này  
có chất lượng giáo viên phải thực hiện những bước sau: 
+ Chuẩn bị trước các vấn đề. 
+ Chia nhóm.
+  Phân công vấn đề cụ thể cho từng nhóm. 
Chẳng hạn khi dạy văn bản “Thầy bói xem voi” (Ngữ văn 6) ngoài việc học 
sinh chuẩn bài theo phần hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, giáo viên có thể 
chuẩn bị  trước các vấn đề  sau để  giao cho học sinh và yêu cầu mỗi nhóm phải  

kết thúc truyện. 
 Bài  2
  : Ca dao “Những câu hát than thân(Ngữ văn 7). 
+ Các tổ sưu tầm và đóng thành tập về những bài ca dao mở đầu bằng 2 từ 
“Thân em”. 
+ Những học sinh có năng khiếu văn nghệ chuẩn bị một bài hát dân gian có 
chủ đề than thân để diễn xướng trong giờ học trên lớp. 
3. Biện pháp tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.
*  Đối với giáo viên: 
­ Phải nắm vững nội dung bài giảng và trọng tâm bài dạy để  đặt câu hỏi  
hướng vào nội dung bài học. Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với từng đối tượng 
học sinh cụ  thể, từng lớp học, từng điều kiện có thể  có. Tránh đặt câu hỏi máy  
móc, hỏi cho có, tránh lạm dụng trong việc đặt câu hỏi để  rơi vào tình trạng dạy  
học hỏi đáp máy mọc đơn điệu. 
­ Việc đặt câu hỏi phải phù hợp với phương pháp giảng dạy mà mình đã lựa 
chọn: Nêu vấn đề, đàm thoại, giảng bình…và lượng câu hỏi phải hết sức hợp lí. 
Nội dung câu hỏi phải đảm bảo các yêu cầu về cung cấp kiến thức; rèn luyện kĩ  
năng; giáo dục tư tưởng, nhân cách ở học sinh. 
­ Điều quan trọng nhất đối với giáo viên là khâu soạn giáo án. Để giáo án có  
chất lượng phải có hệ thống câu hỏi chuẩn, hợp lí. Các câu hỏi trọng tâm của bài 
giảng phải cho học sinh nắm trước trong câu hỏi chuẩn bị bài ở nhà. 
* Đối với học sinh: 
­ Khâu soạn bài: Học sinh đọc văn bản, chuẩn bị  bài theo câu hỏi mà giáo 
viên 
đã cho, đã hướng dẫn. Tuỳ loại câu hỏi giáo viên phân công học sinh chuẩn bị theo  
tổ, nhóm, hoặc theo cá nhân.
­ Tham gia xây dựng bài: Động viên khích lệ học sinh bằng điểm số khi các  
em tham gia xây dựng bài. Tạo không khí đối thoại thoải mái trong tiết học giữa  
thầy và trò, giữa học sinh với học sinh, tranh luận giữa các nhóm học sinh với nhau 
để  phát huy tư  duy sáng tạo của học sinh, tránh việc áp đặt kiến thức mang tính  

“Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh giúp em cảm nhận được điều gì?  (Điệp từ “vì” 
khẳng định hành động chiến đấu vì mục đích cao cả, bảo vệ  non sông đất nước, 
bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân, gia đình, người thân, và niềm hạnh phúc 
của tuổi thơ). 
Vì sao người chiến sĩ có thể nghĩ rằng cuộc chiến đấu của mình còn là “vì  
tiếng gà cục tác,  Ổ  trứng hồng tuổi thơ”?  (Ổ  trứng hồng và tiếng gà là những 
điều thân thương, quí giá chân thật. Là biêu tượng hạnh phúc ở  mỗi miên quê. Vì  
14


