Thực trạng sử dụng tài sản lưu động tại xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền bắc - Pdf 69

Thực trạng sử dụng tài sản lu động tại xí nghiệp
kinh doanh các sản phẩm khí miền bắc
*********
1. Giới thiệu chung về xí nghiệp kinh doanh sản phẩm khí miền Bắc:
1.1. Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của xí nghiệp kinh doanh
sản phẩm khí miền Bắc:
- Tên gọi: Xí nghiệp kinh doanh sản phẩm khí Miền Bắc (sau đây gọi tắt là xí
nghiệp II).
- Trụ sở chính: số 29F Hai Bà Trng - quận Hoàn Kiếm - Hà Nội .
- Tel: 9.348344
- Fax: 9.348353/9.348354.
Do xí nghiệp kinh doanh các sản phẩm khí miền bắc (xí nghiệp II) là
một đơn vị trực thuộc của công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí
(sau đây gọi là công ty) nên phần này sẽ giới thiệu những nét tổng quát về công
ty và giới thiệu chi tiết hơn về đơn vị thực tập là xí nghiệp kinh doanh các sản
phẩm khí miền bắc.
1.1. Những nét chính về công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí:
a/ Quá trình hình thành và phát triển công ty:
Công ty chế biến và kinh doanh các sản phẩm khí (viết tắt là PVGAS-
Petro Vietnam Gas Company) là một đơn vị trực thuộc tổng công ty dầu khí
Việt Nam, đợc thành lập từ 9/1990, có trụ sở tại 101 Lê Lợi, thành phố Vũng
Tàu, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu với tổng số vốn ban đầu là gần 70 tỷ VNĐ. Đây là
đơn vị duy nhất của tổng công ty dầu khí Việt Nam làm công việc chế biến,
phân phối và kinh doanh các sản phẩm khí.
Tháng 5/1995, công ty đã khánh thành hệ thống ống dẫn khí ở mỏ Bạch
Hổ để nhận gas từ ngoài khơi vào bờ. Hệ thống ống dẫn đợc xây dựng để phân
phối gas từ mỏ Bạch Hổ và các mỏ khác vào bờ rồi phân phối cho các kho,
trạm. Việc khai thác gas từ mỏ Bạch Hổ đã tăng từ 2 triệu m
3
/ngày trớc năm
1997 và tăng lên 4 triệu m

của đất nớc.
b/ Các hoạt động của công ty:
- Vận chuyển, tồn trữ và phân phối các sản phẩm khí.
- Kinh doanh khí và các sản phẩm khí.
- Xây dựng, tổ chức và duy trì các dự án gas.
- Kinh doanh nguyên liệu, công cụ và hoá chất phục vụ cho quá trình sản xuất gas.
- Hợp tác với các đối tác trong nớc và quốc tế trong việc kinh doanh, sản xuất và
phân phối các sản phẩm gas.
1.1.2. Giới thiệu chung về xí nghiệp II:
Xí nghiệp kinh doanh sản phẩm khí miền Bắc là một đơn vị trực thuộc của
công ty chế biến và kinh doanh sản phẩm khí, đợc thành lập tại quyết định số
2062/QĐ-HĐQT ngày 29/11/2000 của hội đồng quản trị tổng công ty dầu khí
Việt Nam. Xí nghiệp có trụ sở chính tại 29F Hai Bà Trng-Hoàn Kiếm-Hà Nội.
Tuy nhiên trớc khi chính thức đợc thành lập thì xí nghiệp vẫn hoạt động với t
cách là chi nhánh của công ty và đại diện cho công ty ở miền bắc.
Xí nghiệp chịu trách nhiệm quản lý và điều hành mạng lới phân phối sản
phẩm khí trong phạm vi từ Đà Nẵng lên toàn bộ các tỉnh phía bắc. Gas sẽ đợc
chuyển từ Vũng Tàu đến kho đầu mối Hải Phòng bằng đờng thuỷ. Sau đó gas
sẽ đợc đa từ Hải Phòng đến trạm nạp ở Yên Viên, Yên Bái, Hà Tĩnh, bằng hệ
thống xe bồn. Tại các trạm nạp, gas sẽ đợc nạp vào các bình gas và đợc phân
phối đến các tỉnh từ Đà Nẵng trở lên các tỉnh phía Bắc để phục vụ cho công
nghiệp và dân dụng.
Bình gas mà xí nghiệp kinh doanh có hai loại: 12 kg và 45 kg, sản xuất
cả ở trong và ngoài nớc, đợc chế biến với áp suất thiết kế 17 kg/cm
2
, áp suất thử
34 kg/cm
2
, đợc cơ quan có thẩm quyền thẩm định, cấp chứng nhận đạt yêu cầu
theo tiêu chuẩn DOT-4BA-240 và DOT-4BW-240, giấy phép sử dụng thiết bị

