Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia của các nước đang phát triển Châu Á - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam - Pdf 25

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ



Tống Hoàng Phúc

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA CỦA
CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN CHÂU Á
- BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế thế giới & Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 5.02.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Phùng Xuân Nhạ
Khoa Kinh tế, trường Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội, 2005
4
MỤC LỤC


Những đóng góp mới của Luận văn
1
0

Bố cục luận văn
1
1

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ HÌNH
THÀNH CÁC TNCs CỦA CÁC NƢỚC ĐPT CHÂU Á

1
.1
CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1
2
1
.1.1
Các khái niệm và định nghĩa:
1
2
1
.1.2
Bản chất và các đặc điểm cơ bản của TNCs
1
5

8

CHƢƠNG 2: ĐỘNG THÁI PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TNCS CỦA
CÁC NƢỚC ĐPT CHÂU Á

2
.1
MÔ HÌNH VÀ CHIẾN LƢỢC PHÁT TRIỂN
3
3
2
.1.1
Các mô hình tổ chức quản lý phổ biến
3
3
2
.1.2
Chiến lƣợc phát triển
3
8
2
.2
SỰ PHÁT TRIỂN VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TNCS
CỦA CÁC NƢỚC ĐPT CHÂU Á
4
6
2

7
2
.3.2
Đa dạng hóa lĩnh vực và hình thức đầu tƣ
6
9
2
.3.3
Đa dạng hoá các hoạt động trong thƣơng mại, chuyển
giao công nghệ, thu hút và đào tạo lao động
7
1

CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT
NAM
7
5
3
.1
Quá trình tích tụ vốn và hình thành các TNCs
7
5
3
.2
Điều chỉnh chính sách của Nhà nƣớc
8
0

Nam
1
00

PHỤ LỤC 4: Một số gợi ý về xu hƣớng hình thành và phát triển
TNCs ở Việt Nam
1
04

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
09 7
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng Việt

1
APEC
Asia Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác Kinh tế
Châu Á - Thái Bình Dƣơng

Research and Development
Nghiên cứu và phát triển
9
SME
Small and medium - sized
Enterprises
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
10
TNC
Transnational Corporation
Công ty xuyên quốc gia
11
UNCTAD
United Nation’s Conference
on Trade and Development
Hội nghị liên hiệp quốc về
thƣơng mại và phát triển
12
USD
United States Dollar
Đô la Mỹ
13
ĐPT

đang phát triển
14
ĐPT CA

đang phát triển Châu Á
15

NXB

Nhà xuất bản
23
XHCN

xã hội chủ nghĩa
24
TCT

tổng công ty
25
[2/5,6]
hoặc
[2/5-7]

Tài liệu tham khảo số 2 tại
danh mục tài liệu tham
khảo, trang số 5 và 6 hoặc 8
trang số 5 đến trang số 7. 9
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Từ những năm 1980s đến nay, các nƣớc đang phát triển Châu Á (ĐPT
CA) nổi lên nhƣ một sự đột phá trong sự phát triển về mọi mặt: cả về kinh tế,

