Pháp luật quốc tế và pháp luật nước ngoài về giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước ngoài bằng tòa án những bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



---

---

LÊ QUANG MINH

PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT NƢỚC
NGOÀI VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ
YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI BẰNG TÕA ÁN - NHỮNG BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT



---

---

LÊ QUANG MINH

1.2.2. Tập quán quốc tế …………………………………….………… 26
1.2.3. Pháp luật quốc gia …………………………………………...… 28
1.3. Các nguyên tắc cơ bả của tố tụng dân sự quốc tế…………………..32
1.3.1. Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia…………..…..32
1.3.2. Tôn trọng quyền miễn trừ tƣ pháp của Nhà nƣớc nƣớc ngoài và
những ngƣời đƣợc hƣởng quyền miễn trừ tƣ pháp……………………………34

1.3.3. Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên tham gia tố tụng…..….36
1.3.4. Nguyên tắc có đi có lại cùng có lợi………………………………38
1.3.5. Nguyên tắc Luật Tòa án (lex fori)………………………………..39
KẾT LUẬN CHƢƠNG: ……………….………………..……...…….40
CHƢƠNG 2 – PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ NƢỚC VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI……….….. 42

2.1. Giải quyết tranh chấp dân sự theo pháp luật quốc tế…….…………42
2.1.1. Công ƣớc La Hay về thỏa thuận lựa chọn tòa án 2005….…….…42


2.1.1.1. Khái quát chung về Công ƣớc La Hay 2005 về lựa chọn tòa án..42

2.1.1.2. Nội dung của Công ƣớc La Hay 2005 về lựa chọn tòa án ……..42
2.1.1.3. Những tác động khi tham gia Công ƣớc………….…………..45
2.1.2. Công ƣớc Rome về luật áp dụng với các nghĩa vụ hợp đồng năm
1980 và Quy tắc Rome I ngày 17/6/2008…………………………………..…..46
2.1.2.1. Tổng quan về Công ƣớc Rome về luật áp dụng với các nghĩa vụ
hợp đồng năm 1980 và Quy tắc Rome ngày 17/6/2008…………………...…..46
2.1.2.2. Nội dung của Công ƣớc Rome 1980 và Quy tắc Rome I……….47
2.1..3. Công ƣớc La Hay 1965 về tống đạt ra nƣớc ngoài giấy tờ tƣ pháp và
ngoài tƣ pháp trong lĩnh vực dân sự và thƣơng mại…………………...……52
2.1.3.1. Tổng quan về Công ƣớc La Hay 1965 về tống đạt ra nƣớc ngoài

2.2.3.2. Áp dụng pháp luật nƣớc ngoài và TTTP của Liên bang Nga…..89
2.3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam…………..………….…90
2.3.1. Khi đàm phán ký kết, gia nhập các Điều ƣớc quốc tế song phƣơng
và đa phƣơng về tố tụng dân sự quốc tế……………………….……………..90
2.3.2. Khi ban hành hay sửa đổi các văn bản pháp luật quốc gia……….91
2.3.3. Cơ chế triển khai trên thực tiễn……………………….…………..93
CHƢƠNG 3 – GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TẠI TÕA ÁN VIỆT NAM THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP….………………..94

3.1. Pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN tại Toà án ….94

3.1.1.Thẩm quyền xét xử tranh chấp dân sự có YTNN của Toà án Việt Nam ..94

3.1.1.1. Ở Cấp độ quốc tế…………………..……………………….…..95
3.1.1.2. Ở Cấp độ quốc gia…….…..……………………………….…..98
3.1.2. Áp dụng pháp luật nƣớc ngoài và thực trạng áp dụng pháp luật nƣớc
ngoài trong giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN tại Tòa án Việt Nam….107

3.1.3. TTTP trong giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN ở Việt Nam.110
3.1.3.1. Nguyên tắc UTTP trong tố tụng dân sự Việt Nam…………....110
3.1.3.2. Thực hiện UTTP trong tố tụng dân sự Việt Nam……………..111
3.1.4.3. Thực trạng UTTP và thực hiện UTTP của Tòa án Việt Nam…114
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có
YTNN bằng Tòa án của Việt Nam……………………………………….….116
3.2.1. Yêu cầu……………………………………………………….…116


