BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
….………./………….
BỘ NỘI VỤ
….………./………….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG THÙY
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC –
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN KRÔNG PẮC,
TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
ĐẮK LẮK - 2020
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
….………./………….
BỘ NỘI VỤ
….………./………….
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐẶNG THỊ PHƯƠNG THÙY
VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ
Các quý thầy, cô giáo đã quản lý, giảng dạy trong chương trình đào tạo
cao học chuyên ngành Quản lý công, lớp HC22.TN11 tại Học viện Hành
chính quốc gia.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Hường – người hướng dẫn khoa học đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
này.
Lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Krông Pắc, Hội Liên hiệp phụ
nữ các xã, thị trấn của huyện Krông Pắc đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp
số liệu liên quan đến đề tài cho tác giả.
Gia đình, bạn bè luôn bên cạnh, động viên, khích lệ trong suốt quá trình
học tập, nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do trình độ còn hạn chế, chắc chắn
luận văn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Rất mong quý thầy cô và bạn
đọc góp ý.
Xin trân trọng cảm ơn!
Đắk Lắk, tháng 5 năm 2020
Tác giả luận văn
Đặng Thị Phương Thùy
2
DANH MỤC VIẾT TẮT
Từ được viết tắt
Ký hiệu
Hội Liên hiệp Phụ nữ
Nội dung
Trình độ Ban Chấp hành Hội LHPN huyện
Krông Pắc, nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 - 2021
Trình độ Ban Chấp hành Hội LHPN cơ sở,
nhiệm kỳ 2011 – 2016 và 2016 - 2021
Các cấp Hội LHPN huyện tổ chức tham gia lấy ý
kiến đóng góp xây dựng Luật pháp, chính sách
Trang
40
41
44
Sơ đồ 2.1
Hệ thống tổ chức Hội LHPN tại huyện Krông Pắc
34
Sơ đồ 2.2
Bộ máy lãnh đạo Hội LHPN huyện Krông Pắc
36
4
2.2.2. Tuyên truyền, vận động phụ nữ thực hiện luật pháp, chính sách 48
2.2.3. Tham gia tổ chức thực hiện luật pháp, chính sách và các hoạt
động quản lý xã hội ..................................................................................... 57
2.2.4. Kiểm tra, giám sát và phản biện xã hội đối với việc thực hiện luật
pháp, chính sách ........................................................................................... 60
2.3. Những bất cập trong phát huy vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ
huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk trong quản lý nhà nước .............................. 61
2.4. Đánh giá chung về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Krông
Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia quản lý nhà nước .............................................. 64
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ................................................ 71
3.1. Xu thế về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Krông Pắc, tỉnh
Đắk Lắk trong bối cảnh hội nhập.................................................................. 71
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ
trong quản lý nhà nước ................................................................................. 73
3.2.1. Giải pháp về thể chế, chính sách ............................................... 73
3.2.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ ........ 75
3.2.3. Nâng cao nhận thức, quan điểm của đội ngũ lãnh đạo về công tác
phụ nữ và công tác Hội................................................................................. 80
3.3. Giải pháp nâng cao vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Krông
Pắc trong quản lý nhà nước .......................................................................... 80
3.3.1. Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk .............................................................................. 80
3.3.2. Nâng cao nhận thức, quan điểm của đội ngũ lãnh đạo cấp huyện
và cơ sở về công tác phụ nữ và công tác Hội ................................................ 84
Kết luận .............................................................................................. 87
Danh mục tài liệu tham khảo .............................................................. 90
7
Hội LHPN Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tập
hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ
nữ, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Tuy
không phải là một cơ quan quản lý nhà nước nhưng Hội LHPN có vai trò nhất
định trong công tác quản lý nhà nước, thể hiện trên cả mặt lý luận và thực tiễn.
Những năm qua, Hội LHPN huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã có
những đóng góp đáng kể, góp phần giúp nhà nước cũng như tổ chức Hội thực
hiện tốt chức năng quản lý của mình. Tuy nhiên, việc tham gia quản lý nhà
nước của Hội LHPN huyện vẫn tồn tại những hạn chế, khó khăn nhất định. Để
khắc phục những khó khăn, hạn chế đó, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển
mới của huyện nhà, của Hội, cần thiết phải có các giải pháp thúc đẩy vai trò
tham gia quản lý nhà nước của Hội, làm cho việc tham gia quản lý nhà nước
của Hội có hiệu quả rõ nét hơn.
Chính vì lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ
nữ trong quản lý nhà nước – từ thực tiễn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk” làm
đề tài nghiên cứu khoa học cho luận văn của mình, với mong muốn có cái nhìn
tổng quan về vai trò tham gia quản lý nhà nước của Hội LHPN; đồng thời, qua
đó, giúp tác giả nâng cao kiến thức, phục vụ cho chính công việc của mình tại
cơ quan Hội LHPN huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vai trò của Hội LHPN trong QLNN được Đảng, Nhà nước quan tâm từ
rất lâu. Đã có một số bài viết, luận văn của các nhà nghiên cứu, chuyên gia, tác
giả, các cơ quan, tổ chức đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Nguyễn Thị Kim Oanh (2012), Vai trò tham gia Quản lý Nhà nước
của các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã bước đầu xây dựng khung lý luận về vai
được vấn đề còn tồn tại, hạn chế.