thế cuốc chiến đấu hôm nay còn có thêm ý nghĩa bảo vệ những điều chân thật quí  
giá đó).
Ví dụ 2: Trong bài thơ, có nhiều câu thơ có cách cấu tạo đặc biệt. Đó là 
những câu thơ nào?
             “ Ra thế                                  “ Thôi rồi, Lượm ơi!”
              Lượm ơi !”                             “ Lượm ơi, còn không?
? Tại sao những câu thơ trên lại có cấu tạo đặc biệt như thế? Tác giả sử 
dụng như thế để làm gì? (Diễn tả niềm đau xót, tiếc thương của tác giả đối với 
sự hi sinh của Lượm).
­ Câu hỏi phải hướng vào thao tác tư duy: Phân tích, tổng hợp, khái quát.  
       Chẳng hạn khi củng cố bài hay kiểm tra bài cũ học sinh cần tránh những câu 
hỏi như sau: Em hãy đọc thuộc lòng bài thơ và cho biết nội dung, nghệ thuật của 
bài. Dạng câu hỏi này không có tác dụng phát huy sự  sáng tạo, tính tích cực của 
học sinh vì chỉ  cần chăm chỉ  học thuộc phần ghi nhớ  cuối sách giáo khoa chứ 
không cần tư duy nhiều là học sinh trả lời được. Hơn nữa, câu hỏi này sẽ gây cho 
học sinh thói quen có hại đó là thói quen học thuộc một cách máy móc.
       Có thể thay dạng câu hỏi này bằng một câu hỏi có sức gợi hơn.  Ví dụ: Để 
kiểm tra kiến thức cũ bài thơ  “Lượm” của Tố  Hữu trong chương trình Ngữ  văn 
lớp 6 thì giáo viên có thể hỏi như sau:
       1. Qua bài thơ “Lượm”, em thích nhất đoạn thơ nào? Vì sao? Hãy đọc đoạn  

tránh đưa ra những câu hỏi chung chung mơ hồ, vụn vặt không có sự  tư  duy,  
sáng tạo. 
             Ví dụ: Khi dạy bài “ Bức tranh của em gái tôi” (Ngữ văn 6­ Tạ Duy Anh) 
chúng ta có thể  đặt câu hỏi: Qua sự  thay đổi trong suy nghĩ của nhân vật người  
anh khi đứng trước bức tranh đạt giải của cô em gái Kiều Phương, em cảm nhận  
được điều gì?   Với câu hỏi này giáo viên giúp học sinh cảm nhận được   ở  người 
anh là sự ăn năn, hối hận chân thành về thái độ của mình và rất khâm phục tài năng 
và tấm lòng nhân hậu của em gái. Hay:  Qua việc tìm hiểu về  nhân vật Kiều  
Phương? Em hãy cho biết những đặc điểm nổi bật nào về nhân vật  này?  Học sinh 
sẽ chốt được: Kiều Phương là một em bé hồn nhiên, trong sáng thông minh, hiếu  
động, có tấm lòng nhân hậu, độ lượng và có tài năng về hội họa.
 
­ Hệ  thống câu hỏi phải được sắp đặt hợp lý, được xác định phù hợp  
với đối tượng và phân loại đối tượng.
 

Kiểm tra bài cũ ở các đối tượng học sinh giáo viên tổ chức như sau:

 

Tổ chức trò chơi ai nhanh hơn:

 
Giáo viên phổ biến luật chơi: Cô sẽ cho các em xem một số hình ảnh và sau 
đó chúng ta sẽ trả lời các câu hỏi phía dưới. Ai có câu trả lời đúng, nhanh nhất sẽ 
được cộng thêm điểm.
    
Để tổ  chức kiểm tra bài cũ theo phương pháp này giáo viên sưu tầm những  
hình  ảnh phục vụ tốt cho kiến thức cần kiểm tra, sau đó trình chiếu cho học sinh  
xem rồi đặt câu hỏi. Ví dụ: Để kiểm tra bài  “Cảnh khuya, Rằm tháng giêng” trong 