3.2.2. Định hƣớng…………………………………………………..….117
3.2.3. Các giải pháp hoàn thiện chính sách pháp luật về giải quyết tranh
chấp dân sự có YTNN bằng Toà án của Việt Nam……………………….…..118

: Ủy thác tƣ pháp


DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy tòa án ngạch tƣ pháp của Cộng
Hòa Pháp
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức hệ thống tòa án Liên Bang Hoa Kỳ
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức hệ thống tòa án Việt Nam


MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay việc công dân các nƣớc định cƣ, sinh sống, học tập và lao động ở
nƣớc ngoài hay có quan hệ dân sự, thƣơng mại với bên nƣớc ngoài là rất phổ biến. Sự
giao thoa giữa các luồng giao dịch dân sự có yếu tố nƣớc ngoài này ngày càng đa
dạng, dẫn đến các tranh chấp phát sinh cũng gia tăng theo tỷ lệ tƣơng ứng.
Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, pháp nhân, tổ chức
mình khi tham gia vào các quan hệ tố tụng có yếu tố nƣớc ngoài, đồng thời đảm bảo
sự bình đẳng, công khai, minh bạch cho ngƣời nƣớc ngoài khi tham gia tố tụng tại các
cơ quan tài phán của nƣớc mình, các quốc gia phải ban hành các đạo luật về tố tụng
dân sự trong đó có các quy phạm xác định địa vị tham gia tố tụng của các bên tranh
chấp, cách thức tiếp cận Tòa án cũng nhƣ trình tự thủ tục giải quyết vụ án, đặc biệt là
giải quyết sự xung đột về thẩm quyền hay xung đột pháp luật áp dụng là hai vấn đề
thƣờng xuyên đặt ra khi giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN. Bên cạnh đó, ký kết,
gia nhập các Điều ƣớc quốc tế nhằm cầu tƣơng thích giữa pháp luật quốc gia với các
cam kết mà quốc gia đã và sẽ tham gia cũng luôn đƣợc đặt ra một cách cấp thiết.
Đối với Việt Nam, qua nhiều năm thực hiện Bộ luật tố tụng dân sự 2004 đã bọc lộ
những bật cập, tình trạng đó dẫn đến hạn chế các quá trình giao lƣu dân sự hay trực tiếp là
đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia tố tụng. Yêu cầu về sự công
bằng, khách quan, minh bạch trong tố tụng chƣa đƣợc đảm bảo đúng thực chất, gây nên

vấn đề là đối với từng chế định pháp luật riêng biệt đều cần có những nghiên cứu đánh giá
chuyên sâu. Cụ thể pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN thì chúng ta sửa
đổi nhƣ thế nào, bổ sung những điểm gì, theo hƣớng nào để vừa đảm bảo tính khả thi vừa
đảm bảo tƣơng thích với pháp luật của nhiều nƣớc, tránh tình trạng sửa đổi, bổ sung
nhiều lần nhƣng vẫn không phát huy đƣợc hiệu quả trên thực tiễn. Chúng ta cần chắt lọc
những quy định, những mô hình hay cách thức triển khai từ những nƣớc nào để vừa phù
hợp với điều kiện của Việt Nam nhƣng vẫn đảm bảo tính pháp chế XHCN? Đây là những
câu hỏi đặt ra đòi hỏi sự nghiên cứu, phân tích kỹ lƣỡng trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn
của các nƣớc tiên tiến và thực tế tại Việt Nam.

