1
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC ÁP
DỤNG THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM TOÁN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH DO CÔNG TY AASC THỰC HIỆN
3.1. NHẬN XÉT VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG
TY AASC
3.2. NHẬN XÉT VỀ VIỆC THỰC HIỆNTHỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY AASC
Trong giai đoạn lập kế hoạch
Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán:
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán
3.3. KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN THỦ TỤC PHÂN TÍCH TRONG KIỂM
TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY AASC
Sự cần thiết phải hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo
tài chính của Công ty AASC
Kiến nghị nhằm hoàn thiện thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo
tài chính của Công ty AASC
* Về thủ tục phân tích
* Về đối tượng phân tích
* Về việc xác định mức độ trọng yếu
* Về phương pháp chọn mẫu
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
Một trong những sự kiện nổi bật gây ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế
của Việt Nam là ngày 7/11/2006 Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Điều đó có
nghĩa là chúng ta đang hòa nhập trong một nền kinh tế phát triển rất sôi động và
cạnh tranh gay gắt. Đứng trước các cơ hội và thách thức khi gia nhập nền kinh tế
điều này có ý nghĩa rất quan trọng.
Nhận thức được tầm quan trọng của thủ tục phân tích trong kiểm toán,
trong quá trình thực tập tại Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và
Kiểm toán (AASC) em đã quyết định chọn đề tài: “Hoàn thiện việc áp dụng
thủ tục phân tích trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Dịch vụ Tư
vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán (AASC) thực hiện ”, để tìm hiểu sâu hơn
thủ tục phân tích được áp dụng trong thực tiễn, đồng thời nghiên cứu hoàn
thiện hơn phát huy ưu điểm của phương pháp kiểm toán này.
Với sự hướng dẫn nhiệt tình của Ths. Bùi Thị Minh Hải và các kiểm
toán viên, trợ lý kiểm toán trong Phòng kiểm toán 3 tại Công ty AASC, luận
văn tốt nghiệp của em về cơ bản là hoàn thành. Ngoài lời mở đầu và phần kết
luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về việc thực hiện thủ tục phân tích trong
kiểm toán báo cáo tài chính.
Chương 2: Quy trình thực hiện thủ tục phân tích trong Kiểm toán
báo cáo tài chính do Công ty Dịch vụ Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm
toán thực hiện.
Chương 3: Nhận xét và kiến nghị nhằm hoàn thiện việc áp dụng
thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Dịch vụ
Tư vấn Tài chính Kế toán và Kiểm toán thực hiện
4
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Do còn hạn chế về kiến thức và bỡ ngỡ trong thực tế, bài viết của em
không thể không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong được sự góp ý chỉ
bảo thêm của cô để em có được những hiểu biết sâu sắc hơn.
Cũng nhân dịp này, em xin chân thành cảm ơn tới những người đã giúp
đỡ em hoàn thành bài viết, đặc biệt là Th.s Bùi Thị Minh Hải, người đã hướng
dẫn tận tình trong suốt thời gian qua và các anh các chị trong Phòng kiểm
toán 3 đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi trong việc thu thập thông tin và tìm
hiểu công tác kiểm toán trong thực tiễn.
khoăn của những người ra quyết định đó là sử dụng các Báo cáo tài chính đã
6
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
được kiểm toán.
1
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200 định nghĩa: “Báo
cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán
hiện hành hoặc được chấp nhận phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ
yếu của đơn vị”
1
. Báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo
cáo tài chính. Theo chuẩn mực kế toán số 200 cả 4 báo cáo này đều là bắt
buộc
Kiểm toán tài chính là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các
bảng khai tài chính của các thực thể kinh tế do các kiểm toán viên có trình
độ nghiệp vụ tương xứng đảm nhận và dựa trên hệ thống pháp lý đang có
hiệu lực.
Kiểm toán báo cáo tài chính là sự kiểm tra và trình bày ý kiến nhận xét
của kiểm toán viên và công ty kiểm toán về tính trung thực, hợp lý, tính hợp
thức và tính hợp pháp của các Bảng khai tài chính.
