Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền và định hướng phát triển hệ thống pháp luật việt nam - Pdf 69

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

V VN HUN

ĐặC ĐIểM CủA PHáP LUậT
TRONG NHà NƯớC PHáP QUYềN Và định HƯớNG
PHáT TRIểN Hệ THốNG PHáP LUậT VIệT NAM

LUN VN THC S LUT HC

H NI 2014


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

V VN HUN

ĐặC ĐIểM CủA PHáP LUậT
TRONG NHà NƯớC PHáP QUYềN Và định HƯớNG
PHáT TRIểN Hệ THốNG PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: GS. TSKH. O TR C

H NI 2014


1.1.2. Học thuyết tư sản về nhà nước pháp quyền...........................................8
1.1.3. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong học thuyết MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh..........................................................10
1.2.

Khái niệm và những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền 12

1.2.1. Khái niệm nhà nước pháp quyền.........................................................12
1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền.............................12
1.3.

Những quan điểm cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam XHCN.................................................................... 13

1.4.

Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền....................18

1.4.1. Các chuẩn mực quốc tế về đặc điểm của pháp luật trong nhà
nước pháp quyền.................................................................................18
1.4.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật....18
1.4.3. Đặc điểm của pháp luật trong nhà nước pháp quyền.......................... 20
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN NAY.........................................................................................32
2.1.

Quan niệm về hệ thống pháp luật....................................................32

2.2.

Thực trạng hệ thống pháp luật Việt Nam....................................... 32

Nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng pháp luật.......................77
Đổi mới việc lập và thông qua chương trình xây dựng luật, pháp lệnh
77
Hoàn thiện pháp luật về đổi mới quy trình, nâng cao chất lượng
công tác xây dựng pháp luật............................................................... 79
Tăng cường các điều kiện bảo đảm xây dựng pháp luật.....................80
Nâng cao chất lượng công tác tổ chức thi hành pháp luật............81
Tăng cường công tác theo dõi thi hành pháp luật............................... 81
Phát triển hệ thống thông tin và phổ biến, giáo dục pháp luật,
tăng cường năng lực tiếp cận của nhân dân đối với hệ thống
pháp luật..............................................................................................82
Phát triển hệ thống đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm
công tác pháp luật............................................................................... 83
Thiết lập cơ chế và thiết chế tài phán đối với các vi phạm
Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.......84
Hoàn thiện quy định và thực hiện pháp luật về dân chủ...............85

Hoàn thiện quy định và bảo đảm thực thi pháp luật về
quyền con người, nhân đạo hóa vì con người................................. 86
KẾT LUẬN....................................................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................90


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT:

Bảo hiểm y tế

HĐND:


khái niệm nhà nước pháp quyền mới được Đảng ta chính thức sử dụng tại Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ năm 1994, và từ đó đến nay Đảng ta
luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện và cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng.
Hai mươi năm đã trôi qua nhưng đến nay hệ thống lý luận nghiên cứu về nhà
nước pháp quyền XHCN còn chưa được xây dựng một cách đầy đủ, toàn diện
và khoa học. Nhiều nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt
Nam vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện.
Việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là
nhiệm vụ có tính tất yếu trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về phương pháp và
tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng
Nhà nước pháp XHCN Việt Nam là xây dựng phương thức tổ chức nền chính
trị nhằm duy trì và phát huy dân chủ XHCN, làm cho nhà nước thật sự trong
sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và quản lý xã hội.
Cùng với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, hệ thống pháp luật
Việt Nam trong gần ba thập kỷ qua kể từ khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi
mới đã có sự phát triển mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu to lớn. Quy

1


trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới. Nhiều bộ luật,
luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổ pháp lý ngày càng hoàn
chỉnh hơn để nhà nước quản lý bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội. Nguyên tắc pháp quyền từng bước được đề cao và phát huy trên thực
tế. Công tác phổ biến và giáo dục pháp luật được tăng cường đáng kể. Những
tiến bộ đó đã góp phần thể chế hoá đường lối của Đảng, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý điều hành của nhà nước, đẩy mạnh phát triển kinh tế, giữ
vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, do được xây dựng
trên nền tảng của một hệ thống chính trị - pháp lý đặc thù của thời kỳ chuyển