Xuất phát từ yêu cầu bức thiết nêu trên mà tác giả đã chọn đề tài "Pháp luật
quốc tế và pháp luật nước ngoài về giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nước
ngoài - những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam" để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2- Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài
-

Mục đích: Nghiên cứu, phân tích làm rõ nét đặc thù trong giải quyết tranh

chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài bằng Tòa án, yêu cầu khách quan của việc tiếp nhận


các vụ án tranh chấp dân sự quốc tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay. Đem lại
một cái nhìn tổng quan về pháp luật giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài
bằng Tòa án. Qua nghiên cứu một số Điều ƣớc quốc tế về tố tụng dân sự và pháp luật
tố tụng dân sự của một số nƣớc để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc
ký kết gia nhập các Điều ƣớc quốc tế và hoàn thiện các quy phạm pháp luật của Việt
Nam về giải quyết tranh chấp dân sự có YTNN cũng nhƣ cơ chế áp dụng pháp luật
trên thực tiễn. Phân tích và tổng kết những mặt đã làm đƣợc, chỉ rõ những bất cập hạn
chế trong việc giải quyết tranh chấp dân sự quốc tế bằng Tòa án theo quy định của
pháp luật Việt Nam, để đề xuất phƣơng hƣớng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu giải quyết


giới để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Với pháp luật Việt Nam, đề
tài cũng chỉ mới bƣớc đầu nghiên cứu các quy phạm của luật thực định và thực tiễn
thực thi để xác định những bất cập trên cơ sở đối chiếu với pháp luật các nƣớc và xu
hƣớng quốc tế qua các Điều ƣớc quốc tế, chứ chƣa có điều kiện đi sâu vào từng loại
án cụ thể cũng nhƣ đánh giá chi tiết thực tiễn vận dụng quy định về thẩm quyền của
Tòa án Việt Nam cũng nhƣ việc áp dụng pháp luật.
3- Cơ sở phƣơng pháp luận
Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở các phƣơng pháp chung của khoa học xã
hội, nhất là phƣơng pháp phân tích, tổng hợp và phƣơng pháp thống kê...đồng thời kế
thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu khác của các tác giả trong và ngoài nƣớc
để làm rõ các nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
4- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn sẽ đề xuất những giải pháp mang tính tổng thể, góp một phần nhỏ vào
tiến trình cải cách pháp luật Tố tụng dân sự của Việt Nam đặc biệt là BLTTDS sửa đổi
2011 của Việt Nam và cơ chế triển khai hoạt động giải quyết tranh chấp dân sự có yếu
tố nƣớc ngoài tại Tòa án Việt nam.
Đƣa ra một số luận cứ cho việc gia nhập các Điều ƣớc quốc tế trong lĩnh vực tố
tụng dân sự, nhƣ:
-

Công ƣớc La Hay ngày 18/3/1970 về thu thập chứng cứ ở nƣớc ngoài trong

lĩnh vực dân sự hoặc thƣơng mại;
- Công ƣớc La hay 2005 về thỏa thuận lựa chọn Tòa án;
-

Công ƣớc La Hay 1965 về tống đạt ra nƣớc ngoài giấy tờ tƣ pháp và ngoài

tƣ pháp trong lĩnh vực dân sự và thƣơng mại;

độc lập, sáng tạo trong công tác xét xử;
-

Hƣớng dẫn cụ thể một số luật nhƣ: Luật quốc tịch 2008, Luật tƣơng trợ tƣ

pháp 2008.
-

Bƣớc đầu ban hành dự thảo Luật Tƣ pháp quốc tế Việt Nam nhằm thống nhất

các quy phạm tƣ pháp quốc tế hiện đang nằm rãi rác ở nhiều văn bản pháp luật Việt
Nam, đáp ứng nhu cầu hội nhập trong thời kỳ mới.
...
5- Kết cấu của luận văn
Luận văn đƣợc xây dựng thành 3 chƣơng, gồm:
-

Chƣơng 1: Tổng quan về giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài

bằng Tòa án
-

Chƣơng 2: Pháp luật quốc tế và pháp luật một số nƣớc về giải quyết tranh

chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài bằng Tòa án
-

Chƣơng 3: Pháp luật về giải quyết tranh chấp dân sự có yếu tố nƣớc ngoài tại

Tòa án Việt Nam - thực trạng và giải pháp.