1.1.2. Đối tượng của kiểm toán tài chính
Đối tượng kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính và những bảng kê
khai có tính pháp lý khác như Bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài
sản đặc biệt (kể cả các bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sản hoặc bán
đấu giá…), các bảng khai theo yêu cầu riêng của chủ đầu tư… Khi nói đối
tượng kiểm toán tài chính là các Bảng khai tài chính là nói đến quan hệ trực
tiếp. Trên cả lý luận cũng như thực tế, để xác minh và bày tỏ ý kiến về Bảng
khai tài chính, kiểm toán tài chính không thể tách rời các tài liệu kế toán, các
hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý của đơn vị nhằm xác minh cụ thể độ
3 GS.TS. Nguyễn Quang Quynh, KTTC, 2001, BTC, trang 10, dòng 19
3
GS.TS. Nguyễn Quang Quynh, KTTC, 2001, BTC, trang 10, d òng 24
8
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
v.v… Cách phân chia này hiệu quả hơn do xuất phát từ mối liên hệ vốn có của
các nghiệp vụ và từ đó thu gom được các đầu mối của các mối liên hệ trong
kinh tế và trong ghi sổ kế toán chứa đựng trong Bảng khai tài chính. Theo
cách phân chia này, kiểm toán Bảng khai tài chính thường bao gồm những
phần hành cơ bản sau:
Kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền (tiêu thụ).
Kiểm toán tiền mặt (tại két, tại ngân hàng hoặc đang chuyển).
Kiểm toán chu trình mua hàng - trả tiền (cung ứng và thanh toán).
Kiểm toán chu trình thuê mướn nhân công và trả lương (tiền lương
và nhân viên).
Kiểm toán hàng tồn kho.
Kiểm toán huy động - hoàn trả vốn.
1.1.3. Chức năng
Là một loại hình kiểm toán, kiểm toán tài chính cũng thực hiện chức
năng xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.
Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu,
tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài
chính.
Xác minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và
phát triển của hoạt động kiểm toán. Biểu hiện của nó là:
Xác minh độ tin cậy của các con số
Xác minh việc tuân thủ các quy định và tính hợp thức, hợp pháp của
các biểu mẫu kế toán.
9
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý tình hình tài chính trên các khía
cạnh trọng yếu hay không? Ngoài ra, kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp
cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm
nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị”.
Ở đây, các khái niệm trung thực, hợp lý, hợp pháp được hiểu như sau:
Trung thực: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng sự
thật nội dung, bản chất và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Hợp lý: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh trung thực,
cần thiết và phù hợp về không gian, thời gian và sự kiện được nhiều người
thừa nhận.
Hợp pháp: là thông tin tài chính và tài liệu kế toán phản ánh đúng pháp
luật, đúng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận).
Để đạt được mục đích hay mục tiêu tổng quát nói trên cần cụ thể hóa
hơn nữa các yếu tố cấu thành và tiến trình thực hiện các yêu cầu trung thực,
hợp lý, hợp pháp trong xác minh và bày tỏ ý kiến về toàn bộ Báo cáo cũng
như trong phần hành kiểm toán cụ thể. Giải quyết vấn đề này trước hết cần
xuất phát từ đặc điểm của đối tượng kiểm toán cùng các quan hệ trách nhiệm
giữa chủ thể và khách thể kiểm toán trong việc thực hiện các yêu cầu trung
thực, hợp lý và hợp pháp nói trên của quản lý và Báo cáo tài chính.
Mục tiêu xác minh tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của Báo cáo tài
chính cần được cụ thể hóa theo các yếu tố của hệ thống kế toán (phương pháp
kế toán) trong quan hệ trực tiếp với việc hình thành với các bảng
5
như sau
5
5
GS.TS.Nguyễn Quang Quynh, KTTC, 2001, BTC, trang 35, dòng1
4
- Bộ tài chính - Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, NXB Tài chính
11
quản lý
- Định khoản và ghi sổ
đúng, cộng dồn số dư và
chuyển sổ chính xác
Tổng hợp -
cân đối kế
toán
- Khái quát các quan hệ
tài chính
- Cân đối tổng thể hoặc
bộ phận
Bảng tổng hợp -Phân tích quyền sở hữu
(tài sản) và nghĩa vụ (vốn)
với quan hệ hợp đồng
(ngoài bảng)
- Cân đối tài sản với vốn,
thu với chi (và số dư)
- Chuyển đúng số dư (hoặc
số phát sinh) vào khoản
mục tương ứng
Các mục tiêu kiểm toán chung lại được chia thành hai loại cụ thể là sự
hợp lý chung và các mục tiêu khác. Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem
12
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các khoản mục trên cơ sở cam kết chung
về trách nhiệm của quản lý và thông tin thu được qua khảo sát thực tế ở khách
thể kiểm toán trong quan hệ với việc lựa chọn các mục tiêu chung khác. Do
đó đánh giá sự hợp lý chung cũng hướng tới khả năng sai sót cụ thể của các
số tiền trên khoản mục. Trên cơ sở đó có thể đánh giá khả năng đạt được các
mục tiêu khác. Nếu kiểm toán viên không nhận thấy mục tiêu hợp lý chung đã
Báo cáo tài chính theo bản chất kinh tế của chúng được thể chế bằng các văn
bản pháp lý cụ thể đang có hiệu lực.