Đề tài nghiên cứu khoa học “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do
dân, vì dân” do TS. Vũ Đức Khiển làm chủ nhiệm và các đề tài về hoàn thiện hệ
thống pháp luật trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… do Bộ Tư pháp thực
hiện; Các giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của các trường đại học chuyên
luật (ĐH Luật Hà Nội, ĐH Luật TP.HCM, Khoa luật ĐHQG, Khoa luật ĐH
Vinh, Khoa luật ĐH Huế, Cần Thơ…) cũng đề cập nhiều vấn đề lý luận về nhà
nước pháp quyền, khái niệm pháp luật, đặc điểm của pháp luật…; Luận án Tiến
sĩ luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Việt Nam” của NCS. Lê Minh Tâm (năm 1992) đã giải quyết khá cơ
bản các vấn đề lý luận về hệ thống pháp luật, xây dựng các khái niệm khoa học
và những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ hoàn thiện của một hệ thống
pháp luật, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam trong giai đoạn đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước;
Các công trình nghiên cứu, bài viết khác bàn về hệ thống pháp luật như: “Các
ngành luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc
Đường; “Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật” của Viện Nghiên cứu
Nhà nước và Pháp luật; “Về khái niệm hiệu quả pháp luật và những tiêu chí xác
định hiệu quả pháp luật” của tác giả Lê Minh Tâm (đăng trên Tạp chí Nhà nước
và pháp luật tháng 11/2000); Bài viết “Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng
yêu cầu xây dựng nhà nước pháp

3


quyền XHCN” của PGS.TS. Hà Hùng Cường (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp năm 2009); Bài viết “Một số đánh giá tình hình thực hiện Nghị
quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
Việt Nam” của TS. Dương Thị Thanh Mai và ThS. Nguyễn Văn Hiển (đăng
trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2009)…

pháp luật nước ta.

4


-

Xác định phương hướng xây dựng pháp luật cùng với quá trình xây

dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về nhà nước pháp quyền và đặc điểm của
pháp luật trong nhà nước pháp quyền, xác định rõ đặc điểm của pháp luật
trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; Đánh giá thực trạng của hệ
thống pháp luật Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp, phương
hướng cơ bản nhằm phát triển hệ thống pháp luật trong quá trình xây dựng
Nhà nước pháp quyền Việt Nam.
5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận là tư tưởng về nhà nước
pháp quyền và pháp luật trong nhà nước pháp quyền. Đồng thời dựa trên quan
điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng ta về xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Cơ sở thực tiễn của đề tài là các báo cáo tổng kết, đánh giá về chất
lượng, hiệu quả của hệ thống pháp luật, thực tiễn công tác xây dựng và thi
hành pháp luật ở nước ta trong những năm qua.
Phương pháp nghiên cứu: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử. Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sẽ sử dụng các

1.1. Lịch sử học thuyết Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng dân chủ
đã hình thành ngay từ thời cổ đại. Nội dung tư tưởng đó luôn gắn liền với sự
khẳng định chủ quyền nhân dân, lên án sự độc đoán của nhà cầm quyền và đòi
hỏi nhà nước cũng phải phục tùng pháp luật. Các nhà tư tưởng tư sản thế kỷ
17-18 đã phát triển quan niệm về nhà nước pháp quyền thời cổ đại với một thế
giới quan pháp lý mới và trở thành Học thuyết về nhà nước pháp quyền. Ngày
nay, Học thuyết về Nhà nước pháp quyền ngày càng được bổ sung và hoàn
thiện.
1.1.1. Tư tưởng nhà nước pháp quyền thời cổ đại


phương Đông cổ đại, tư tưởng chính trị pháp lý tiêu biểu đã chứa

đựng những dấu hiệu của nhà nước pháp quyền. Trong đó, các quan điểm về
pháp luật của Khổng Tử thể hiện rất đặc sắc yếu tố pháp quyền vì đã đề cập
đến nhiều phương diện của pháp luật, có nhiều giá trị tích cực vì pháp luật
được xây dựng trên cơ sở luân lý và đạo đức.
Hàn Phi Tử là người phát triển tư tưởng chính trị pháp lý lên đỉnh cao.
Ông khẳng định pháp trị là phương pháp duy nhất để quản lý xã hội, các quy
định của pháp luật phải không thiên vị ai và phải có sự thay đổi. Tất cả mọi
người đều phải tôn trọng pháp luật, pháp luật phải nghiêm minh và có chế độ
thưởng, phạt đúng đắn.


phương Tây: Hy Lạp, La Mã là nơi phát triển về chính trị, kinh tế và

văn hoá nên sớm hình thành tư tưởng về nhà nước pháp quyền. Các nhà tư
tưởng đã đề cập đến vai trò thống trị của pháp luật trong xã hội, tính tối cao,
tính hợp lý của các đạo luật; tuân thủ pháp luật là nghĩa vụ không phải chỉ đối