nhƣng gì thì đây vẫn là quan hệ hay vụ việc liên quan đến chủ thể tƣ và đƣợc điều chỉnh
bởi hệ thống luật tƣ. Tuy nhiên, trong các quan hệ có chủ thể tƣ tham gia không phải lúc
nào cũng là quan hệ hay vụ việc có tính chất dân sự. Ví dụ: việc ngƣời nƣớc ngoài đến
nƣớc sở tại thực hiện các hành vi phạm tội (trộm cắp, lừa đảo...) ngƣời bị hại có thể là
ngƣời trong nƣớc, nhƣng quan hệ ở đây là quan hệ hình sự. Ngƣợc lại,


một quan hệ có chủ thể công nhƣ Nhà nƣớc nƣớc ngoài hay tổ chức quan tế nhƣng lại
mang tính chất dân sự. Ví dụ, việc một tổ chức quốc tế thuê trụ sở làm việc tại một căn
hộ của công dân nƣớc sở tại thì quan hệ này vẫn mang tính chất dân sự.
Điều 758 BLDS 2005 và khoản 2 Điều 405 BLTTDS của Việt Nam là hai quy
phạm quan trọng của Tƣ pháp quốc tế Việt Nam quy định về quan hệ dân sự có YTNN
và vụ việc dân sự có YTNN.
*Tranh chấp
Theo Từ điển Luật học Black do West Pud Co xuất bản năm 1991 (Black's Law
Dictionary) thì tranh chấp dân sự đƣợc hiểu là những mâu thuẫn, bất đồng (tranh cãi);
Sự mâu thuẫn về các yêu cầu hay quyền; sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ
một bên đƣợc đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngƣợc của bên kia.
Tranh chấp là điều không thể tránh khỏi trong quan hệ dân sự nói chung và
quan hệ dân sự có YTNN nói riêng, một phần là các bên tham gia quan hệ thƣờng là
các chủ thể có quốc tịch khác nhau, cƣ trú ở những nƣớc khác nhau dẫn đến những
khác biệt về truyền thống pháp luật và tập quán sinh hoạt. Hơn nữa những điều kiện
ngoại cảnh khác cũng có thể gây ra những khó khăn không thể lƣờng trƣớc, đôi khi là
bất khả kháng cho các bên khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình [25] (Chẳng hạn
tình hình chính trị bất ổn định, chính sách pháp luật thay đổi...).
Đặc biệt, trong các giao dịch thƣơng mại quốc tế, mối quan hệ và sự toan tính
giữa các bên là rất phức tạp, các bên đều mong muốn đem lại cho mình nhiều lợi
nhuận nhất, hƣởng những điều kiện thuận lợi nhất nhƣng lại phải gánh chịu trách
nhiệm ít nhất. Chính điều này đã làm cho tính chất các vụ tranh chấp ngày càng trở
nên phức tạp hơn. Những khó khăn, khác biệt thậm chí mâu thuẫn trong quá trình quản

giải quyết vụ việc. Điều này cho thấy rằng tính chất rất đặc thù và riêng biệt của quy
phạm xung đột, nó không đảm bảo có đƣợc một phán quyết nhất quán đối với một vụ
việc nếu đƣợc Tòa án các nƣớc khác nhau giải quyết. Nhƣ vậy, phƣơng pháp xung
đột cũng bộc lộ những hạn chế của nó khiến các bên đƣơng sự cố gắng hƣớng quan hệ
của mình vào phạm vi điều chỉnh của một hệ thống pháp luật có lợi hơn cho mình - tức
lẫn tránh pháp luật. Đặc biệt đối với các nƣớc thuộc hệ thống luật đƣợc xây dựng trên
nền tảng án lệ thì việc áp dụng phƣơng pháp này càng trở nên phức tạp hơn mà ngày
bản thân các bên đƣơng sự cũng không lƣờng trƣớc đƣợc hết.
Từ những nguyên nhân nêu trên, có thể khẳng định rằng tranh chấp dân sự có
YTNN là không thể tránh khỏi, là yếu tố mang tính khách quan của thời đại. Vì vậy,
yêu cầu đặt ra là phải có giải pháp giải quyết một cách thỏa đáng các tranh chấp đó,
nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên đƣơng sự, lợi ích quốc gia và cũng nhƣ
giữ vững đƣợc trật tự quan hệ dân sự quốc tế.