trình tiếp nhận  ở  học sinh. Đó là một biện pháp được sử  dụng khi cần đặt mối 
liên hệ giữa kiến thức đã học với kiến thức sắp học, hoặc củng cố kiến thức vừa  
mới học. 
Ví dụ: Ví dụ 1: Khi dạy văn bản Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh (văn 7 tập 
1), giáo viên có thể hỏi: Người chiến sỹ bắt gặp âm thanh của tiếng gà trưa trong 
hoàn cảnh nào?
  Ví dụ  2: Dạy Phần cuối văn bản  Buổi học cuối cùng  của An­phông­xơ 
Đô­đê (văn 6 tập 1), GV có thể hỏi: Hãy tìm trong đoạn văn những chi tiết miêu tả 
hình ảnh thầy Ha­men khiến ta xúc động.
(2)  Câu hỏi yêu cầu giải thích, minh hoạ: Loại câu hỏi này nhằm mục 
đích làm sáng tỏ một khái niệm, đề tài nào đó. Giáo viên lần lượt nêu ra những câu 
hỏi kèm theo những ví dụ  minh hoạ  để  giúp học sinh dễ  hiểu, dễ  nhớ. Phương 
pháp này được áp dụng có hiệu quả  trong một số  trường hợp như  khi Giáo viên 
biểu diễn phương tiện trực quan (băng ghi hình, máy chiếu) 
Ví dụ: Em hãy nhìn tranh và đọc lại bài thơ “Bạn đến chơi nhà’ của Nguyễn 
Khuyến( Ngữ văn 7­tập 1)

 
18


Khi dạy văn bản Cô Tô của Nguyễn Tuân, ở phần tìm hiểu khái quát về quần  
đảo Cô Tô. Để tạo tâm thế cho học sinh vào bài, giáo viên có thể đặt câu hỏi: 
­ Nêu những hiểu biết của em về quần đảo Cô Tô?
+ Để giúp các em hình dung cụ thể hơn về quần đảo Cô Tô, giáo viên cho các 
em quan sát những bức tranh hoặc xem clip về Cô Tô.

­ Các em có cảm nhận gì về  Cô Tô sau khi đã quan sát thêm tranh minh họa  
(xem clip) ?

đề  và tình huống có vấn đề. Loại câu hỏi này phải làm rõ được vấn đề  tiềm  ẩn 
trong tác phẩm, phải gây hứng thú nhận thức cho học sinh và phải động viên,  
khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu. 
Ví dụ  1: Khi dạy  bài “Cô Tô” của Nguyễn Tuân (Ngữ  Văn 6 tập 2), Giáo  
viên có thể hỏi:
­ Nếu có ý kiến cho rằng Nguyễn Tuân không hề miêu tả cảnh Cô Tô trước 
cơn bão nhưng người đọc vẫn cảm nhận được vẻ đẹp của Cô Tô khi chưa có bão 
đi qua. Em thấy có đúng không? Vì sao?
Câu hỏi này đặt ra khi phân tích Cảnh thiên nhiên trên đảo Cô Tô sau trận 
bão. Để giúp HS giải quyết được vấn đề trên, GV có thể gợi mở giúp cho HS cảm 
nhận được: Bên cạnh các tính từ miêu tả cảnh Cô Tô sau cơn báo, tác giả sử dụng 
đi kèm những từ: thêm, hơn. Điều đó chứng tỏ vốn dĩ Cô Tô rất đẹp, sau cơn bão 
Cô Tô càng đẹp hơn, càng đáng yêu hơn, càng có sức sống mãnh liệt hơn.
 Từ đó GV tích hợp giáo dục HS trong quan sát và cách dùng từ khi tạo lập 
văn bản miêu tả.
Ví dụ 2: Khi dạy văn bản “Cổng trường mở ra” của Lý Lan, GV có thể đặt  
câu hỏi: Em hiểu gì về câu nói của người mẹ “ Bước qua cánh cổng trường là một 
thế giới kì diệu sẽ mở ra”? Theo em thế giới kì diệu đó là gì?
HS có thể có nhiều phát hiện: 
+ Được khám phá một thế giới mới lạ: những điều kì diệu, bí ẩn trong thế giới tự  
nhiên và con người…
20


+ Được đến với cả một chân trời tri thức: văn hóa, khoa học bao la rộng lớn… 
+ Được bồi dưỡng về tâm hồn nhân cách
+ Được sống trong vòng tay yêu thương của thầy cô, bè bạn…
+ Ước mơ, khát vọng được chắp cánh để bay cao, bay xa;…
Hay câu hỏi: Đoạn cuối văn bản xuất hiện câu thành ngữ “ Sai một li đi một  
dặm” Em hiểu câu thành ngữ này có ý nghĩa gì khi gắn với sự nghiệp giáo dục?