Hiện nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về các TNCs của các nƣớc
ĐPT nói chung cũng nhƣ của các nƣớc ĐPT CA nói riêng, tuy nhiên hầu hết
các đề tài đều xem xét trong nhiều góc độ và chủ yếu đi sâu vào từng lĩnh
vực, khía cạnh, cũng nhƣ dự đoán các xu hƣớng hoạt động và phát triển của
các TNCs của các nƣớc này. Ở Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu về
các TNCs nhƣ: cuốn sách“Vai trò của các công ty xuyên quốc gia đối với nền
kinh tế các nƣớc ASEAN” của tác giả Nguyễn Khắc Thân do nhà xuất bản
Pháp lý xuất bản năm 1992, tuy nhiên nội dung cuốn sách chủ yếu tập trung
vào vai trò của các TNCs đối với nền kinh tế các nƣớc này, hơn nữa chƣa tách
biệt đƣợc TNCs nƣớc ngoài và TNCs của các nƣớc này; cuốn sách “Đầu tƣ
trực tiếp của các công ty xuyên quốc gia” của trƣờng Học viện quan hệ quốc
tế do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996 thì chủ yếu đi sâu
vào một lĩnh vực đầu tƣ của các TNCs trên toàn thế giới, chƣa nêu đƣợc
những đặc trƣng của riêng các TNCs khu vực các nƣớc ĐPT CA; cuốn sách
“Công ty xuyên quốc gia của các nền kinh tế công nghiệp mới Châu Á” của
tác giả Hoàng Thị Bích Loan do nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm
2002, đây là một cuốn sách nghiên cứu sâu về các TNCs của các nƣớc thuộc
khối NIEs Châu Á, tuy nhiên đây chỉ là một phần, chƣa thể bao quát đƣợc hết
các đặc điểm, nội dung, động thái phát triển của các TNCs các nƣớc ĐPT CA;
cuốn sách Công ty xuyên quốc gia: Khái niệm, đặc trƣng và những biểu hiện
mới” của tác giả Nguyễn Thiết Sơn do nhà xuất bản KHXH xuất bản năm
2003 là một trong những cuốn sách đƣợc đánh giá cao, tuy nhiên tập thể tác
giả chủ yếu nghiên cứu chung và mang tính lý luận nhiều hơn, mặc dù vậy
các tác giả đã đƣa đƣợc ra nhiều mô hình chung, giải thích đƣợc nhiều động
thái phát triển của các TNCs trên thế giới và một phần động thái phát triển 11
của các TNCs của các nƣớc ĐPT CA và gần đây nhất là đề tài nghiên cứu
khoa học cấp Đại học Quốc gia Hà Nội mã số QK 03.01: “Cải tổ các cheabol

trình hình thành và phát triển của các TNCs của các nƣớc ĐPT CA luận văn
sẽ làm rõ đƣợc những đặc điểm phát triển của các TNCs của các nƣớc ĐPT
CA, từ đó rút ra đƣợc một số bài học cho việc xây dựng các tập đoàn kinh tế ở
nƣớc ta hiện nay
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu và nội dung trên, đối tƣợng nghiên cứu chính trong luận
văn là quá trình hình thành, phát triển các TNCs của các nƣớc ĐPT CA.
Phạm vi nghiên cứu là các hoạt động chính của các TNCs của các nƣớc
ĐPT CA nhƣ thƣơng mại, đầu tƣ, chuyển giao công nghệ, đào tạo phát triển
nguồn nhân lực và các tác động của chúng tới nền kinh tế các nƣớc này từ
đầu những năm 1980s đến nay.
Do hiện nay số liệu về các TNCs của các nƣớc ĐPT CA chƣa đƣợc
thống kê một cách đầy đủ, nhất là các nƣớc có mức phát triển thấp nhƣ ở Nam
và Trung Á , nên trong phạm vi của luận văn này tác giả chủ yếu sử dụng số
liệu về các TNCs của các nƣớc NIEs Châu Á vì các TNCs của các nƣớc ĐPT
CA tập trung chủ yếu ở các nƣớc này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, ngoài những phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản, tác giả
đã vận dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chính nhƣ phƣơng pháp thống kê,
tổng hợp, phân tích so sánh, phƣơng pháp lịch sử, đọc tài liệu và sử dụng các
mô hình lý thuyết, kết hợp với tham khảo ý kiến các chuyên gia nhằm tổng
hợp, phân tích đánh giá và đƣa ra những nhận xét, dự đoán về xu hƣớng hoạt
động và phát triển của các TNCs của các nƣớc ĐPT CA, từ đó đƣa ra những
bài học cho Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Xem xét một cách tổng quát về quá trình hình thành và phát triển của 13
các TNCs của các nƣớc ĐPT CA, thông qua hệ thống lý luận cơ bản xem xét

