Năm học 2015 - 2016
KĨ NĂNG ĐỌC, VIẾT TIẾNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚP 1
DÂN TỘC HOA TẠI QUẬN 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Trần Thanh Dư,
Phan Ngọc Nhung,
Nguyễn Lê Thảo Quỳnh,
Huỳnh Kim Trang
(Sinh viên năm 4, Khoa Giáo dục Tiểu học)
GVHD: PGS TS Nguyễn Thị Ly Kha
TÓM TẮT
Dân tộc Hoa đã định cư và hòa nhập với cộng đồng người Việt lâu đời nhưng bản
sắc văn hóa và ngôn ngữ Hoa vẫn được lưu giữ khá bền vững. Học sinh dân tộc Hoa đến
trường học tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai. Đặc biệt, đối với các em học sinh lớp 1,
tiếng Việt của các em còn hạn chế và chưa chuẩn xác trong phát âm, sử dụng nhất là trong
đọc, viết. Qua việc khảo sát kĩ năng đọc, viết tiếng Việt của 150 em HS người Hoa lẫn Việt
học lớp 1 tại 3 trường tiểu học trên địa bàn Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh, bài viết mô
tả, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hỗ trợ HS lớp 1 dân tộc Hoa hình thành và
rèn luyện kĩ năng đọc, viết tiếng Việt.
Từ khóa: kĩ năng đọc, viết, tiếng Việt, dân tộc Hoa, lớp 1.
ABSTRACT
Reading and writing skills of ethnic chinese students grade 1 in District 5,
Ho Chi Minh city
Ethnic Chinese have settled and integrated into the Vietnamese community for a long
time but their cultural characters are still maintained stably. At school, Ethnic Chinese
study Vietnamese as a second language. Especially for Ethnic Chinese students grade 1,
their literacy are still limited as well as the pronunciation and usage in pronunciation and
usage. Through a survey of 100 Ethnic Chinese students grade 1 and 50 Vietnamese
students grade 1 at 3 elementary schools in district 5, Ho Chi Minh city, the research has
described and analyzed reality; published the solution toconstitute and improvethe reading
đến kĩ năng sử dụng tiếng Việt của HS dân tộc Hoa (lớp 1, lớp 2) [6], [8] lại cho rằng
HS dân tộc Hoa nhất là HS lớp 1 gặp không ít khó khăn trong việc sử dụng tiếng Việt
do ảnh hưởng của hiện tượng chuyện di ngôn ngữ. Tìm hiểu kĩ năng đọc, viết tiếng
Việt của HS dân tộc Hoa học lớp 1 tại Quận 5 TPHCM, chúng tôi xuất phát từ 2 giả
thuyết sau:
1) Kĩ năng đọc, viết tiếng Việt của HS dân tộc Hoa học lớp 1 ở TPHCM thấp
hơn HS dân tộc Kinh và thấp hơn nhóm HS dân tộc Hoa sử dụng tiếng Việt tại gia đình
và nhiều em chưa đạt chuẩn kiến thức kĩ năng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành.
2) Nếu giáo viên (GV) biên soạn bài tập đọc, viết dựa trên những loại lỗi mà HS
dân tộc Hoa học lớp 1 thường mắc phải, thì sẽ giúp các em rèn kĩ năng đọc, viết tiếng
Việt một cách có hiệu quả.
2. Thực trạng kĩ năng đọc, viết tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc Hoa tại
Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh
2.1. Nội dung đánh giá
Nhóm nghiên cứu tiến hành xây dựng nội dung đánh giá kĩ năng đọc, viết tiếng
Việt của HS lớp 1 dân tộc Hoa trên cơ sở: chương trình giáo dục phổ thông, chuẩn kiến
thức kĩ năng môn Tiếng Việt lớp 1 và thang nhận thức Bloom. Các tiêu chí đánh giá
dựa trên chuẩn kiến thức dành cho lớp 1 như sau: đọc thông, đọc trơn, đọc rõ tiếng, từ,
câu. đọc đúng các đoạn hoặc bài văn xuôi, văn vần, tốc độ đọc tối thiểu 20 chữ/phút;
hiểu nghĩa của từ ngữ trong bài đọc, nội dung thông báo của câu, đoạn, bài (mức độ
biết: nhớ thông tin hiển ngôn và mức độ hiểu: giải thích); tập viết các nét, chữ đã học;
tập chép, bước đầu nghe đọc, hiểu để viết chính tả, luyện viết các vần khó, các chữ mở
đầu bằng: g/gh; ng/ngh; c/k/q, viết đúng chính tả bài viết với tốc độ 20 chữ/ 15 phút.
