những lý luận cơ bản về thị trường xuất khẩu nói chung và thi trường xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói riêng - Pdf 69

những lý luận cơ bản về thị trờng xuất khẩu nói
chung và thi trờng xuất khẩu các mặt hàng chủ
lực nói riêng
I. Bản chất và vai trò của thị trờng và thị trờng
xuất khẩu các mặt hàng chủ lực
1. Bản chất của thị trờng và thị trờng xuất khẩu câc mặt hàng chủ
lực
Thị trờng là một phạm trù khách quan gắn liền với sản xuất và lu thông
hàng hoá, ở đâu có sản xuất và lu thông thì ở đó có thị trờng.
Ta có thể hiểu thị trờng theo hai giác độ: thị trờng là tổng thể các quan
hệ lu thông hàng hoá-tiền tệ. Theo cách khác thì, thị trờng là tổng khối lợng
cầu có khả năng thanh toán và cũng có khả năng đáp ứng.
Theo quan điểm của ngời bán, thị trờng là những khách hàng có tiềm
năng tiêu thụ, có nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ trong một thời gian nhất
định và cha đợc thoả mản chứ không thể quan niệm thị trờng đơn giản là khu
vực hay một phạm vi địa lý nào.
Thị trờng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam là một thơng
nhân nớc ngoài có tiềm năng tiệu thụ, có nhu cầu các mặt hàng chủ lực của
Việt Nam trong một thời gian nhất định và cha đợc thoả mản.
Một khi trên thị trờng có nhiều ngời mua, nhiều ngời bán và nhiều hàng
hoá tơng tự về chất lợng giá cả tất yếu nảy sinh cạnh tranh trên thị trờng-
cạnh tranh về chất lợng sản phẩm, về phơng thức giao dịch mua bán, giữa
những ngời mua với nhau. Cạnh tranh là bộ máy điều chỉnh trật tự thị trờng,
là yếu tố quan trọng khích thích tích cực tính đa dạng và nâng cao chất lợng
sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu của ngời tiêu dùng, là yếu tố phát triễn
thị trờng.
Phát triễn thị trờng là mục tiêu, phơng thức quan trọng để tồn tại và
chiến thắng trong cạnh tranh. Có mở rộng và phát triễn thị trờng thì mới tăng
nhanh doanh số bán, mới duy trì mối quan hệ thờng xuyên gắn bó với khách
hàng. Đồng thời cũng cố uy tín của doanh nghiệp, không ngừng nâng cao
hiệu quả kinh doanh.

Ngời ta nhận thấy, thu nhập nhờ hoạt động xuất khẩu đã vợt tất cả các
nguồn thu nhập khác tại các nớc đang phát triễn ở châu á. Điều đó chứng tỏ
rằng trong quan hệ kinh tế giữa các nớc, kể cả các nớc có trình độ phát triễn,
chênh lệch nhau rất nhiều, thì hoạt động ngoại thơng đóng vai trò chủ yếu,
chứ không phải do các điều kiện viện trợ u đãi khác quyết định.
Ngoài việc tạo ra nguồn tích luỹ chủ yếu cho nền kinh tế, xuất khẩu còn
góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề sau:
Nhờ xuất khẩu tăng, khả năng nhập khẩu cũng tăng, tạo ra điều kiện
tăng cờng đa ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vfa nguyên vật liệu phục
vụ cho sản xuát góp phần quan trọng vào sự đổi mới nền kinh tế.
Sự phát triễn của các ngành sản xuất hàng xuất khẩu mở ra khả năng
mới, thu hút lực lợng lao động ngày càng nhiều, góp phần giải quyết vấn đề
việc làm. Vấn đề việc làm vừa mang tính chất kinh tế, vừa mang tính chất xã
hội. Đây là hớng giải quyết tình trạng thất nghiệp, đa một bộ phận lao động
cha có việc làm tham gia vào sự phân công lao động quốc tế dới dạng xuất
khẩu lao động tại chổ.
Một khía cạnh hết sức có ý nghĩa là thông qua phát triễn kinh doanh
xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu khách hàng về sản xuất ra sản phẩm có trình độ
kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế, mà đào tạo rèn luyện về trình độ kỹ thuật và
chuyên môn hoá lành nghề cho một bộ phận lao động. Đây là cơ sở để mở ra
một xu hớng mới, làm tăng cờng xuất khẩu và xuất khẩu các mặt hàng có
hàm lợng ky thuật cao. Đó cũng là một tiền đề, nền kinh tế có một bớc
chuyển về chất từ nông nghiệp sang công nghiệp.
Xuất khẩu còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết vấn đề sử dụng
có hiệu quả cao hơn các nguônf tài nguyên thiên nhiên. Việc đa các nguồn
tài nguyên này tham gia vào sự phân công lao động quốc tế, thông qua việc
phát triễn các ngành chế biến xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị của hàng
hoá.
Nh vậy xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ sự phát
triễn, mà đã trở thành một nhân tố rất quan trọng trong dự phát triễn của nền

có hiệu quả.
Dung lợng thị trờng xuất khẩu hàng hoá nói chung và hàng hoá chủ lực
nói riêng là không ổn định, nó thay đổi tuỳ theo diễn biến của tình hình, do
tác động tổng hợp của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định. Các
nhân tố làm cho dung lợng thi trờng thay đổi có thể chia làm ba loại căn cứ
vào thời gian ảnh hởng của chúng đối với thị trờng:
Loại thứ nhất là các nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến động có
tính chất chu kỳ. Đó là sự vận động của tình hình kinh tế t bản chủ nghĩa và
tính chất thời vụ của sản xuất, lu thông và phân phối hàng hóa.
Sự vận động của tình hình kinh tế t bản chủ nghĩa là nhân tố quan trọng
ảnh hởng đến tất cả các thị trờng hàng hoá thế giới. Sự ảnh hởng này có thể
trên phạm vi thế giới, khu vực, phải lu ý phân tích sự biến động trong các n-
ớc giữ vai trò chủ yếu trên thị trờng. Khi nền kinh tế t bản rơi vào khủng
hoảng tiêu điều thì dung lợng thị trờng bị co hẹp và ngợc lại thì đợc mơ
rộng.
Nhân tố thời vụ ảnh hởng tới thị trờng hàng hoá trong khâu sản xuất, lu
thông các laọi hàng hoá khác nên sự tác động của các nhân tố này rất đa
dạng với các mức độ khác nhau.
Loại thứ hai là các nhân tố ảnh hởng lâu dài đến sự biến động của thị
trờng bao gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật, các biến pháp chính sách của nhà
nớc và các tập đoàn t bản lũng đoạn, thị hiếu, tập quan ngời tiêu thụ, ảnh h-
ởng của khả năng sản xuất hàng thay thế.
Loại thứ ba là các nhân tố ảnh hởng tạm thời đối với dung lợng của thị
trờng nói chung và đối với thị trờng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực nói
riêng là nh hiện tợng đầu cơ gây ra những đột biến về cung cầu, các yếu tố
tự nhiên nh thiên tai, bảo lụt, động đất... các yếu tố về chính trĩĩa hội nh đình
công...
Khi nghiên cứu sự ảnh hởng của các nhân tố phải thấy đợc nhóm các
nhân tố tác động chủ yếu trong từng thời kỳ kể cả trớc kia, hiện nay và xu h-
ớng tiếp theo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status