8


tự do, bình đẳng của cá nhân, bình đẳng trong quan hệ giữa nhà nước và cá
nhân, thừa nhận những quyền của con người không thể bị tước đoạt, đề cao
chủ quyền nhân dân và nguyên tắc phân chia quyền lực trong tổ chức và hoạt
động của nhà nước.
Người đặt nền móng cho sự ra đời Học thuyết về nhà nước pháp quyền
là John Locke (1632-1704), nhà tư tưởng người Anh. Trong mô hình nhà nước
mà ông đưa ra, pháp luật có vị trí cao nhất và luật này phải phù hợp với luật tự
nhiên, các quyền tự nhiên và tự do cá nhân được ghi nhận. Quyền lực nhà
nước bao gồm ba loại quyền lập pháp, hành pháp và quyền liên minh, liên kết,
trong đó quyền lập pháp phải là tối cao vì nó có quyền làm ra các đạo luật có
giá trị bắt buộc đối với mọi thành viên trong xã hội. Sau khi luật được làm ra
thì ngay chính những người làm ra luật cũng phải tuân theo các đạo luật đó,
nếu cơ quan lập pháp và nhà vua vi phạm pháp luật như vượt quá thẩm quyền
hay lạm dụng quyền lực thì đều có thể dẫn đến sự tan rã của chính quyền.
Các nhà khai sang Pháp, điển hình là Montesquieu và Rousseau đều
nêu lên tư tưởng về nhà nước pháp quyền và tư tưởng phân chia quyền lực
trong các tác phẩm của mình. Montesquieu (1698-1755) với tác phẩm nổi
tiếng “Tinh thần pháp luật” đã xây dựng thuyết phân chia quyền lực trong tổ
chức nhà nước. Theo ông, tự do chính trị, sự an ninh, an toàn của công dân chỉ
có được khi không có sự lạm dụng quyền lực. Ở mỗi nhà nước đều có ba loại
quyền, đó là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp và ba quyền
đó được giao cho ba cơ quan khác nhau. Sự phân chia, kìm chế và đối trọng
lần nhau giữa ba quyền là điều kiện chủ yếu bảo đảm tự do chính trị trong nhà
nước và xã hội. Rousseau (1712-1788), người xây dựng học thuyết về chủ
quyền nhân dân cho rằng con người khi thoát ra khỏi trạng thái tự nhiên với
tính năng tự hoàn thiện phải liên kết lại với nhau thành xã hội để bảo vệ quyền

XHCN, về dân chủ, tự do, công bằng… và pháp luật là công cụ

10


để bảo đảm thực hiện, đã thể hiện được những tư tưởng cốt lõi về nhà nước
pháp quyền.


Việt Nam, tư tưởng về nhà nước pháp quyền được thể hiện lần đầu

tiên bởi Hồ Chí Minh trong Bản yêu sách gửi đến Hội nghị Vecxay: “Bẩy xin
Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Việt Nam yêu
cầu ca, 1922). Ngay từ khi còn đang trong quá trình tìm tòi con đường cứu
nước, Hồ Chí Minh đã có những nhận thức sâu sắc về vai trò, ý nghĩa của nhà
nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội. Người chủ trương
sau khi Việt Nam giành được độc lập, chúng ta phải xây dựng một nhà nước
kiểu mới, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tư tưởng Hồ
Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân thể hiện ở cả mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn phương
thức hoạt động của nhà nước. Nhà nước đó phải được tổ chức một cách hợp
hiến, hợp pháp, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và quản lý xã hội bằng
pháp luật, thể hiện sự kết hợp giữa đức trị và pháp trị… Nó phải thực sự là
công cụ quyền lực của nhân dân, phản ánh, thực hiện và bảo vệ lợi ích của
nhân dân lao động.
Xây dưngg̣ Nha nươc
dân la cống hiến vi đaịcua Ngươi vao kho tang ly luâṇ cua chu nghia Mac
̀
Lênin vềnhànước . Sáng tạo lý luận của Hồ Chí Minh vền hà nước là từ việc
nghiên cứu kỹ các mô hình nhà nước trong lịch sử dân tộc cũng như trên thế

1.2.2. Những đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, có thể nêu những đặc điểm cơ bản về
nhà nước pháp quyền như sau:
-

Là nhà nước có hệ thống pháp luật hoàn thiện, đảm bảo tính đồng bộ

và thống nhất để thực hiện có hiệu quả việc quản lý xã hội. Pháp luật trong
nhà nước pháp quyền phải giữ vai trò tối thượng, mang tính pháp lý cao,
khách quan, công bằng và nhân đạo và phù hợp với đạo đức xã hội.
-

Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân là bình đẳng về quyền và

nghĩa vụ. Mọi cá nhân, tổ chức, kể cả nhà nước đều phải tuân thủ pháp luật.
12


-

Quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và bảo đảm thực

hiện. Quyền con người, quyền công dân vừa là bộ phận hợp thành của khái
niệm nhà nước pháp quyền, vừa là mục tiêu, nhiệm vụ của các hoạt động nhà
nước. Để đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong nhà nước pháp
quyền, cần thiết phải thể chế hoá các quyền con người, quyền công dân,
không chỉ trong Hiến pháp mà còn trong cả một hệ thống pháp luật đồng bộ
và nhất quán.
-



lý nhà nước theo hướng nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở nhận thức của Đảng,
chúng ta đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp 1980 và ban hành Hiến pháp 1992. Sau
các lần sửa đổi, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 tiếp tục khẳng định:
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm
chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức [17].