Việc khảo sát thực trạng này được tiến hành tại 3 trường tiểu học tại Quận 5,
TPHCM trên 3 nhóm đối tượng HS lớp 1 (50 HS/nhóm): nhóm Hoa Hoa (HS dân tộc
Hoa sử dụng tiếng Hoa giao tiếp ở gia đình), nhóm Hoa Việt (HS dân tộc Hoa sử dụng
232
Tỉ lệ
(%)
Số
HS
Tỉ lệ
(%)
Số
HS
Tỉ lệ
(%)
0
1
2
0
0
0
0
29
58
36
72
48
96
0
0
0
0
0
0
0
1 – 20
26
9
18
15
30
0
3
6
1
2
1
2
1 – 20
32
64
34
9
18
0
3
6
3
6
0
0
Nội dung khảo sát
Tốc độ đọc chữ
cái (chữ/phút)
Kĩ
năng
đọc
lưu
loát
Tốc độ đọc từ
1 – 20
23
46
17
34
9
18
20 – 40
12
24
14
28
14
28
Trên 40
26
10
20
19
38
2
2
4
4
8
4
8
3
2
4
dưới chuẩn khi đọc từ quen thuộc là 12 em - 24%, khi đọc tiếng rỗng là 22 em - 44%
và khi đọc văn bản là 9 em - 18%.
Kết quả khảo sát thông tin cá nhân HScho thấy: nhóm HS Hoa Hoa có phụ huynh
làm nghề buôn bán chiếm 42% (cao nhất so với các nhóm nghề nghiệp còn lại), nhóm
trí thức: 7 em - 14%, nhóm lao động chân tay: 14 em - 28%, nhóm thất nghiệp 8 em 16%. Đối chiếu với kết quả này với kết quả về kĩ năng đọc lưu loát (đọc từ quen thuộc,
đọc tiếng rỗng, đọc văn bản) của các em nhóm Hoa Hoa, chúng tôi nhận thấy, các em
đọc dưới tốc độ chuẩn có nghề nghiệp của phụ huynh phân bố ở các nhóm lao động
chân tay, buôn bán, thất nghiệp và chỉ có số ít (từ 1 - 2 em) thuộc nhóm trí thức. Mặt
khác, sau giờ học tiếng Việt tại trường phổ thông, một số ít HS nhóm Hoa Hoa (9 em -
234
Năm học 2015 - 2016
18%) tham gia các lớp học bồi dưỡng tiếng Hoa tại các trung tâm, Hội quán. Kết quả
khảo sát cho thấy hầu hết những HS thuộc cả 2 nhóm trên đều có tốc độ đọc dưới
chuẩn. Một số HS dân tộc Hoa (13 em - 26%) đi học thêm tiếng Việt ngoài giờ có tốc
độ đọc trên chuẩn quy định. Từ kết quả thống kê trên, ta có thể nhận định kĩ năng đọc
thành tiếng (kĩ năng giải mã bậc 1) của HS lớp 1 có những ảnh hưởng đáng kể từ nghề
nghiệp của phụ huynh, từ việc học thêm của các em.