giám đốc công ty quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thởng, kỷ luật theo đề
nghị của giám đốc công ty. Phó giám đốc xí nghiệp, phụ trách kế toán xí nghiệp
và các bộ phận trực thuộc xí nghiệp do giám đốc công ty quyết định theo đề
nghị của giám đốc xí nghiệp. Xí nghiệp có trách nhiệm chăm lo nguồn nhân lực
để đảm bảo chiến lợc phát triển và nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, chăm lo, cải
thiện điều kiện làm việc, điều kiện sống của ngời lao động theo Bộ luật lao động
và Luật công đoàn.
1.2. Chức năng và nhiệm vụ của xí nghiệp II:
Xí nghiệp có chức năng thực hiện việc vận chuyển, kinh doanh, điều
hành và quản lý mạng lới phân phối các sản phẩm khí (LPG, ) ở khu vực phía
Bắc (từ Đà Nẵng trở ra). Nó có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổ chức vận chuyển, đóng bình, kinh doanh, tiêu thụ các sản phẩm khí bao
gồm khí hoá lỏng (LPG), condensate.
- Tổ chức mạng lới kinh doanh tiêu thụ các sản phẩm khí. Thực hiện các
hoạt động kinh doanh dịch vụ khác có liên quan nh cung cấp và lắp đặt các loại
thiết bị chuyên dụng, vật t, hoá chất, trong lĩnh vực kinh doanh các sản phẩm
khí.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi đợc công ty ủy quyền.
- Ngoài ra, xí nghiệp còn có một số nhiệm vụ khác bổ trợ cho việc kinh doanh các
sản phẩm khí nh giao nhận LPG bằng tàu, xây dựng hệ thống kho cảng.
1.3. Bộ máy tổ chức xí nghiệp:
Đứng đầu xí nghiệp là giám đốc xí nghiệp do Tổng giám đốc Tổng công ty
quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thởng, kỷ luật theo đề nghị của Giám đốc
công ty. Giám đốc xí nghiệp là đại diện của xí nghiệp và chịu trách nhiệm trớc
Giám đốc Công ty và Pháp luật về điều hành hoạt động của xí nghiệp.
Sơ đồ tổ chức xí nghiệp kinh doanh sản phẩm khí miền bắc
Giám đốc xí nghiệp
Pgđ kỹ thuật
Pgđ kinh doanh
Phòng kế toán

cửa
hàng
Tổ thị
trờng
Tổ
bán
hàng
- T.bảo d-
ỡng, sửa
chữa
- T.thi
công
- T.kỹ
thuật, an
toàn.
- T.hành
chính
- T.vận
hành
- T. bốc
xếp
- T.bảo
vệ và
PCCC.
- T.hành
chính
- T.vận
hành
- T. bốc
xếp

quảng cáo, biện pháp tăng khả năng cạnh tranh...
- Phòng kế toán theo quy định của nhà nớc có nhiệm vụ giúp giám đốc
trong công tác hạch toán kinh doanh có hiệu quả. Đồng thời có nhiệm vụ tổ
chức toàn bộ công tác hạch toán kế toán tại xí nghiệp, phản ánh toàn bộ tài sản
hiện có cũng nh các hoạt động kinh tế phát sinh, cung cấp thông tin về hoạt
động kinh tế tài chính của xí nghiệp cho giám đốc, giúp giám đốc điều hành và
ra các quyết định đạt hiệu quả cao.
- Trạm nạp Yên Viên
- Kho Hải Phòng
Nh vậy, với bộ máy tổ chức này, xí nghiệp đảm bảo đợc tính tập trung và
chuyên môn hoá cao; các bộ phận, các cá nhân phát huy đợc khả năng của
mình, góp phần vào sự phát triển chung của toàn xí nghiệp.
2. Thực trạng về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp
2000 - 2002:
2.1. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam và môi trờng kinh doanh của xí
nghiệp II trong những năm qua:
Trong những năm qua, tình hình kinh tế Việt Nam cũng có nhiều biến
động do những biến động của kinh tế thế giới. Cụ thể năm 2001, tốc độ tăng tr-
ởng GDP chỉ đạt 6,8% do kinh tế thế giới sụt giảm nghiêm trọng và sự tụt giá
của các loại nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nh gạo, cà phê và hạt
tiêu.
Tuy nhiên đến năm 2002, kinh tế Việt Nam đã đạt đợc nhiều thành tựu
đáng khích lệ trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, thị trờng biến
động với giá nhiều loại mặt hàng xuống thấp, cạnh tranh gay gắt, thiên tai gây
nhiều tổn thất. Tăng trởng GDP của năm 2002 là 7,04%, đạt mức cao thứ hai
trong khu vực (chỉ sau Trung Quốc); tích luỹ tăng 13,2%; xuất khẩu tăng 8%;
sản lợng công nghiệp tăng 14%; tạo thêm 14 triệu việc làm mới, góp phần giảm
tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị. Kinh tế vĩ mô ổn định, chỉ số giá cả tăng 4% cho
thấy nền kinh tế đã vợt qua giai đoạn trầm lắng. Tình hình xuất khẩu đợc mở
rộng sang hai thị trờng Trung Quốc và Mỹ, trong đó xuất khẩu sang Mỹ tăng