nước ta, xây dựng nhà nước pháp quyền tức là xây dựng một phương

thức tổ chức nền chính trị với mục đích là không ngừng duy trì bản chất giai
cấp công nhân và tính nhân dân của nhà nước, phát huy cao độ tính dân chủ,
làm cho bộ máy nhà nước thật sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực
và hiệu quả quản lý và điều hành của nhà nước.
Những quan điểm cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam bao gồm:
-

Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân

dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân


Việt Nam, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà


quyền đã được sự bổ sung: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nghị quyết đại hội XI và Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung
năm 2011) đều có bổ sung quan tâm vấn đề kiểm soát quyền lực trong cơ chế
tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta. Theo đó nguyên tắc quyền lực nhà
nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan
thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đã được hoàn thiện một bước
quan trọng. Quan điểm về sự thống nhất quyền lực nhà nước, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát chặt chẽ giữa ba quyền và quyền lực nhà nước là
một quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo trong thiết kế mô hình tổ chức Nhà
nước pháp quyền Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

15


-

Nhà nước pháp quyền Việt Nam tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến

pháp và pháp luật, bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp, pháp luật trong
đời sống xã hội đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức
Trong Nhà nước pháp quyền Việt Nam, ý chí của nhân dân và sự lựa
chọn chính trị được xác lập một cách tập trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất
bằng Hiến pháp. Hiến pháp được coi là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý
cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an
ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Pháp luật là kết quả của sự thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng
trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Pháp luật thể hiện ý chí và

Nhà nước luôn được Đảng ta dành sự quan tâm đặc biệt. Đảng ta đã xác định
nguyên tắc: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là vấn đề thuộc bản chất của Nhà nước
ta; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực, quyền làm chủ đó
được thể chế hoá bằng pháp luật; dân chủ đi đôi với kỷ cương, kỷ luật; xây
dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thông qua đại diện,
làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng việc xây dựng và
thực hiện các quy ước, hương ước tại cơ sở. Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi
mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và
thực hiện các quyết định.
-

Nhà nước pháp quyền Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đời sống xã hội và
đời sống nhà nước không những không trái với bản chất nhà nước pháp quyền
nói chung mà còn là điều kiện có ý nghĩa tiên quyết đối với quá trình xây
dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta.
Đối với Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, quyết
định phương hướng chính trị của Nhà nước, bảo đảm cho Nhà nước ta thực sự

17


là tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân, thực sự của dân, do dân và vì
dân, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới đất nước. Nhà nước triển
khai tổ chức thực hiện các nghị quyết, chủ trương của Đảng bằng các hoạt
động quản lý nhà nước, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia
quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

tồn tại hiện hữu của ý chí tự do; được thực hiện nghiêm minh, được bắt nguồn
từ bản chất lý trí của con người; pháp luật được sử dụng vì con người.
1.4.2. Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế trong lĩnh vực pháp luật
Xu hướng thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Đặc

18


biệt cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế năm 2008-2009 đã làm bộc lộ những
vấn đề toàn cầu mới, buộc các quốc gia và các cộng đồng quốc tế phải có
những hợp tác mới để đối phó giải quyết. Nền kinh tế và chính trị thế giới
đứng trước thay đổi mới kế cả trong tư duy chiến lược và trong các hành động
thực tiễn của các quốc gia. Thay đổi đang là một xu thế tất yếu và là phương
châm hành động của nhiều quốc gia phát triển. Chính những thay đổi đã và
đang diễn ra tại các nước phát triển và trong các cộng đồng chính trị, kinh tế,
quốc tế đang tác động mạnh mẽ đến các quốc gia đang phát triển trong đó có
Việt Nam. Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng sâu vào đời sống quốc tế
và có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới. Do vậy,
Việt Nam phải chủ động để thích ứng với những thay đổi đang diễn ra mạnh
mẽ trên thế giới và đối phó thành công với những thách thức nảy sinh từ
những thay đổi này đối với con đường phát triển của đất nước. Hội nhập quốc
tế và khu vực là một trong những điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển
và nâng cao vị thế quốc tế của mình. Sự hội nhập phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
trong đó pháp luật là một trong những yếu tố quan trọng.
Để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN, bảo đảm công bằng xã
hội và phát huy dân chủ, càng đòi hỏi chúng ta phải quán triệt phương châm
quản lý xã hội bằng pháp luật, phải dựa vào pháp luật, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật, đảm bảo thắng lợi của quá trình đổi mới. Đặc biệt, hiện nay
xây dựng nhà nước pháp quyền là một tất yếu khách quan trên con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhằm tăng cường pháp chế XHCN và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status