Về kĩ năng đọc hiểu:
Yêu cầu của bài khảo sát muốn hướng tới là việc giải mã kí tự để thông hiểu được
nội dung văn bản thông báo. Trong bài khảo sát có 3 câu hỏi, trả lời đúng 2 câu trở lên
là đạt yêu cầu bài khảo sát đề ra. Kết quả khảo sát cho thấy, không trả lời đúng câu nào
ở nhóm HS Hoa Hoa có 33 em - 66%, nhóm Hoa Việt có 33 em - 66%, nhóm Việt có
21 em - 42%. Ở mức trả lời đúng 1 câu hỏi, nhóm HS Hoa Hoa có 13 em - 26%, nhóm
Hoa Việt có 10 em - 20%, nhóm Việt có 19 em - 38%. Còn ở mức trên chuẩn cần đạt
(đúng 2 câu trở lên) nhóm HS Hoa Hoa có 4 em - 8%, nhóm Hoa Việt có 7 em - 14%,
nhóm Việt có 10 em - 20%. Các em HS nhóm Hoa Hoa trả lời đúng 2/3 câu hỏi đều
giao thoa ngôn ngữ Hoa - Việt. Từ nhỏ các em đã quen thuộc với tiếng Hoa bằng việc
nghe, nói và chỉ làm quen với tiếng Việt qua nghe, nói nên đến khi bước vào môi
trường học tập tại trường ở giai đoạn mầm non và đầu tiểu học (lớp 1), làm quen với
tiếng Việt qua nghe, nói, đọc, viết các em gặp không ít khó khăn vì tiếng Hoa và tiếng
Việt có khá nhiều điểm khác nhau về mặt phát âm lẫn chữ viết.
2.2.2. Kĩ năng viết
Bảng 3. Kết quả khảo sát kĩ năng viết
Hoa Hoa
Hoa Việt
Nội dung khảo sát
Số
Tỉ lệ
Số
Tỉ lệ
HS
(%)
HS
(%)
Kĩ năng
viết chữ
(tập viết)
Tỉ lệ
(%)
0
0
34
15
30
0
10
20
5
10
4
8
1–6
7
14
9
18
66
0
22
44
10
20
9
18
1 – 20
20
40
17
34
15
30
10
20
7
14
4
8
1
11
22
16
32
12
24
2
17
6
12
7
14
0
3
8
14
31
11
24
1–2
19
48
16
3
7
0
22
55
31
69
36
78
1
10
25
11
24
10
Số chữ
viết đúng
khi viết
chính tả
Số chữ
viết được
trong 1
phút khi
viết chính
tả
Số chữ sai
âm đầu
Số chữ sai
âm đệm
Số chữ sai
236
Số
HS
Không viết
Số chữ
viết được
khi viết
chính tả
11
8
17
Trên 4
7
18
6
13
5
11
0
0
0
14
31
22
Trên 4
2
5
3
7
5
11
0
3
8
14
31
20
43
3
8
3
7
3
7
Không viết
11
22
11
22
8
16
Viết sai chủ đề
3
Kĩ năng
viết sáng tạo
Kĩ năng viết là kĩ năng được hình thành trong quá trình học tập từ khi HS còn
nhỏ, các em bắt đầu từ những nét vẽ đơn giản đến khi vào lớp 1 thì các em mới thực sự
kết nối những đường cong, nét thẳng lại với nhau để thành con chữ. Bên cạnh đó, việc
viết chữ của các em còn phải tuân theo một quy tắc đã được quy ước sẵn đó là chính tả.
Do vậy, kĩ năng viết không hề đơn giản đối với HS lớp 1 nói chung và HS lớp 1 dân
tộc Hoa nói riêng.
Ở kĩ năng viết, chúng tôi khảo sát về 3 nội dung (kĩ năng viết chữ (tập viết), kĩ
năng viết chính tả, kĩ năng viết sáng tạo) và thu được kết quả sau:
Về kĩ năng viết chữ (tập viết): hầu hết tất cả các em đều đạt yêu cầu theo chuẩn kĩ
năng viết chữ theo chuẩn kiến thức kĩ năng. Giữa các nhóm không có sự chênh lệch
nhiều ở kĩ năng tập viết. Điều này cho thấy, các em đã rất cố gắng trong quá trình luyện
tập viết chữ và sự hỗ trợ thường xuyên, tận tình của giáo viên trong quá trình dạy học
tập viết.
Về kĩ năng viết chính tả: nhóm HS Hoa Hoa thực hiện bước khảo sát chính tả đạt
kết quả chưa tốt. Cụ thể, đạt trung bình từ 6/12 chữ trở lên, có 66% HS viết được và
16% HS viết đúng. Từ đó nhận thấy khả năng nghe viết của các em nhóm Hoa Hoa còn
hạn chế và các em viết sai khá nhiều chữ. Kết quả khảo sát cho thấy, các em nhóm Hoa
Hoa viết sai chính tả có phụ huynh làm nghề buôn bán là 21 em, lao động chân tay là
13 em, thất nghiệp là 6 em và tri thức là 2 em. Cũng nhóm HS trên, có 28 em không
học thêm tiếng Việt, 9 em học thêm tiếng Hoa và chỉ có 5 em học thêm tiếng Việt. Qua
đó, có thể thấy được: nghề nghiệp của phụ huynh cũng như yếu tố học thêm, thực hành
tiếng Việt thường xuyên cũng ảnh hưởng đến khả năng viết đúng chính tả của các em.