Mục tiêu chính xác cơ học là hướng xác minh về sự đúng đắn tuyệt đối
qua các con số cộng sổ và chuyển sổ: các chi tiết trong số dư (cộng số phát
sinh) của tài khoản cần nhất trí với các con số trên các sổ phụ tương ứng; số
cộng gộp của tài khoản trùng hợp với số tổng cộng trên các sổ phụ có liên
quan; các con số chuyển sổ, sang trang phải thống nhất.
Mục tiêu trình bày hướng xác minh vào cách ghi và thuyết trình các số
dư (hoặc tổng số phát sinh của tài khoản) vào các Báo cáo tài chính.
1.2. HỆ THỐNG PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN TÀI CHÍNH
Để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính
cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối
chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, thực
nghiệm, điều tra). Tuy nhiên, do mỗi loại kiểm toán có chức năng cụ thể khác
nhau, đối tượng cụ thể khác nhau và quan hệ chủ thể, khách thể kiểm toán
khác nhau nên trong kiểm toán tài chính, cách thức kết hợp các phương pháp
cơ bản trên cũng có những điểm đặc thù.
Xét về mặt thực hiện chức năng chung của kiểm toán, kiểm toán tài
chính hướng tới việc bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán. Để
14
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
có được những bằng chứng này, kiểm toán tài chính cần triển khai các phương
pháp cơ bản trên theo từng tình huống cụ thể. Trong Chuẩn mực Kiểm toán
quốc tế 8500 và Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500, những cách thức cụ
thể này được gọi là phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán. Tùy từng
tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm toán mà các phương pháp kiểm
toán cơ bản được triển khai theo hướng kết hợp lại hoặc chi tiết.
Xét về đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các Báo cáo kế toán
và các bảng tổng hợp tài chính đặc biệt khác. Xét về nguyên tắc, để bày tỏ ý
kiến về Bảng khai tài chính trong mọi trường hợp, việc xác minh về độ tin cậy
Phân tích là giảng giải, nhận xét tỉ mỉ làm sáng tỏ mặt bản chất nào đó
của sự vật, hiện tượng.
Thủ tục phân tích được hiểu theo nghĩa là công việc theo trình tự nhất
định để làm sáng tỏ mặt bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng. Theo Chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam 520
7
, quy trình phân tích là việc phân tích các số
liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng, biến
động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan
khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.
Quy trình phân tích bao gồm việc so sánh các thông tin tài chính,
như:
So sánh thông tin tương ứng trong kỳ này với các kỳ trước;
So sánh giữa thực tế với kế hoạch của đơn vị (Ví dụ: Kế hoạch sản
xuất, kế hoạch bán hàng ...);
So sánh giữa thực tế với ước tính của kiểm toán viên (Ví dụ: Chi phí
khấu hao ước tính...);
6
6
Như ý-Từ điển Tiếng việt thông dụng, NXB Giáo dục, 2002, trang 2141
7
7
Bộ Tài chính-Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, NXB Tài chính
16
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
So sánh giữa thực tế của đơn vị với các đơn vị trong cùng ngành có
cùng quy mô hoạt động, hoặc với số liệu thống kê, định mức cùng ngành (Ví
dụ: Tỷ suất đầu tư, tỷ lệ lãi gộp...).
Quy trình phân tích cũng bao gồm việc xem xét các mối quan hệ:
Giữa các thông tin tài chính với nhau (Ví dụ: Mối quan hệ giữa lãi
số dư tài khoản hay khoản mục giữa các kỳ kế toán trước, kiểm toán viên có
thể đưa ra dự kiến của kỳ hiện tại.
