Tác động tích cực của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối
với CNH, HĐH ở Việt Nam.
Nếu xuất phát từ một số khía cạnh cụ thể để xem xét, phân tích, đánh giá
thì hiện nay vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau khi nhận
định về tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hóa đất nớc. Dẫu biết rằng bất kỳ sự vật, hiện tợng nào cũng có mặt tích
cực, mặt tiêu cực, nhng trên bình diện tổng thể ta có thể khẳng định rằng: trong
điều kiện nớc ta hiện nay thì đầu t trực tiếp nớc ngoài có vai trò nh lực khởi động
và nh một yếu tố đảm bảo cho cả quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá củaViệt
Nam. Nếu xem xét tác động của đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với một số vấn đề
hiện đang đợc xem là những yếu tố, điều kiện cơ bản nhất của sự nghiệp CNH,
HĐH ta có thể khái quát dới bốn tác động chính nh sau:
3.1. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài là nguồn vốn quan trọng và một trọng những
điều kiện tiên quyết để Việt Nam thực hiện và đẩy nhanh sự nghiệp CNH,
HĐH đất nớc.
Việt Nam tiến hành CNH, HĐH trong hoàn cảnh khó khăn về mọi mặt,
trong đó, một vấn đề nổi lên tơng đối gay gắt là thiếu vốn cho đầu t. Huy động
vốn thực sự trở thành vấn đề cốt yếu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nớc. Tuy
nhiên, dựa vào tính chất, đặc điểm của từng thời kỳ cụ thể để lựa chọn, huy động,
sử dụng nguồn vốn nào là việc làm đòi hỏi phải có sự cân nhắc kỹ lỡng vì nó ảnh
hởng rất lớn đến tốc độ, kết quả, tính bền vững của sự nghiệp CNH, HĐH cũng
nh sự phát triển của đất nớc.
Thời kỳ đầu tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH khi khả năng tích luỹ và huy
động vốn trong nớc còn khó khăn, khi mà trình độ tổ chức cũng nh các điều kiện
để sử dụng vốn vay, còn kém hiệu quả thì vốn đầu t nớc ngoài đóng vai trò nh lực
khởi động cho quá trình tiến hành CNH, HĐH. Từ khi thực hiện chính sách đầu t
trực tiếp nớc ngoài cho đến nay, vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài thực hiện tại Việt
Nam bình quân 1737,7 triệu USD/năm. Vốn đầu t xây dựng cơ bản của các dự án
đầu t nớc ngoài bình quân tại Việt Nam thời kỳ 1991-2000 là 17423,2 tỷ
đồng/năm. Đối với một nền kinh tế nhỏ nh nớc ta thì đây là một lợng vốn đầu t
không nhỏ, nó thực sự là nguồn vốn góp phần tạo ra sự chuyển biến không chỉ về
tính toán rằng, cứ một đồng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài hoạt động sẽ làm cho
bốn đồng vốn trong nớc hoạt động theo. Nh vậy, có thể nói, đầu t trực tiếp nớc
ngoài là một trong những tác nhân có khả năng làm cho việc hình thành tại Việt
Nam một thị trờng vốn thực sự có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Bảng 9: Tỷ trọng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài trong tổng vốn đầu t xây
dựng thực hiện toàn xã hội thời kỳ 1991-2000.
Năm Tổng số
vốn đầu t
(tỷ đồng)
Vốn trong
nớc
(tỷ đồng)
Vốn đầu t trực tiếp của nớc ngoài
Số lợng (tỷ đồng) So với tổng số %
1991 13471 11545 1926 14.3
1992 24737 19552 5185 21
1993 42177 31556 10621 25.2
1994 54296 37796 16500 30.4
1995 68048 46048 22000 32.3
1996 79367 56667 22700 28.6
1997 96870 66570 30300 31.3
1998 97336 73036 24300 25
1999 105200 86300 18900 18
2000 120600 98200 21800 18.2
Nguồn : Niêm giám thống kê 2001; thời báo kinh tế
3.2. Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài góp phần tạo ra những năng lực sản
xuất mới, ngành nghề mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, phơng thức sản
xuất- kinh doanh mới,làm cho cơ cấu của nền kinh tế nớc ta từng bớc chuyển
biến theo hớng của một nền kinh tế công nghiệp hoá, thị trờng, hiện đại.
làm cho hơn 200 nghìn lao động địa phơng và hàng chục ngàn lao động dịch vụ
khác. ở các thành phố lớn, việc hình thành các khu công nghiệp , khu chế xuất đã
tạo điều kiện cho các địa phơng này tách sản xuất ra khỏi dân c, giảm thiểu ô
nhiễm môi trờng đô thị.
Sự đóng góp của khu vực có vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài đã chi phối đáng
kể quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nớc ta- tỷ trọng công nghiệp tăng lên và
đang ngày càng chiếm u thế trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Mối quan hệ giữa
đầu t trực tiếp nớc ngoài với vị của công nghiệp thể hiện tơng đối rõ nét trong thực
tế vừa qua. Sự chuyển biến về tỷ trọng công nghiệp trong GDP gần nh đồng biến
với tỷ trọng GDP của đầu t trực tiếp nớc ngoài trong GDP của ngành công nghiệp.
Điều này chứng tỏ, trong số các nhân tố ảnh hởng, đầu t trực tiếp nớc ngoài không
những có vai trò rất quan trọng trong phát triển công nghiệp, mà còn có tác động
tích cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu nớc ta theo hớng hình thành một cơ cấu
kinh tế CNH, HĐH. Đầu t nớc ngoài góp phần hình thành một số ngành công
nghiêpợ mới, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế nh khai thác-
chế biến dầu khí, sản xuất, lắp ráp ô tô, sản phẩm điện tử
Trong ngành công nghiệp khai thác, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài đang có vị trí chủ đạo, với tỷ trọng 79% giá trị sản xuất của toàn ngành.
Tiêu biểu mức tỷ trọng ở một số năm nh sau: năm 1995: 77.8%; 1996: 78%;
1997: 77.7%; 1998: 81.4%. Đặc biệt, giá trị sản xuất của ngành khai thác dầu thô
và khí tự nhiên chủ yếu do các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài tạo ra với cá
số liệu cụ thể nh sau: năm 1995:99.7%; 1996: 99.7%; 1997: 99.8%; 1998: 99.8%.
Trong ngành công nghiệp chế biến, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài chiếm khoảng 22% và có xu hớng ngày càng tăng,
từ 18.1% (1995); 20.1%(1996); 22.9%(1997); đến 25.3%( 1998). Trong đó, ở một
số ngành quan trọng, tỷ trọng giá trị sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài nh sau: 71% trong gnành sản xuất và sửa chữa xe có động cơ( trong đó
100% trong sản xuất và lắp ráp xe máy,ô tô); 44.3% trong ngành sản xuất sản
phẩm bằng da và giả da; 100% trong ngành sản xuất tụ điện, máy in, máy giặt, tủ
lạnh, điều hoà không khí, đầu video, sản xuất sợi PE, PES; 67.6% trong ngành sản