gia (MNEs/MNCs) đƣợc sử dụng với ý nghĩa nhƣ nhau, nhƣng nhìn chung
thuật ngữ công ty quốc tế vẫn quen đƣợc sử dụng [11/34]. Các thuật ngữ này
nói đến sự lớn mạnh của công ty đã vƣợt ra khỏi phạm vi một quốc gia và có
các hoạt động sản xuất kinh doanh ở nhiều nƣớc trên thế giới (Jenkins, 1987).
Đặc điểm cơ bản của các công ty quốc tế hoặc đa quốc gia là quy mô lớn, sở
hữu đa quốc tịch và có phạm vi hoạt động ở nhiều nƣớc. Mặc dù hai thuật ngữ
trên có ý nghĩa nhƣ nhau, nhƣng xét ở cách tiếp cận, thuật ngữ thứ nhất xem
xét công ty từ giác độ kinh doanh quốc tế, trong khi thuật ngữ thứ hai đề cập
đến cả tính sở hữu đa quốc gia của công ty (Richard E. Caves, 1986), vì thế
thuật ngữ thứ hai đã phản ánh đầy đủ hơn đặc điểm của MNEs.
Đầu thập kỷ 70, thuật ngữ MNEs đƣợc sử dụng nhiều hơn thuật ngữ
công ty quốc tế và có ý phân biệt với khái niệm công ty quốc tế [11/36].
Trong thời kỳ này, cơ cấu tổ chức và các hoạt động của MNEs chuyển sang
cơ chế phi tập trung, đa doanh hơn trƣớc. Quá trình ra quyết định các hoạt
động của công ty không còn độc quyền từ một chủ sở hữu ở chính quốc, mà
ngƣời nƣớc ngoài cũng đƣợc tham gia quản lý các chi nhánh của công ty hoạt 15
động ở nƣớc họ. Hơn nữa họ còn có quyền điều chỉnh tỷ lệ góp vốn và quyết
định hình thức hợp tác với MNEs ở nƣớc chủ nhà. Bởi vậy, cơ cấu tổ chức và
hoạt động của MNEs không chỉ có tính quốc tế mà còn mang đậm nét đa quốc
gia.
Ngoài những đặc điểm chung trên, các nhà học giả còn đƣa ra nhiều
tiêu chí để xác định một công ty là MNEs. Chẳng hạn, các nhà học giả Mỹ
thƣờng căn cứ vào phạm vi kiểm soát và quản lý hoạt động sản xuất ít nhất từ
hai nƣớc trở lên, và nhấn mạnh đến mức độ kiểm soát và quản lý trực tiếp các
hoạt động của công ty ở nƣớc ngoài. Một số nhà học giả khác lại nhấn mạnh
về đặc điểm quy mô tài sản của công ty phải đạt đến mức trên 100 triệu USD
(Raymond Vernon, 1971) hoặc đƣợc xếp vào danh sách 500 công ty lớn nhất