Có thể phân chia thủ tục phân tích xu hướng thành hai dạng là: Phân
tích xu hướng giản đơn và phân tích hồi quy.
Phân tích xu hướng giản đơn: Là xác định con số ước tính dựa trên
số dư tài khoản kỳ trước.
Phân tích hồi quy: Là sử dụng phương pháp toán học trong phân tích
tài chính để biểu hiện và đánh giá các mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế.
Phương pháp này xác định sự thay đổi của nguyên nhân. Đây là phương pháp
phổ biến và có hiệu quả sử dụng cao hơn so với phương pháp phân tích xu
hướng giản đơn. Vì nó chi tiết đến từng yếu tố của chỉ ta đang xem xét.
Phân tích tỷ suất là một thuật ngữ thường được sử dụng để nói tới
việc phân tích tỷ suất số dư tài khoản này với một số dư tài khoản khác, một
loại sự thay đổi liên quan đến số dư tài khoản, các dữ liệu tài chính với dữ
liệu hoạt động của một yếu tố qua một thời gian hay so với các yếu tố khác.
Nếu phân tích xu hướng tập trung vào một tài khoản cụ thể và không đi vào
phân tích mối quan hệ về số dư các tài khoản thì phân tích tỷ suất lại tập trung
vào mối quan hệ này. Phân tích tỷ suất chủ yếu áp dụng đối với bảng cân đối
kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, dự đoán xu hướng biến
động của các tài khoản thường không đem lại hiệu quả cao do các số dư tài
khoản trên bảng cân đối kế toán được đưa ra vào một thời điểm, trong khi đó
18
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
phân tích tỷ suất giữa các số dư tài khoản trên báo cáo kết quả kinh doanh lại
hiệu quả do nó phản ánh sự biến động kết quả hoạt động kinh doanh trong
mối quan hệ với các khoản mục. Trong thực hành kiểm toán, kiểm toán viên
thường tiến hành thủ tục phân tích thông qua các nhóm tỷ suất:
Nhóm tỷ suất về khả năng thanh toán
Nhóm tỷ suất hoạt động
Nhóm tỷ suất đòn bẩy
việc quản lý và bán hàng tồn kho. Nhìn chung, một vòng quay cao là dấu hiệu
của hiệu suất quản lý hàng tồn kho và lợi nhuận của DN. Đặc biệt chú ý
ngành kinh doanh là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá vòng quay
hàng tồn kho.
Hai chỉ số này là một phương thức để đánh giá hiệu quả quản lý trong
việc tạo ra doanh thu từ việc đầu tư vào tài sản. Chỉ số lợi tức tài sản cố định
chỉ xem xét hoạt động đầu tư vào tài sản, nhà xưởng và các thiết bị và cực kỳ
quan trọng với công ty hoạt động trong lĩnh vực cần nhiều vốn. Nhìn chung
chỉ số này càng cao, thì càng cần ít đầu tư vào tài sản tạo doanh thu và từ đó
công ty càng thu được lợi nhuận cao hơn
Các tỷ suất đòn bẩy
Các chỉ số nợ đều đánh giá nguồn tài chính của công ty được tài trợ từ
20
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
các khoản nợ. Số lượng nợ và tỷ lệ trong cấu trúc vốn của công ty là cực kỳ
quan trọng đối với việc phân tích tài chính vì sự đánh đổi giữa rủi ro và lợi
tức.
Tỷ suất nợ xem xét tỷ lệ tài sản được tài trợ do vay nợ
Chỉ số này xem xét mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho các hoạt động lâu
dài của công ty
Tỷ suất nợ trên vốn cổ phần =
Chỉ số nợ trên vốn cổ phần đánh giá mức độ rủi ro của cấu trúc vốn của
công ty xét trên mối quan hệ giữa các nguồn tài trợ từ các nhà cho vay và các
nhà đầu tư.
mà tất cả đều có ảnh hưởng tới kế hoạch kiểm toán của đơn vị.