*Yếu tố nƣớc ngoài
Các nƣớc trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm "yếu tố
nƣớc ngoài" trong quan hệ dân sự. Để xác định YTNN trong một quan hệ dân sự hay
vụ việc dân sự cụ thể ngƣời ta thƣờng dựa vào một trong ba dấu hiệu, đó là, thứ nhất
khi quan hệ dân sự có ít nhất một bên là chủ thể nƣớc ngoài (Chủ thể); Thứ hai, khách
thể của quan hệ đó là tài sản hoặc quyền tài sản và quyền nhân thân đƣợc thực thi ở
nƣớc ngoài hoặc đƣợc xác lập theo luật nƣớc ngoài; Thứ ba, sự kiện pháp lý làm phát
sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ dân sự đó xảy ra ở nƣớc ngoài. Việc nhận diện
YTNN trong quan hệ dân sự là hết sức cần thiết. Không ít trƣờng hợp xác định không
đúng dẫn đến việc giải quyết các vấn đề phát sinh trên thực tiễn là rất khó khăn. Do
vậy, đây chính là những dấu hiệu phân biệt đối tƣợng điều chỉnh giữa Tƣ pháp quốc tế
với Luật dân sự nói chung.
Khi nói đến yếu tố chủ thể, một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xác
định tƣ cách chủ thể trong quan hệ dân sự là vấn đề quốc tịch. Về mặt lý luận, quốc
tịch của một cá nhân thể hiện sự lệ thuộc của cá nhân đó vào một nƣớc nhất định, là

khái niệm ngƣời nƣớc ngoài đƣợc hiểu là ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài nhƣng
không có quốc tịch Việt Nam bao gồm ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài và ngƣời không
quốc tịch. Các khái niệm trên đây đƣợc thống nhất sử dụng khi nghiên cứu tƣ cách
chủ thể của những ngƣời tham gia quan hệ dân sự có YTNN. Nhƣ vậy, để tham gia
vào quan hệ dân sự có YTNN, ngƣời nƣớc ngoài phải có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi dân sự, trƣớc tiên là theo pháp luật mà ngƣời đó là công dân hoặc pháp
luật của nƣớc mà ngƣời đó cƣ trú nếu ngƣời đó không có quốc tịch.
Pháp luật Việt nam cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới đều lấy dấu hiệu quốc
tịch để xác định phạm vi các quan hệ hay vụ việc dân sự thuộc phạm trù điều chỉnh
của tƣ pháp quốc tế nƣớc mình. Bên cạnh dấu hiệu chủ thể, để xác định một quan hệ
dân sự có YTNN cũng cần xem xét đến dấu hiệu khách thể của quan hệ, cụ thể gồm:
-

Tài sản: khi nói đến tài sản liên quan đến quan hệ ở nƣớc ngoài ngƣời ta

thƣờng chú ý đến quy chế pháp lý của tài sản, quyền của các bên đối với tài sản cụ thể
đó. Điều này có nghĩa rằng pháp luật nƣớc ngoài cũng có thể đƣợc áp dụng để điều
chỉnh quan hệ liên quan đến tài sản. Nhƣng vấn đề cơ bản ở đây là hiểu nhƣ thế nào
về tài sản. Theo quy định tại Điều 163 BLDS Việt nam 2005 thì tài sản "bao gồm vật,
tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản", và quyền tài sản theo Điều 163 BLDS 2005
"là quyền trị giá đƣợc bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lƣu dân sự, kể cả
quyền sở hữu trí tuệ". Đây cũng là khái niệm về tài sản đƣợc các nƣớc trên thế giới sử
dụng trong các văn bản pháp lý. Đồng thời, khi giải quyết các vấn đề liên quan đến tài
sản, cũng nhƣ xem xét về quy chế pháp lý của tài sản hầu hết các nƣớc đều sử dụng
hệ thuộc Luật nơi có tài sản để điều chỉnh (Lex rei sitae). Tuy nhiên, quy tắc này
không


phải lúc nào cũng đƣợc áp dụng để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền tài
sản. Chẳng hạn, về quyền sở hữu trí tuệ, vì quyền sở hữu trí tuệ mang tính chất lãnh