Nhƣ vậy, qua các khái niệm và định nghĩa trên, có thể đi đến hai nhận
xét quan trọng: thứ nhất, về bản chất, các thuật ngữ về TNCs không có sự
khác biệt đáng kể, chúng có đặc điểm chung là quy mô lớn, sở hữu đa quốc
gia và kiểm soát hoạc động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nƣớc. Sự khác biệt
chủ yếu là tên gọi, phản ánh đặc điểm nổi bật của TNCs trong từng giai đoạn
lịch sử phát triển hoặc thói quen sử dụng từ ngữ của các nhà học giả. Thứ hai,
khó có thể đƣa ra định nghĩa chính xác về TNCs.
Theo nhiều nhà nghiên cứu nhận định: dùng thuật ngữ TNC để chỉ tất
cả các công ty hoạt động trên phạm vi quốc tế là hợp lý vì nó không chỉ nêu
đƣợc đặc trƣng kinh tế nổi bật của công ty trong thời đại quốc tế hoá đời sống
kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay mà còn phản ánh đúng tính chất hoạt
động của công ty trong thực tế. Bởi thế, định nghĩa chung về TNCs đƣợc sử
dụng trong luận văn này là định nghĩa của UNCTAD đƣợc công bố năm
1998:
“Các TNCs là những công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc vô hạn, bao
gồm công ty mẹ và các công ty chi nhánh của chúng. Các công ty mẹ đƣợc
định nghĩa nhƣ là các công ty mà việc kiểm soát tài sản của các thực thể kinh
tế khác ở nƣớc ngoài thƣờng đƣợc thực hiện thông qua việc góp vốn tƣ bản cổ 17
phần”.
Trong đó, có các loại công ty con dƣới đây:
- Công ty phụ thuộc (Subsidiary Enterprise): Chủ đầu tƣ (thuộc công ty
mẹ) sở hữu hơn 50% tổng tài sản của công ty. Họ có quyền chỉ định hoặc bãi
nhiệm các thành viên bộ máy tổ chức và quản lý điều hành của công ty.
- Công ty liên kết (Associate Enterprise): Chủ đầu tƣ chiếm 10% tài sản
của công ty, nhƣng chƣa đủ để có quyền hạn nhƣ trƣờng hợp công ty phụ
thuộc.
- Công ty nhánh (Branch Enterprise): là công ty trách nhiệm vô hạn

trong quá trình đó ngƣời công nhân hiện đại - từ đối tƣợng bị bóc lột trở thành
chủ thể sở hữu kinh tế đầy tiềm năng (do đã trở thành chủ sở hữu một loại
phƣơng tiện sản xuất mới là các tri thức và kỹ năng có chuyên môn cao riêng
của họ) ngày càng đƣợc thu hút với tƣ cách là đồng sở hữu.
Nhƣ vậy, dƣới tác động của cuộc cách mạng KH-CN, thông qua việc
làm chủ sở hữu trong các hãng, công ty của TNCs đã diễn ra 2 thay đổi lớn
trong các quan hệ về sở hữu: Một là, sở hữu độc quyền siêu quốc gia - là hình
thức sở hữu hỗn hợp đã đƣợc quốc tế hoá, đƣợc tạo lên từ quá trình tích tụ,
tập trung hoá và xã hội hoá sản xuất trên quy mô quốc tế dƣới sự tác động
mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc cách mạng KH-CN và của các quy luật cạnh
tranh, quy luật kinh tế cơ bản của CNTB. Hai là, sở hữu hỗn hợp - đƣợc tạo
ra do sự thay đổi về cơ bản địa vị, vai trò của ngƣời công nhân, trí thức,
những ngƣời làm việc trực tiếp trong các ngành nghề khác nhau, nhất là
những ngành có hàm lƣợng khoa học và công nghệ cao là những ngƣời quyết
định chất lƣợng của lao động và sản xuất.
Tóm lại, nếu xét về mặt quan hệ sản xuất thì TNCs chỉ là hình thức vận
động cao của quan hệ sản xuất tƣ bản chủ nghĩa, là sự thích ứng của các hình
thức sản xuất, kinh doanh tƣ bản trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của sức sản
xuất xã hội [5/88]. Xét về mặt hình thức hoạt động, thì dù phát triển cao đến
đâu thì các TNCs cũng chỉ là các công ty có quy mô phát triển lớn, chính vì 19
vậy bản chất của chúng là thể thức kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận trên phạm
vi toàn cầu. Chính vì vậy việc sản xuất ra giá trị thặng dƣ tƣơng đối, tăng lợi
nhuận là một mục tiêu không thể nào thay đổi, điều này quyết định hầu hết
mọi chiến lƣợc hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển của tất cả các
TNCs. Trong mỗi thời điểm và tại mỗi một quốc gia khác nhau, các TNCs có
các chiến lƣợc khác nhau để tồn tại, để phát triển thông qua các hình thức
biến đổi về phƣơng thức hoạt động, về cơ cấu quản lý… tất cả đều vì mục