     Em hãy phân tích tác dụng của cách diễn đạt trên trong việc biểu đạt cảm xúc  
của tác giả?
Đối với câu hỏi này giáo hướng dẫn học sinh tìm hiểu từng ý nghĩa của câu  
thơ. Sau đó GV yêu cầu HS trình bày cảm nhận của mình dựa vào những ý nghĩa  
trên:
Ấn tượng của cuộc gặp gỡ vẫn còn nguyên vẹn nét đẹp đẽ, vui tươi, ấm áp 
trong lòng tác giả, bỗng nhiên có tin Lượm hy sinh. Câu thơ gãy đôi như một tiếng  
nấc nghẹn ngào:                      Ra thế
                                              Lượm ơi!                                            
   
 Đó là nỗi sửng sốt, xúc động đến nghẹn ngào. Và nhà thơ hình dung ra ngay  
cảnh tượng chú bé hy sinh trong khi làm nhiệm vụ.
    
 Lượm “ thiên thần bé nhỏ  ấy đã bay đi”, để lại bao tiếc thương cho chúng 
ta, như  Tố  Hữu đã nghẹn ngào, đau xót gọi em lần thứ  ba bằng một câu thơ  day  
dứt:
                                            Lượm ơi, còn không?                          
    Câu thơ  đứng riêng thành một khổ  thơ, như  một câu hỏi xoáy vào lòng người 
đọc, đã nói rõ tình cảm của nhà thơ  đối với chú bé anh hùng của dân tộc. Tác gỉa  
như  không tin rằng Lượm đã hy sinh, Lượm vẫn còn trong lòng tác giả, mãi còn  
cùng  với đất nước, quê hương.
Ví dụ  3: Khi dạy văn bản “Sống chết mặc bay” Của Phạm Duy Tốn, GV  
hỏi: Trong bài tên sông được nói cụ  thể  (sông Nhị  Hà) nhưng tên phủ  được ghi  
bằng ký hiệu (phủ X, làng X). Điều đó thể hiện dụng ý gì của tác giả ?
      GV giúp HS cảm nhận được: Tác giả  muốn người đọc hiểu câu chuyện này 
không chỉ xảy ra ở một nơi mà có thể là phổ biến ở nhiều nơi trên nước ta.
* Câu hỏi yêu cầu có sự  so sánh đối chiếu: Sự  so sánh đối chiếu là một 
hình thức của thao tác phân tích trong tư duy. Qua việc so sánh đối chiếu trong giờ 