Ví dụ: Khi tiến hành thủ tục phân tích, rà soát các số liệu tài chính,
kiểm toán viên thấy khoản chi phí tài chính tăng lên một cách bất ngờ khi tiến
hành kiểm toán kiểm toán viên cần làm rõ sự tăng lên đáng kể này, kiểm tra
các nguyên nhân gây ra sự tăng đó, có hợp lý không có đúng với qui định hiện
hành không. Hoặc, nếu tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng giá trị tài sản ròng cao hơn
bình thường, thêm vào đó là tỉ lệ dưới trung bình của lợi nhuận so với tổng tài
sản thì có thể chỉ ra mức rủi ro cao của sự thiếu hụt tài chính, điều này chứng
tỏ doanh nghiệp đang đứng trước những khó khăn khắc nghiệt về mặt tài
22
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
chính, khả năng thiếu hụt về mặt tài chính này cần được KTV xem xét lại
trong quá trình đánh giá các rủi ro kiểm toán. Những chỉ tiêu tài chính đó
không những chỉ có ảnh hưởng đáng kể đến kế hoạch kiểm toán mà nó còn có
ảnh hưởng đến việc đánh giá khả năng hoạt động trong tương lai của doanh
nghiệp. Như vậy trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thủ tục phân tích
giúp kiểm toán viên dự trù thời gian, khoanh vùng phạm vi cần kiểm tra đặc
biệt.
Thực hiện thủ tục phân tích giúp kiểm toán viên hạn chế tối đa các thủ
tục kiểm toán chi tiết, tiến hành kiểm toán không dàn trải mà tập trung vào
các sai sót trọng yếu, làm rõ những nghi vấn, những dấu hiệu bất thường, làm
giảm chi phí, thời gian kiểm toán, tăng hiệu quả làm việc và chất lượng kiểm
toán. Thủ tục phân tích trong giai đoạn này được xem như một loại thử
nghiệm cơ bản cung cấp bằng chứng về sự hợp lý của các khoản mục hay
thông tin tài chính khác. Không những làm rõ nguyên nhân chênh lệch, các
sai sót trọng yếu mà thủ tục phân tích còn giúp củng cố hoạt động kế toán tại
doanh nghiệp.
Trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, thủ tục phân tích được sử dụng để
đánh giá tổng quát lần cuối cùng toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm
khẳng định một lần nữa cho kết luận kiểm toán, hoặc phải tiến hành thêm các
quan trọng khác. Việc lập kế hoạch giúp KTV phối hợp hiệu quả với nhau và
với các bộ phận liên quan. Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty
kiểm toán tránh bất đồng với khách hàng, đồng thời có thể rà soát lại, đánh
giá được các bước công việc đã và đang thực hiện. Khi đã có đầy đủ các
thông tin cần thiết, KTV thực hiện các thủ tục phân tích trong giai đoạn này
nhằm:
24
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Xác định các vấn đề nghi vấn về khả năng hoạt động, đánh giá hiệu
quả hoạt động, hiểu rõ thực trạng hoạt động kinh doanh
Xác định được các nghiệp vụ bất thường, các số dư dự kiến từ đó
phát hiện các rủi ro, các sai phạm trọng yếu
Giúp KTV có sự hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính, những
biến đổi trong hoạt động kinh doanh
Thấy được những thay đổi trong chính sách kế toán của năm hiện
hành so với các năm trước
Giúp KTV có sự hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính, những
biến đổi trong hoạt động kinh doanh
Thấy được những thay đổi trong chính sách kế toán của năm hiện
hành so với các năm trước
Giúp KTV đánh giá được khả năng sinh lời, khả năng thanh toán
nhanh, thanh toán hiện thời.
1.4.1.2. Thực hiện thủ tục phân tích sơ bộ trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán
Thủ tục phân tích sơ bộ cần phải được thực hiện trong suốt giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán để giúp các kiểm toán viên tăng cường hiểu biết về
hoạt động kinh doanh của khách hàng và các nghiệp vụ, các sự kiện đã xảy kể
từ cuộc kiểm toán năm trước. Các thủ tục này cũng giúp cho các kiểm toán
viên trong việc rủi ro liên quan đến các khoản mục trong Báo cáo tài chính
đòi hỏi kiểm toán viên phải dành nhiều sự quan tâm hơn và do vậy nó giúp
Bước 3: Đánh giá kết quả so sánh ban đầu
Sau khi so sánh sơ bộ, kiểm toán viên tiến hành đánh giá sơ bộ kết quả
ban đầu để xem xét sự biến động của các số dư tài khoản, xem xét sự biến
động có phù hợp với các ước tính của KTV không. Nếu có sự sai khác lớn
kiểm toán viên cần thảo luận với nhà quản lý của đơn vị để xem xét lời giải