Đầu tư và đầu tư tư nhân vào phát triển cơ sở hạ tầng cấp
nước đô thị
1.1. Cơ sở hạ tầng và cơ sở hạ tầng cấp nước đô thị
1.1.1. Cơ sở hạ tầng và phân loại cơ sở hạ tầng
1.1.1.1. Khái niệm chung về cơ sở hạ tầng.
Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, năng lực sản xuất hay sức
sản xuất được quyết định bởi lực lượng sản xuất. Đến lượt mình, toàn bộ lực
lượng sản xuất chỉ có thể hoạt động bình thường trên chỉ có thể hoạt động bình
thường trên cơ sở nền tảng hoàn chỉnh hay có đầy đủ các điều kiện. Nó bao gồm
bản thân người lao động, tư liệu lao động, tư liệu sản xuất và công nghệ. Trong
tư liệu sản xuất, có một bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất với tính cách là
những cơ sở, phương diện chung mà nếu thiếu nó thì quá trình sản xuất và
những dịch vụ trong sản xuất sẽ trở nên khó khăn hay không thể diễn ra được.
Tòan bộ những phương diện đó được đúc kết trong khái niệm cơ sở hạ tầng.
Nói đến cơ sở hạ tầng, có rất nhiều khái niệm được đưa ra, trước hết,
chúng ta đề cập tới thuật ngữ “ Cơ sở hạ tầng” ( trong tiếng anh là
infrastructure) được hiểu với quan điểm sau:
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những hệ thống cấu trúc, thiết bị và các công
trình vật chất, kỹ thuật được tạo lập tồn tại và phát huy tác dụng trong mỗi quốc
gia, khu vực hay vùng lãnh thổ, nó đóng vai trò là nền tảng và điều kiện chung
cho các hoạt động kinh tế - xã hội, cho quá trình sản xuất và nâng cao đời sống
dân cư.
Thuật ngữ cơ sở hạ tầng ngày càng được sử dụng nhiều, tuy nhiên ngay
cả thuật ngữ này cũng còn nhiều ý kiến khác nhau, chúng ta có thể thấy có hai
loại ý kiến khác nhau xuất phát từ hai quan niệm theo nghĩa rộng và theo nghĩa
hẹp về cơ sở hạ tầng. Theo nghĩa hẹp, cơ sở hạ tầng được hiểu là tập hợp các
ngành phi sản xuất vật chất thuộc lĩnh vực lưu thông bao gồm các công trình vật
chất kỹ thuật phi sản xuất và các tổ chức dịch vụ có chức năng bảo đảm những
điều kiện chung cho sản xuất, phục vụ những yêu cầu phổ biến của sản xuất và
đời sống xã hội, theo cách hiểu này cơ sở hạ tầng chỉ bao gồm các công trình
giao thông, cấp thoát nước, cung ứng điện, hệ thống thông tin liên lạc…và các
1.1.1.2. Phân loại cơ sở hạ tầng
Để có thể nhận biết và có biện pháp tạo lập vốn phù hợp đối với từng loại
sơ sở hạ tầng nhằm tạo điều kiện huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển
cơ sở hạ tầng. Có thể phân chia cơ sở hạ tầng theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Phân chia theo tiêu thức ngành kinh tế quốc dân:
Dựa vào tiêu thức phân loại này, cơ sở hạ tầng được chia thành : Cơ sở hạ
tầng của công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông…(
Cơ sở hạ tâng kinh tế); giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục thể thao...( Cơ sở
hạ tầng xã hội)
Cơ sở hạ tầng phục vụ lĩnh vực kinh tế (Cơ sở hạ tầng kinh tế): Đó là hệ
thống vật chất kỹ thuật cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế như
cơ sở hạ tầng của ngành công nghiệp, nông nghiệp, hệ thống giao thông vận tải;
mạng lưới chuyên tải và phân phối năng lượng điện; hệ thống công trình và
phương tiện thông tin liên lạc, bưu điện, viễn thông, cấp thoát nước…
Cơ sở hạ tầng phục vụ lĩnh vực xã hội ( Cơ sở hạ tầng xã hội) : Đó là toàn
bộ hệ thống vật chất kỹ thuật phục vụ cho các hoạt động văn hoá, xã hội đảm
bảo cho việc thoả mãn và nâng cao trình độ dân trí, văn hoá tinh thần cho dân
cư, cho quá trình tái sản xuất sức lao động của xã hội như các cơ sở, thiết bị và
công trình phục vụ giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, các cơ sỏ y tế phục
vụ chăm sóc sức khỏe…nó thường gắn với đời sống của các điểm dân cư, góp
phần ổn định nâng cao đời sống dân cư trên lãnh thổ
Sự phân chia này chỉ là tương đối vì trên thực tế, ít loại cơ sở hạ tầng
nào hoàn toàn chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược
lại. Chẳng hạn như hệ thống mạng lưới điện mở rộng đến nông thôn, đến vùng
sâu, vùng xa giúp cho việc phát triển sản xuất nhưng đồng thời nó còn phục vụ
cho đời sống, ở những nơi có điện, người dân có thể sử dụng các phương tiện
hiện đại như đài, ti vi… để tiếp cận với những thông tin văn hóa xã hôi, nâng
cao trình độ dân trí.