coi nhau nhƣ vợ chồng nhƣng chƣa muốn ly hôn với nhau. Trƣờng hợp này, ở các
nƣớc công nhận việc ly thân, pháp luật cho phép các bên ly thân với nhau trên cơ sở
quyết định của Tòa án. Việc Tòa án tuyên bố cho phép các bên ly thân là sự kiện pháp


lý làm thay đổi quan hệ hôn nhân. Theo quyết định này, hôn nhân chƣa chấm dứt
nhƣng quan hệ vợ chồng thì thay đổi. Sự thay đổi này thể hiện trong quan hệ nhân
thân và quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Khi vợ chồng quyết định chấm dứt quan hệ hôn
nhân nói trên tại một Tòa án của một quốc gia khác mà ở đó không công nhận việc ly
thân sẽ làm nảy sinh vấn đề công nhận bản án, quyết định của Tòa án trƣớc đó đã ra
quyết định để xử lý quan hệ hôn nhân và tài sản con chung liên quan giữa vợ chồng.
Đây chỉ là một ví dụ nhỏ trong rất nhiều trƣờng hợp có thể xảy ra liên quan đến sự
kiện pháp lý xảy ra ở nƣớc ngoài làm thay đổi quan hệ dân sự. Cũng tƣơng tự nhƣ
vậy đối với sự kiện pháp lý xảy ra ở nƣớc ngoài làm chấm dứt quan hệ dân sự.
Hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự nhằm làm phát sinh, thay đổi,
chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ dân sự nói chung và quan hệ dân sự có
YTNN nói riêng bao gồm cả các quyết định của cơ quan có thẩm quyền và hành vi cụ
thể của các chủ thể tham gia quan hệ đó. Nhƣ vậy xác định đúng thời điểm mà sự kiện
pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự có YTNN có ý nghĩa rất
quan trọng. Nó giúp cơ quan có thẩm quyền xác định đúng luật áp dụng để giải quyết
xung đột pháp luật phát sinh giữa các nƣớc hữu quan, từ đó giải quyết chính xác
những tranh chấp liên quan giữa các bên tham gia quan hệ.
YTNN trong quan hệ dân sự theo pháp luật của các nƣớc cũng nhƣ pháp luật
Việt nam thƣờng chỉ nói tới ba yêu tố nƣớc ngoài nhƣ đã phân tích trên. Tuy nhiên,
qua thực tiễn cũng nhƣ quá trình nghiên cứu về lĩnh vực Tƣ pháp quốc tế, nhiều nhà
luật học đã cho thấy, không chỉ có ba yếu tố trên mới xác định quan hệ dân sự có
YTNN mà ngoài ra yếu tố cƣ trú của các bên đƣơng sự cũng là một dấu hiệu khá quan
trọng để xác định quan hệ này. Khi nói đến yếu tố cƣ trú của các bên đƣơng sự tham
gia quan hệ dân sự có YTNN có thể xảy ra hai trƣờng hợp: Thứ nhất, Công dân nƣớc
sở tại ra nƣớc ngoài cƣ trú, Thứ hai, công dân nƣớc ngoài vào nƣớc sở tại cƣ trú, làm

cƣ tại Hoa Kỳ, trƣớc khi đi bà Sáu giao lại nhà cho các con do ông Nguyễn Phú Trọng
đại diện. Các anh em đã làm giấy thỏa thuận với nôi dung đồng ý để cho anh Trọng
đứng tên căn nhà, nếu căn nhà bán hoặc san nhƣợng cho ngƣời khác phải đƣợc sự
đồng ý của các anh em. Giấy thỏa thuận đã đƣợc tất cả anh em ký tên và UBND
phƣờng xác nhận. Nay phát sinh tranh chấp giữa ông Nam, ông Đức với ông Trọng
[8]. Ở đây, quan hệ dân sự là quan hệ tặng cho tài sản, không có YTNN vì quan hệ này
đƣợc thực hiên giữa những ngƣời con của bà Sáu với ông Trọng. Nhƣng trong vụ án
dân sự có đƣơng sự là ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Sáu
với ông Nguyễn Nam Hùng đang định cƣ ở Mỹ, do đó theo quy định của BLTTDS
2004 sửa đổi, bổ sung thì đây là vụ án dân sự có YTNN.
Nhƣ vậy, theo pháp luật Việt Nam, tranh chấp dân sự có YTNN là những tranh
chấp mà có ít nhất một trong các bên đƣơng sự là ngƣời nƣớc ngoài, ngƣời Việt Nam


định cƣ ở nƣớc ngoài hoặc các quan hệ dân sự giữa các đƣơng sự là công dân, cơ quan,
tổ chức Việt nam nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ ở nƣớc ngoài.