9
Cùng một số luận văn thạc sĩ Quản lý công khác có liên quan như:
- H’ Ban Niê Kdăm (2016), Công tác tuyên truyền miệng của cán bộ
Hội LHPN cơ sở ở huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sĩ quản lý
công, Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn đề cập đến một trong những
vai trò quan trọng, không thể thiếu của Hội LHPN trong tham gia quản lý nhà
nước, đó là công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ và nhân dân thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chỉ ra
những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và biện pháp khắc phục đối với công
tác tuyên truyền miệng tại các cơ sở Hội của huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk,
một huyện có nhiều nét tương đồng với huyện Krông Pắc mà tác giả luận văn
nghiên cứu. Từ đó tác giả luận văn có thể rút ra được một số bài học kinh
nghiệm trong công tác tuyên truyền miệng.
- Lê Thị Ngọc Loan (2017), Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ quản lý công, Học viện Hành chính
Quốc gia. Tác giả đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước về bình đẳng giới, một
trong những nội dung QLNN mà các cấp Hội LHPN Việt Nam cùng với các
cơ quan quản lý nhà nước đang gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tuy nhiên,
luận văn chỉ đề cập đến vai trò chung của các cơ quan QLNN chứ không tập
trung phân tích riêng về vai trò của Hội LHPN.
- Trần Văn Hào (2017), Chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt chính
quyền cấp xã trên địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn thạc sĩ
quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn chỉ ra được thực
trạng về chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã trên địa bàn
huyện Krông Pắc, chính là địa bàn mà tác giả luận văn nghiên cứu. Nghiên
cứu việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cấp xã sẽ
tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
11
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của Hội LHPN trong QLNN từ
thực tiễn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn huyện Krông
Pắc, tỉnh Đắk Lắk. Cụ thể là Hội LHPN huyện, Hội LHPN 16 xã, thị trấn trên
địa bàn huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2011 đến tháng 12/2019.
- Nội dung chủ yếu nghiên cứu về vai trò của Hội LHPN trong QLNN.
Trong phạm vi đề tài luận văn, tác giả chọn nghiên cứu vai trò của Hội LHPN
cấp huyện và cấp cơ sở trong QLNN.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng
các nguyên lý chung và phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà
nước về vai trò của các tổ chức chính trị xã hội trong hoạt động QLNN. Tiếp
cận và triển khai đề tài từ góc độ khoa học quản lý công.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn kết hợp sử dụng các phương
pháp phân tích, tổng hợp tài liệu thứ cấp, phương pháp thống kê, phương
pháp đối chiếu so sánh và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ và hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò của
Hội LHPN trong QLNN. Xây dựng khung lý thuyết về vai trò của Hội LHPN
1.1.1. Khái niệm về Hội và tổ chức chính trị xã hội
Hội là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của công dân Việt
Nam, cùng chung mục đích, hoạt động không vì lợi nhuận, nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của hội, hội viên và cộng đồng theo quy định của
pháp luật, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước trong lĩnh vực hoạt động; được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận đăng ký thành lập, công nhận điều lệ và người đứng đầu
hội. [5].
Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam bao gồm: Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên
cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Cựu chiến
binh Việt Nam, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình;
cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp và
thống nhất hành động. [33].
Xét về bản chất, các tổ chức chính trị - xã hội này cũng là các hội quần
chúng tự nguyện, nhưng được tổ chức theo các nguyên tắc chặt chẽ hơn, quan
hệ chặt chẽ và trực tiếp hơn với đảng cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam,
chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm nòng
cốt trong mọi hoạt động và tổ chức của các hội quần chúng.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là những bộ phận cấu
thành hệ thống chính trị của nước ta, được hình thành nhằm đáp ứng những
lợi ích đa dạng của cách thành viên; thu hút đông đảo nhân dân tham gia quản
14
lý các công việc nhà nước, công việc xã hội; nâng cao tính tích cực của mỗi
công dân. Trong xã hội ta, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình
không chỉ bằng Nhà nước mà còn thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
Từ ngày thành lập (ngày 20/10/1930) trên cơ sở hợp nhất của các tổ
chức tiền thân cho đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Hội LHPN Việt Nam luôn đoàn kết, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp
phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất trung hậu, đảm
đang, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Với các hoạt động phong phú, thiết thực đối với đời sống của phụ nữ, Hội
LHPN Việt Nam đã và đang ngày càng thu hút đông đảo hội viên, phụ nữ tham
gia vào tổ chức Hội. Hiện nay cả nước có hơn 19 triệu hội viên, chiếm tỷ lệ hơn
70% tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên. [21]. Hội viên của Hội LHPN Việt Nam
đa dạng, phong phú về dân tộc, tôn giáo, ngành nghề, trong đó: hội viên là nữ
cán bộ, công chức, viên chức và công nhân lao động là lực lượng nòng cốt trong
phong trào phụ nữ; hội viên là nữ thanh niên là lực lượng xung kích trong phong
trào phụ nữ. [20].