237
Đặc biệt khi viết, các em HS dân tộc Hoa thường chỉ liệt kê các thành viên trong gia
đình chứ chưa viết thành câu như các em HS dân tộc Kinh. Mặc dù chỉ viết các từ quen
thuộc trong chủ đề gia đình nhưng các em HS cả 3 nhóm vẫn sai chính tả khá nhiều,
trung bình cứ 2 chữ thì các em lại sai 1 lỗi chính tả.
Về tốc độ viết, giai đoạn này các em cần đạt 20 chữ/15 phút (tương đương 1.33
chữ/phút) theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Kết quả khảo sát cho thấy, có
113 em đạt chuẩn này (nhóm Hoa Hoa: 36 em - 72%, Hoa Việt: 37 em - 74%, Việt: 40
em - 80%).
Từ những phân tích trên, chúng tôi có thể nhận định kĩ năng viết sáng tạo của HS
lớp 1 còn chưa tốt (về số chữ viết được, viết đúng chủ đề) và hoàn cảnh gia đình, nghề
238
Năm học 2015 - 2016
nghiệp của phụ huynh có ảnh hưởng khá quan trọng tới kĩ năng viết sáng tạo của các
em.
Tóm lại, kĩ năng viết (tốc độ viết, viết chính tả, viết sáng tạo) của các em ở các
nhóm khảo sát đạt ở mức trung bình. Mặt khác, ở giai đoạn đầu học kì II, các em vẫn
chưa quen thuộc với kĩ năng viết, đặc biệt là viết chính tả và viết theo chủ đề nên kết
quả khảo sát chưa khả quan. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho phép ta rút ra nhận định:
kĩ năng viết của nhóm Việt và Hoa Việt vượt trội hơn so với nhóm Hoa Hoa. Ngoài ra,
các em HS ở cả 3 nhóm viết sai chính tả nhiều do chưa nắm chắc được các quy tắc viết
chính tả và chịu ảnh hưởng khá nhiều bởi yếu tố phương ngữ miền Nam, đặc biệt là
nhóm HS Hoa Hoa (VD: ng/ngh, g/gh). Đối với HS dân tộc Hoa, vốn tiếng Việt của
các em hạn chế hơn so với HS dân tộc Kinh nên việc viết đúng chính tả, viết sáng tạo
sẽ gặp nhiều khó khăn.
3. Đề xuất giải pháp hỗ trợ học sinh lớp 1 dân tộc Hoa hình thành kĩ năng đọc,
viết tiếng Việt
Kỉ yếu Hội nghị sinh viên NCKH
Quá trình thử nghiệm các giải pháp rèn kĩ năng đọc viết cho HS lớp 1 dân tộc
Hoa được tiến hành qua các bước: chuẩn bị nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức
dạy học, các phương tiện cần thiết để hỗ trợ cho việc hướng dẫn HS học tập; thực hiện
thử nghiệm các bài tập đã xây dựng; đánh giá kết quả thử nghiệm và rút ra kết luận.
Việc thử nghiệm các bài tập xây dựng được chúng tôi phối nhiều phương pháp
dạy học: phương pháp quan sát, đàm thoại, phỏng vấn, trò chơi học tập,... nhằm xây
dựng môi trường học tập thân thiện, tích cực, vừa tạo cho các em động cơ, hứng thú
học tập vừa giúp các em phát triển các kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng trình bày,…
Qua phỏng vấn 15 HS được thử nghiệm về hứng thú của các em đối với các dạng
bài tập chúng tôi nhận được kết quả khả quan: 100% số lượng HS được tác động thích
thú với bài tập chúng tôi đưa ra. Lí do các em yêu thích các bài tập này là: bài tập
không quá khó, phù hợp với khả năng của các em; từ ngữ gần gũi, quen thuộc; hình ảnh
sống động, có màu sắc tươi sáng tạo cơ hội cho các em vừa học vừa chơi; được viết
dưới dạng những mẩu chuyện ngắn, dạng đồng dao, không viết dưới dạng văn miêu tả
cảnh vật.