*Tố tụng dân sự quốc tế
Về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn, thuật ngữ Tố tụng dân sự quốc tế thƣờng đƣợc
sử dụng chỉ mang tính tƣơng đối, bởi lẽ trên thực tế một số lƣợng khá lớn các vụ việc
không thuộc nhóm vụ việc dân sự theo nghĩa rộng có YTNN cũng đƣợc giải quyết theo
thể thức tố tụng dân sự quốc tế. Chẳng hạn nhƣ, việc xác định thẩm quyền xét xử, xác
định địa vị pháp lý của ngƣời nƣớc ngoài tham gia tố tụng dân sự, vấn đề chứng cứ tƣ
pháp và thực hiện các ủy thác tố tụng quốc tế riêng biệt, vấn đề công nhận và cho thi hành
các bản án, quyết định dân sự, thƣơng mại của Tòa án nƣớc ngoài...Tuy nhiên, chỉ có các
vụ việc dân sự có YTNN mà Luật quy định thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án một quốc
gia mới thuộc phạm vi nghiên cứu của Tƣ pháp quốc tế về tố tụng quốc gia đó. Phạm vi
và nội dung các vấn đề trên hoàn toàn thuộc vào chủ quyền quy định của mỗi quốc gia.
Do đó, trong khoa học pháp lý, không có Luật tƣ pháp quốc tế chung cho mọi quốc gia

quốc gia hoặc các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận chấp nhận hay cùng xây
dựng đƣợc thể hiện trong các Điều ƣớc quốc tế hoặc trong các thỏa thuận quốc tế.
Chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nƣớc ngoài có thể là ngƣời
nƣớc ngoài (Ngƣời không mang quốc tịch nƣớc sở tại), ngƣời trong nƣớc cƣ trú làm ăn
sinh sống ở nƣớc ngoài, có thể là tổ chức nƣớc ngoài, tổ chức quốc tế, thậm chí Nhà
nƣớc nƣớc ngoài. Trong số những chủ thể này bao gồm cả những bộ phận có thân phận
ngoại giao, do vậy khi tham gia quan hệ tố tụng dân sự quốc tế, những chủ thể này có địa
vị tố tụng khác biệt nhất định so với những chủ thể của quan hệ tố tụng thông thƣờng do
những quyền ưu đãi miễn trừ mà các nước hữu quan cam kết dành cho những công dân
của nhau trong quan hệ dân sự có liên quan trên cơ sở Điều ƣớc quốc tế hoặc nguyên tắc
có đi có lại trong quan hệ quốc tế. Lúc này quan hệ tố tụng cũng sẽ phát sinh trong những
điều kiện nhất định (nếu các chủ thể đó đồng ý, hoặc họ đứng vai trò là nguyên đơn)
nhƣng cũng sẽ mang màu sắc khác so với quan hệ tố tụng trong nƣớc.
Một đặc điểm nữa cho phép phân biệt tố tụng dân sự quốc tế với Tố tụng dân sự
thông thƣờng trong nƣớc là vấn đề xác định thẩm quyền. Trong khi xác định thẩm quyền
đối với vụ kiện dân sự trong nƣớc là việc xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể của
quốc gia để xét xử vụ án thì đối với vụ kiện có YTNN, việc đầu tiên, chủ yếu và quan
trọng nhất là xác định thẩm quyền của Tòa án của quốc gia nào nói chung có thẩm quyền
xét xử vụ kiện. Sau khi xác định đƣợc thẩm quyền chung thuộc về Tòa án của một quốc
gia nhất định, Tòa án sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng trong nƣớc để xác
định thẩm quyền cụ thể thuộc Tòa án cấp nào, địa phƣơng nào trong