Sự phân chia này cho phép chúng ta xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của từng ngành cụ thể, đồng thời xác lập mối quan hệ liên kết và
phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp là trung tâm tổng hợp hay trung tâm
chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước của
một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh, trong huyện.
Cơ sở hạ tầng đô thị là một bộ phận của cơ sở hạ tầng. Cơ sở hạ tầng đô
thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục
vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị. Nó chính là tiêu
chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn.
Cơ sở hạ tầng đô thị bao gồm toàn bộ các công trình giao thông vận tải,
bưu điện, thông tin- liên lạc, dịch vụ xã hội như : đường sá, cấp thoát nước, sân
bay, nhà ga, xe lửa, y tế, dịch vụ ăn uống công cộng, nghỉ ngơi, du lịch, vui chơi
giải trí…phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho dân cư khu vực đô thị.
1.1.2.2. Phân loại cơ sở hạ tầng đô thị
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, chúng ta có thể phân chia cơ sở hạ tầng
đô thị thành nhiều loại khác nhau, nhưng phân loại theo tính chất ngành là thông
dụng nhất và có ý nghĩa nhiều nhất đối với công tác quy hoạch và phát triển đô
thị. Theo tính chất này, cơ sở hạ tầng đô thị được phân chia thành: cơ sở hạ tầng
kỹ thuật đô thị, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: đây là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế trong nền kinh tế quốc
dân bao gồm : hệ thống giao thông vận tải, cầu cống, sân bay, bến cảng, cấp
thoát nước…Hệ thống cung ứng vật tư kỹ thuật, nguyên nhiên vật liệu phục vụ
sản xuất và đời sống; cơ sở hạ tầng môi trường phục vụ cho việc bảo vệ, giữ gìn
và cải tạo môi trường sinh thái của đất nước và môi trường sống của con
người…
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội : Bao gồm toàn bộ các công trình như nhà
xưởng, kho bãi, khách sạn, khu thương mại (chơ, siêu thị..), trụ sở làm việc của
các cơ quan hành chính, kinh tế và các tổ chức xã hội…
Cơ sở hạ tầng dịch vụ xã hội : Đó là toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, kỹ
thuật phục vụ cho hoạt động văn hóa, xã hội, bảo đảm cho việc thỏa mãn và
nâng cao trình độ lao động của người lao động, hệ thống này bao gồm các cơ
18/04/2002 của Bộ trưởng Bộ Y Tế). Nước sạch phải đảm bảo chất lượng theo
quy định trên toàn hệ thống từ sau công trình xử lý đến người trực tiếp sử dụng
Như chúng ta đã biết, trong đời sống sinh hoạt cũng như trong sản xuất,
nước sạch có vai trò vô cùng quan trọng
* Trong đời sống sinh hoạt:
Nước là tài nguyên, là tư liệu thiết yếu cho cuộc sống con người. Không
có nước thì không có sự sống. Chúng ta cần nước cho sinh hoạt, bảo vệ sức
khoẻ và vệ sinh.
Nước sạch có vai trò cực kì quan trọng trong đời sống của con người. Nó
đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người : ăn, uống. Trong cơ thể con người
chiếm tới 70% là nước, chúng ta có thể không ăn trong một tuần nhưng không
thể sống không quá ba ngày mà không có nước. Hàng ngày mỗi người cần tối
thiểu 60 – 80 lít, tối đa tới 150 – 200 lít nước dùng cho sinh hoạt ; riêng lượng
nước ăn uống vào cơ thể ít nhất cũng tới 1,5-2 lít mỗi ngày. Ngoài ra, nước dưới
đất còn chứa 60 nguyên tố đa lượng, vi lượng rất cần thiết cho sự sống.
* Trong sản xuất:
Nước sạch không chỉ dùng trong ăn uống, sinh hoạt cho con người mà nó
càn rất cần cho sản xuất nông nghiệp (đảm bảo tưới tiêu nước đi đôi với cải tạo
đất lầy thụt, chua phèn, nhiễm mặn, bạc mầu, phục vụ thâm canh, tăng vụ), thuỷ
sản, công nghiệp (góp phần quan trọng, bảo đảm các điều kiện để phát triển
ngành công nghiệp với nhịp độ cao, mở rộng quy mô và phân bố lại các lĩnh
vực sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại), du lịch và các
ngành kinh tế khác. Nước còn cần cho phát triển thuỷ điện và giao thông thuỷ.
Thực tế cho chúng ta thấy, dân cư đô thị có nhu cầu chất lượng cao hơn
những vùng khác. Sở dĩ có những điều đó là do dân cư đô thị có mức sống cao
hơn so với dân cư khu vực nông thôn, do đó đòi hỏi về nước sạch cũng như mức
độ sẵn sàng chi trả cho dịch vụ nước sạch của dân cư đô thị so với dân cư nông
thôn cũng cao hơn.
Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh, theo cùng tốc độ đó thì dân cư
đô thị ngày một tăng lên. Mặc dù tốc độ tăng dân số tự nhiên ở các vùng đô thị