Các bài tập thử nghiệm nhằm kiểm tra mức độ phù hợp của bài tập đối với HS
nên chúng tôi chỉ đánh giá bài tập theo mức độ hoàn thành của các em. Kết quả thu
được: tỉ lệ HS hoàn thành các bài tập thử nghiệm mà giải pháp đề tài đề ra đều ở mức
độ cao (chiếm 96,76% ở kĩ năng đọc và 91,67% kĩ năng viết).
Sau thử nghiệm, chúng tôi tiến hành kiểm tra kĩ năng đọc, viết của 2 nhóm đối
chứng và thực nghiệm. Đối chiếu với kết quả khảo sát kĩ năng đọc viết của 2 nhóm này
trước thực nghiệm, chúng tôi thu được bảng kết quả sau:
Bảng 4. Kết quả kiểm tra kĩ năng đọc viết trước và sau thực nghiệm
Trước thử nghiệm
Sau thử nghiệm
Nhóm thử
Nhóm đối
12
80
11
73
5
33
7
47
Không nắm được nội dung
văn bản (không trả lời đúng
câu hỏi nào)
13
87
12
80
6
73
13
87
5
33
8
53
Các tiêu chí đánh giá ở bảng trên dựa vào Chuẩn kiến thức kĩ năng của HS lớp 1
theo từng giai đoạn [2]. Cụ thể, giai đoạn trước thử nghiệm: tốc độ đọc cần đạt là 20
240
Năm học 2015 - 2016
chữ/phút, tốc độ viết cần đạt là 20 chữ/15 phút; ở giai đoạn sau thực nghiệm: tốc độ
đọc cần đạt là 25 chữ/phút, tốc độ viết cần đạt là 25 chữ/15 phút).
Kết quả từ bảng 4 cho thấy, sau thử nghiệm, kĩ năng đọc, viết của các em đều có
sự tiến bộ. Trong đó, nhóm thử nghiệm tiến bộ đáng kể hơn nhóm đối chứng. Cụ thể:
- Tốc độ đọc dưới chuẩn: sau thử nghiệm, nhóm thử nghiệm giảm 47% và thấp
hơn nhóm đối chứng 14% (trước thử nghiệm tốc độ đọc dưới chuẩn nhóm thử nghiệm
cao hơn nhóm đối chứng 7%).
- Không nắm được nội dung văn bản (không trả lời đúng câu hỏi nào): sau thử
1. Vũ Thị Ân, Nguyễn Thị Ly Kha (2009), Tiếng Việt giản yếu, Nxb Giáo dục.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các
môn học ở tiểu học - Lớp 1, Nxb Giáo dục.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Tiếng Việt 1, tập 1-2, Nxb Giáo dục.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2010), “Bộ chuẩn phát triển của trẻ 5 tuổi”,
truy cập ngày 15/02/2016.
5. Trần Văn Giàu (chủ biên) (1987), Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, phần 1,
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
6. Nguyễn Trần Diễm Kiều, Phan Thị Tường An, Phạm Vũ Tuyết Anh, Lại Thị Hường,
Hoàng Thị Phúc (2015), “Kĩ năng nói, viết tiếng Việt của HS lớp 1 dân tộc Khmer,
Hoa và Kinh trên địa bàn TPHCM: một góc nhìn so sánh”, Kỷ yếu hội thảo khoa học
Giáo dục Tiểu học trong xu hướng đổi mới sau năm 2015, tr.36-47.
7. Phạm Toàn, Nguyễn Trường (1978), Phương pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc
thiểu số, Nxb Giáo dục.
8. Nguyễn Hoàng Phương Trâm (2015), Bài tập rèn kĩ năng chính tả cho học sinh dân
tộc Hoa học lớp 2 tại Quận 11, TPHCM, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục,
Trường Đại học Sư phạm TPHCM.
9. Lê Văn Trung (2012), “Bước đầu tìm hiểu hiện tượng chuyển di ngôn ngữ từ Việt
sang Hán”, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TPHCM, (35), tr.123-130.
10. Hoàng Thị Tuyết (2013), Lí luận dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, phần 1-2, Nxb Thời
đại.
242