phẩm bằng cách liên đổi mới công nghệ, chính vì vậy các TNCs buộc phải
thực hiện các chiến lƣợc bành chƣớng ra các nƣớc nhằm chi phối thị trƣờng
quốc tế, mở ra các thị trƣờng mới cho sản phẩm của mình, kéo dài vòng đời
của sản phẩm, cũng nhƣ việc phân công lao động và phân chia thị trƣờng thế
giới.
- Cơ cấu tổ chức TNCs thƣờng đƣợc chia thành hai phần chính: TNCs
đƣợc hiểu là những công ty hoạt động trên mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh,
trên lãnh thổ nhiều quốc gia, do đó cơ cấu tổ chức đƣợc chi thành hai phần
chính đó là “công ty mẹ” thuộc sở hữu của các nhà tƣ bản nƣớc mẹ và một hệ
thống các “công ty con - công ty chi nhánh” thuộc sở hữu công ty mẹ hoặc
hỗn hợp với công ty nƣớc chủ nhà. Công ty mẹ có vai trò là trung tâm phối
hợp hoạt động của các công ty con dƣới sự kiểm soát của nó, định hƣớng sự
phát triển của các công ty con và theo dõi thƣờng xuyên các hoạt động của
chúng.
- Các TNCs có năng lực tổ chức sản xuất lớn mạnh, năng lực về nghiên
cứu khoa học và phát triển sản phẩm, thuận tiện trong điều phối vốn trên
phạm vi toàn cầu: Những năng lực này đều bắt nguồn từ khả năng tài chính
lớn và hệ thống các chi nhánh rộng khắp của các TNCs trên phạm vi toàn
cầu. Vì vậy, các TNCs có thể nắm bắt các cơ hội, điều tiết cũng nhƣ phối hợp
giữa các chi nhánh để phục vụ cho một mục tiêu định trƣớc trên toàn mạng
lƣới của mình.
- Về cơ chế quản lý kinh doanh của các TNCs của các nƣớc ĐPT CA: 21
mục tiêu hành đầu đƣợc các TNCs chú trọng là nhằm phát triển công ty, tập
đoàn, Chính phủ các nƣớc này tạo mọi điều kiện cho các TNCs phát triển trở
thành bộ khung của nền kinh tế, động lực xuất phát chủ yếu là từ kết cấu xã
hội của Châu Á: kết cấu hình tháp. Các công ty chi nhánh không phải độc lập
hoàn toàn mà hoạt động nhƣ những vệ tinh cho các tập đoàn lớn mang tính hệ

X

M

0
t1 t2 t3 t (thời gian)
OQ là sản lượng của nhu cầu nội địa (D), sản xuất (P), xuất khẩu (X), nhập khẩu
(M) và OT là thời gian (t1, t2, t3 ). Lúc đầu, nhập khẩu sản phẩm mới làm tăng
nhu cầu nội địa và sản xuất trong nước, sau đó tất cả lại giảm xuống do nhu
cầu thị trường nội địa bị bão hoà. Vì thế, nhu cầu xuất khẩu xuất hiện. Các
bước tiếp theo lại lập lại trình tự như trước và phát triển theo hình chữ V úp
cơ sở phân tích các giai đoạn phát triển của sản phẩm từ đổi mới đến tăng
trƣởng, đạt mức bão hoà và bƣớc vào giai đoạn suy thoái. Để tránh lâm vào
suy thoái và khai thác hiệu quả sản xuất theo quy mô, công ty phải mở rộng
thị trƣờng tiêu thụ ra quốc tế, nhƣng các hoạt động xuất khẩu đã gặp trở ngại
bởi hàng rào thuế quan và cƣớc phí vận chuyển, vì thế các công ty di chuyển
sản xuất ra quốc tế để vƣợt qua những trở ngại này. Nhƣ vậy theo lý thuyết
này thì việc các TNCs cắm nhánh ra nƣớc ngoài là kết quả tự nhiên từ quá
trình phát triển của sản phẩm theo chu kỳ.
Theo lý thuyết chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu (1969) thì sản
phẩm mới đƣợc phát minh và ra đời ở nƣớc đầu tƣ, sau đó đƣợc xuất khẩu ra
thị trƣờng quốc tế. Tại nƣớc nhập khẩu, do ƣu điểm của sản phẩm mới là nhu
cầu thị trƣờng nội địa tăng lên, nƣớc nhập khẩu chuyển hƣớng sản xuất để
thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thuật…
của quốc tế. Đến khi nhu cầu thị trƣờng của sản phẩm sản xuất ở trong nƣớc
đạt tới mức bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện và cứ theo chu kỳ nhƣ
vậy mà dẫn đến việc các TNCs thành lập các chi nhánh tại nƣớc ngoài (xem
biểu đồ số 1).
Biểu đồ 1: Mô hình chu kỳ sản phẩm bắt kịp của Akamatsu