việc xét xử vụ kiện. Thực chất đây là quá trình xác định thẩm quyền tƣ pháp của một
quốc gia đối với một tranh chấp nhất định có liên quan.
Để giải quyết các tranh chấp dân sự có YTNN, với khả năng có thể xảy ra hiện
tƣợng xung đột pháp luật, các quốc gia thƣờng giải quyết xung đột bằng cách xây
dựng và sử dụng các quy phạm xung đột. Việc áp dụng các quy phạm xung đột có
nghĩa là thừa nhận pháp luật nƣớc ngoài đƣợc áp dụng để điều chỉnh các quan hệ dân
sự có YTNN trong những trƣờng hợp nhất định. Với đặc thù trên nên khi có YTNN

áp dụng quy phạm xung đột trong Điều ƣớc quốc tế. Khi quy phạm xung đột dẫn
chiếu tới luật pháp nƣớc ngoài có nghĩa là dẫn chiếu tới toàn bộ hệ thống pháp luật
của nƣớc đó bao gồm cả quy phạm thực chất (thực chất thống nhất và thực chất thông
thƣờng) và quy phạm xung đột, không đƣợc tùy tiện loại bỏ bất cứ điều luật hay
nguồn luật nào. Do áp dụng luật nƣớc ngoài là áp dụng toàn hệ thống nên nó phải
đƣợc giải thích, xác định nội dung và áp dụng một cách thiện chí và đầy đủ để giải
quyết vụ việc đúng nhƣ ở nƣớc đã ban hành nó.
Trong một số lĩnh vực quan hệ dân sự có YTNN, pháp luật các nƣớc và cả Việt
Nam không cho phép các bên đƣơng sự lựa chọn pháp luật để áp dụng. Ví dụ trong
quan hệ hôn nhân gia đình, quan hệ thừa kế … Riêng trong quan hệ hợp đồng thƣơng
mại, hợp tác khoa học – kỹ thuật, văn hóa, pháp luật các nƣớc ở những mức độ khác
nhau đều cho phép các bên đƣơng sự thỏa thuận chọn pháp luật để áp dụng chỉ khi các
bên không thỏa thuận đƣợc pháp luật áp dụng thì Tòa án mới áp dụng pháp luật nơi
thực hiện hợp đồng hoặc các quy tắc khác để xác định luật đích thực của hợp đồng.
Trong mối quan hệ với nguyên tắc có đi có lại, việc áp dụng pháp luật nƣớc
ngoài để giải quyết các tranh chấp dân sự có YTNN không bị giới hạn bởi nguyên tắc
này. Bỡi lẽ việc áp dụng luật nƣớc ngoài là nhu cầu khách quan để giải quyết các tranh
chấp dân sự quốc tế trên cơ sở phối hợp giữa hai hay nhiều hệ thống pháp luật mà tất
cả đều phải công nhận sự bình đẳng giữa các hệ thống pháp luật của nhau. Các nƣớc
đều quy định trong luật nƣớc mình việc cho phép áp dụng luật nƣớc ngoài trên cơ sở
tự nguyện, điều này đƣợc thể hiện rõ ngay khi ban hành hoặc thông qua văn bản pháp
luật đó. Có nghĩa là khi cơ quan tƣ pháp vận dụng luật nƣớc ngoài để giải quyết vụ
việc dân sự không nhất thiết phải xem xét là ở nƣớc ngoài đó đã áp dụng luật nƣớc
mình chƣa. Tòa án khi áp dụng luật nƣớc ngoài là để bảo vệ quyền lợi chính đáng của
các đƣơng sự, chứ không gây thiệt hại cho các bên hay làm phƣơng hại đến chủ quyền
quốc gia. Việc cho phép áp dụng luật nƣớc ngoài là để tăng cƣờng và cũng cố sự hợp
tác về mọi mặt giữa các quốc gia với nhau trên cơ sở hiểu biết và tin tƣởng lẫn nhau
nhằm cùng thiết lập một trật tự pháp lý ổn định trên bình diện quốc tế.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status