hiếm hàng mua không còn và đầu tháng 3/2001, giá gas ổn định ở mức 9000
đồng/ kg tức là tăng từ 20000 đến 25000 đồng/ bình 12 kg so với thời điểm trớc
đó.
Đến đầu tháng 4/2001, giá gas tại TP HCM có xu hớng giảm từ 500 đến
700 đồng/ kg, giá bán lẻ là dới 100000 đồng/bình 12 kg trong khi tại Hà Nội, giá
bán gas tuy có giảm nhẹ song vẫn ở mức trên 100000 đồng/ bình 12 kg (cụ thể là
112000 đồng).
Tháng 9/2001, giá gas lại tăng từ 200 đến 800 đồng/ kg do nguồn gas nội
địa Dinh Cố cắt giảm sản lợng 25% trong nửa sau tháng 9 để sửa chữa khiến cho
các công ty phải tăng nguồn nhập khẩu. Sau khi Dinh Cố sửa chữa xong, giá gas
giảm và ổn định trở lại.
Trong năm 2002, thị trờng gas không có biến động lớn, giá gas tơng đối
ổn định. Những biến động về giá gas trên thị trờng làm ảnh hởng trực tiếp đến
giá bán gas của xí nghiệp và từ đó làm ảnh hởng đến doanh thu của xí nghiệp.
Những biến động này chủ yếu là do sự thay đổi về cung cầu trên thị trờng và một
phần là do chính sách của chính phủ.
Ngoài ra xí nghiệp còn chịu tác động trực tiếp từ các chính sách của
công ty. Sự thay đổi về quy chế tài chính, về cơ chế giá vốn hàng hoá hay về
tình hình nhân sự đã dẫn tới sự thay đổi trong hoạt động của xí nghiệp.
2.2. Hoạt động quản lý tài chính xí nghiệp:
Xí nghiệp II là một đơn vị hạch toán phụ thuộc, có bảng cân đối kế toán,
đợc mở tài khoản tại ngân hàng trong nớc, có bộ phận kế toán thống kê. Trong
hoạt động tài chính, xí nghiệp tuân theo các quy định hiện hành của nhà nớc về
quản lý tài chính, quy chế tài chính của công ty và chịu sự thanh tra, kiểm tra
của các cơ quan quản lý nhà nớc có thẩm quyền, của tổng công ty dầu khí Việt
Nam và công ty.
Xí nghiệp đợc giao vốn và tài sản để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh theo chức năng, nhiệm vụ của mình. Xí nghiệp có trách nhiệm tiếp
nhận, quản lý, bảo quản, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, bảo toàn phát
triển vốn và tài sản do công ty giao, tổ chức theo dõi hạch toán, mua bảo hiểm

toán đầy đủ chi phí theo đúng các nguyên tắc cân đối, tiết kiệm và có lãi.
Hình thức kế toán áp dụng ở xí nghiệp là hình thức chứng từ ghi sổ, hình
thức tổ chức kế toán là hình thức tập trung tức là các bộ phận kho, trạm,
cửa hàng của xí nghiệp không tiến hành hạch toán kế toán mà chỉ thống kê
các chứng từ thanh toán, phiếu nhập, xuất kho, các biên bản giao nhận hàng
hoá với khách hàng rồi chuyển về xí nghiệp để hạch toán. Bộ phận kế toán
xí nghiệp sẽ tiến hành thu nhận và hạch toán kế toán với 7 bộ phận: kế toán
tổng hợp, kế toán thanh toán, kế toán bán gas công nghiệp, kế toán bán gas
dân dụng, kế toán thuế, kế toán tài sản cố định, vật t, công cụ và thủ quỹ.
2.3. Tình hình hoạt động kinh doanh ở xí nghiệp II:
Theo nh bảng 1 thì doanh thu thuần của xí nghiệp qua 3 năm đều
tăng. Cụ thể là năm 2001 tăng 131,5% (tơng ứng với hơn 80 tỷ đồng) so với
năm 2000; năm 2002 tăng 43,8% (tơng ứng với 61,8 tỷ đồng) so với năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status