24 Nguồn: L.Zan, S.Zambon và Pettigrew (eds), Barriers to Internationalization,
Perspecties on Strategic, Kluwer, Norwell. Mass, 1993, p23.
Chưa có đầu tư ra nước ngoài (sản xuất trong nước)
Xuất khẩu trực tiếp ra thị trường nước ngoài
Văn phòng
đại diện
Văn phòng
đại diện
Cho thuê giấy
phép

Chi nhánh ở nước
ngoài

này. Nhằm tạo điều kiện cho các TNCs trong nƣớc hình thành phát triển,
Chính phủ các nƣớc ĐPT CA can thiệp tƣơng đối mạnh vào các lĩnh vực nhƣ:
đầu tƣ, cho vay (cả ngoại tệ), ƣu tiên xuất khẩu,… bên cạnh đó Chính phủ các
nƣớc này đã xây dựng một môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, luật đầu tƣ với
những quy định ƣu đãi thu hút TNCs đầu tƣ vào hoạt động ngày một nhiều và
dài hơn. Cụ thể các nƣớc này đã sớm hoàn thiện hệ thống luật đầu tƣ, cho
phép chuyển lợi nhuận về nƣớc, đƣa ra một số ƣu đãi đặc biệt đối với các
TNCs lớn và có công nghệ hiện đại, một số nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng
phát triển mạnh nhƣ các nƣớc NIEs đã thực hiện miễn thuế nhập khẩu và các
thủ tục hải quan,… từ đó đã hình thành đƣợc nhiều loại hình thị trƣờng và
phát triển đồng bộ từ đó thúc đẩy các TNCs của mình hình thành và phát
triển.
Các nƣớc ĐPT CA đã lựa chọn mô hình chiến lƣợc kinh tế - xã hội phù
hợp với các điều kiện trong nƣớc và nƣớc ngoài nhằm khai thác tối đa lợi thế
so sánh, ví dụ nhƣ “Chiến lƣợc hƣớng về xuất khẩu”. Tại mỗi nƣớc có những
chính sách cho riêng mình để đem lại những đặc thù riêng, nhƣ ở Hàn Quốc,
các biện pháp nhƣ miễn thuế nhập khẩu đối với phƣơng tiện sản xuất nguyên
liệu, miễn thuế kinh doanh với ngành xuất khẩu và tài trợ lãi suất thấp bằng
cách sử dụng các khoản cho vay của nƣớc ngoài. Đó là nhƣng biện pháp rất 26
có hiệu quả kích thích sự phát triển của TNCs. Hơn nữa một loại hoạt động
khuyến khích xuất khẩu của Cơ quan xúc tiến thƣơng mại Hàn Quốc
(KOTRA) cũng góp phần giúp ngành công nghiệp xuất khẩu của nƣớc này
phát triển.
Tại các nƣớc Đài Loan, từ những năm 1950 đã bắt đầu khuyến khích
các ngành công nghiệp hƣớng về xuất khẩu nhƣ: nới lỏng kiểm soát đối với
xuất khẩu từ sau năm 1958, áp dụng một hệ thống ngoại hối thống nhất đối
với xuất nhập khẩu, sự phân chia những khuyến khích về thuế, việc tài trợ lãi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status