nhận từ nhận thức về tác phẩm để nhìn vào hiện thực cuộc đời. Để trả lời câu hỏi 
này, học sinh phải tự liên hệ với thực tế và bản thân để tìm ra hướng giải quyết 
thích hợp theo sự cảm thụ của mình. Các loại câu hỏi này có thể là: Cho biết tác 
dụng từ việc đọc tác phẩm đến tình cảm thái độ nhận thức của em? Theo em, tác 
phẩm này có tác dụng như thế nào đối với đời sống? Tác phẩm có đóng góp gì đối 
với nền văn học?... 
Ví dụ 1: Giảng bài “Bức tranh của em gái tôi” của Tạ Duy Anh (Ngữ văn 6­
tập 1), Giáo viên có thể  hỏi: Cảm nhận của em đối với nhân vật người anh như 
thế nào? (hoặc ấn tượng của em về nhân vật người anh). 
HS có thể trình bày cảm nhận của mình, GV hỏi thêm: Em hãy cho biết hình 
ảnh chú bé trong tranh của Kiều Phương với hình ảnh người anh ngoài thực tế có  
khác nhau nhiều không ? 
­ HS sẽ thấy được: Có khác nhưng không nhiều ( Hình ảnh trong tranh đẹp, 
hoàn hảo về ngoại hình lẫn bản chất.  Nếu người anh biết ăn năn hối hận thì bản 
chất của người anh cũng rất tốt đẹp). 
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Bài học đường đời đầu tiên”( Tô Hoài), sau khi hướng 
dẫn HS phân tích bài học đầu tiên của dế Mèn, GV có thể dùng một số câu hỏi sau 
để giáo dục các em và giúp các em  rút ra bài học cho bản thân:
­  Theo em, ta có thể tha thứ cho lỗi lầm của Dế Mèn được không? Vì sao?
HS sẽ trả lời:  Có thể tha thứ được. Vì tình cảm của Dế Mèn rất chân thành, 
biết ăn năn sám hối về tội lỗi của mình. Đã biết nghĩ đến việc thay đổi cách sống, 
cách suy nghĩ và cách cư xử  để từ đó GV giáo dục HS
­  Em thấy có đặc điểm nào của con người được gán cho các con vật trong 
đoạn truyện này? Em thích những đặc điểm nào? Không thích đặc điểm nào?
­  Theo em, sau cái chết của Dế Choắt, Dế Mèn đã rút ra được điều gì ? Đó 
là bài học gì?
­  Bài học đó có phải là bài học cho tất cả chúng ta không? Vì sao?
5. Các biện pháp  kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Để  phần việc này thực sự  đạt hiệu quả  và sức hấp dẫn, người giáo viên 
cần lưu ý:

đề:
Ví dụ: Cảm nhận của em về  hình  ảnh chú Dế  Mèn dưới ngòi bút của Tô  
Hoài qua đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên”  . Em có suy nghĩ gì về  hình 
tượng viên quan phụ mẫu trong truyện ngắn “ Sống chết mặc bay” của Phạm Duy 
Tốn?
Ở  những câu hỏi thuộc kiểu dạng này, giáo viên dần đưa các em vào việc  
khám phá nội dung đồng thời bày tỏ  suy nghĩ, thái độ  của cá nhân mình về  một 
24


vấn đề  của bài học trước tập thể  lớp. Điều này giúp các em dần chủ  động hơn  
trong việc lĩnh hội và khám phá tác phẩm.
­ Cho học sinh tìm hiểu và tranh luận về tên tác phẩm, tên đoạn trích:
Tên tác phẩm, tên đoạn trích (có thể  do người biên soạn đặt) đều bao hàm 
chứa đựng nội dung của tác phẩm, được biểu đạt  ở  dạng khái quát nhất. Do đó,  
tìm hiểu tiêu đề tác phẩm cũng là một phương thức khá lý thú, hấp dẫn lại có hiệu  
quả trực tiếp trong việc khắc sâu kiến thức.
Ví dụ: Tại sao tác giả  lại đặt tên tác phẩm là “Cầu Long Biên chứng nhân  
lịch sử”? Nếu được đặt tên lại em sẽ đặt là gì?
 
Tại sao An­phông­xơ Đô­đê đặt tên tác phẩm là “Buổi học cuối cùng” nhằm 
mục đích gì? Sau khi học xong bài thơ, em cảm nhận như  thế  nào về  nhan đề 
“Đêm nay Bác không ngủ”?
Rõ ràng khi trả  lời được câu hỏi này học sinh phải nắm chắc nội dung bài 
học. Đồng thời với việc đưa ra câu hỏi mang tính tình huống, học sinh sẽ hết sức  
phấn khởi khi được tham gia vào việc tạo dựng tác phẩm (dù chỉ dừng lại tên gọi  
của nó). Với những câu hỏi này giáo viên nên hết sức chú trọng đến ý kiến cá nhân 
học sinh để có thể bổ sung hoặc điều chỉnh hợp lí.
Những câu hỏi thuộc kiểu loại trên đòi hỏi học sinh phải có sự  tư duy thấu  
đáo. Yêu cầu các em phải hiểu nội dung bài học và nhận định của nhà nghiên cứu,  


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status