Về cơ cấu tổ chức, Hội LHPN Việt Nam được tổ chức ở 4 cấp: cấp
Trung ương, cấp tỉnh (bao gồm Hội LHPN các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương và tương đương), cấp huyện (bao gồm Hội LHPN các quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương) và cấp cơ sở (bao gồm
Hội LHPN các xã, phường, thị trấn và tương đương). Hội LHPN cấp cơ sở là
nền tàng của tổ chức Hội. Hội LHPN cấp cơ sở quyết định thành lập các chi
hội; dưới chi hội có thể thành lập tổ phụ nữ. [20].
Cơ quan lãnh đạo các cấp Hội gồm:
- Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội là Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn
quốc.
16
- Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp Hội là Đại hội đại biểu hoặc toàn thể hội
viên của của cấp đó.
phải có sự phân công, phối hợp, chỉ huy gắn kết vai trò của cá nhân và tập thể
để đạt được mục tiêu dự kiến. Hoạt động này chính là quản lý. Quản lý diễn
ra trong mọi tổ chức từ đơn giản đến phức tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô
lớn. Nó chính là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của mỗi tổ chức.
[3].
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý thông qua công cụ quản lý, phương pháp quản lý nhằm
đạt được mục tiêu dự kiến. [26]
Theo đối tượng quản lý, các hoạt động quản lý có thể phân chia thành
ba nhóm chủ yếu: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật và quản lý xã
hội. Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn
tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước. [3].
Quản lý Nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan
Nhà nước thực thi quyền lực Nhà nước.
Về nguyên tắc, quyền lực Nhà nước hiện nay ở mọi quốc gia được chia
thành ba bộ phận cơ bản: quyền lập pháp (quyền ban hành và sửa đổi Hiến
pháp và luật, xây dựng các quy tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh tất cả các
mối quan hệ xã hội theo định hướng thống nhất của Nhà nước), quyền hành
pháp (quyền thực thi pháp luật) và quyền tư pháp (xử lý các vi phạm pháp
luật).
Quản lý nhà nước chính là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước do
các cơ quan nhà nước tiến hành đối với mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội,
trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước
có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả
cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo
một định hướng thống nhất của nhà nước. [3].
18
làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát
triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh tại địa phương.
1.2. Quan điểm của Đảng về phát huy vai trò của Hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam trong quản lý nhà nước
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã và đang
khẳng định vai trò và tầm quan trọng trong hệ thống chính trị, đóng góp
không nhỏ vào công cuộc đổi mới đất nước.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản Việt
Nam ngày 18/12/1986 đã nêu:
Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu
lực quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, củng
cố và phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể quần chúng nhất
là Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Liên
hiệp Nông dân tập thể... Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của các
tổ chức quần chúng, hướng mạnh về cơ sở, thu hút đông đảo nhân dân vào các
phong trào cách mạng.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta chỉ rõ:
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan
trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo
lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành
mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách
mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, tăng cường mối liên hệ giữa nhân dân với
Đảng, Nhà nước. Các đoàn thể nhân dân tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục
20
phục “hành chính hóa” hoạt động và “công chức hóa” cán bộ; tăng cường
phối hợp công tác giữa Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội với
các cơ quan, tổ chức có liên quan; tích cực tổ chức triển khai và nâng cao chất
lượng giám sát, phản biện xã hội”.
Là 1 trong 6 tổ chức chính trị - xã hội, đại diện cho hơn 51% dân số và
48% lực lượng lao động xã hội [25], Hội LHPN Việt Nam luôn được Đảng
quan tâm chỉ đạo sâu sát với mong muốn phát huy được vai trò của người phụ
nữ trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, vấn đề giải phóng phụ
nữ, “nam nữ bình quyền” và thực hiện bình đẳng giới được xác định là mục
tiêu của sự nghiệp cách mạng của Đảng. Tháng 10 năm 1930, Hội nghị
Trung ương lần thứ nhất của Đảng cộng sản Đông Dương đã đề ra Nghị
quyết về công tác vận động phụ nữ: “Phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách
mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn
các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng”. Chính vì vậy mà ngày
20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam chính thức được thành lập. Sự
kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai trò của phụ
nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng
phụ nữ.
Trong những năm tháng ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152NQ/TW ngày 10/01/1967, về “Một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ
vận”, Nghị quyết số 153-NQ/TW ngày 10/1/1967 về “Công tác cán bộ nữ”.
Bước vào thời kỳ đổi mới, ngày 12/7/1993 Bộ Chính trị ban hành Nghị
quyết số 04-NQ/TW về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ
trong tình hình mới”, Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư
TW về “một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”…
22