Biến động sô lượng của dịch hại chính trên cây công nghiệp - Pdf 69

Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dch hc v Bo v thc vt...
103

Chơng 7. biến động số lợng của các dịch hại chính
trên cây công nghiệp

1. Dịch hại trên cây đậu tơng
1.1. Giòi đục thân đậu tơng Melanagromyza sojae
1.1.1. Các vụ dịch đ xảy ra do giòi đục thân đậu tơng M. sojae
Đậu tơng là cây công nghiệp ngắn ngày có thể trồng 3 vụ trên năm
và có hàm lợng dinh dỡng khá cao, nên tập đoàn sâu bệnh hại trên cây
đậu tơng rất phong phú. Trong đó, giòi đục thân M. sojae là một trong
những loài sâu hại nguy hiểm. Theo Waterhouse (1993), ruồi đục thân M.
sojae là một trong 2 loài xuất hiện với mức độ phổ biến cao nhất. ở ấn
Độ, (Singh và ctv. 1992) cho biết, ở vùng Sehore, Madhya Pradesh, loài
giòi đục thân thờng gây thành dịch, tỷ lệ hại lên tới 93,5%; khoảng 1/3
diện tích phải phá đi trồng lại vì bị khuyết mật độ cây. Thí nghiệm theo
dõi ảnh hởng của giòi đục thân năng suất hạt đậu tơng, thấy rằng:
những cây bị giòi đục thân gây hại, số quả/cây giảm 17,6%; trọng lợng
quả/cây giảm 28,7% và trọng lợng hạt/cây giảm 32,4%. M. sojae gây hại
trên cây đậu tơng ngay từ khi cây đậu tơng có 2 lá đơn cho đến khi cây
phát triển hết giai đoạn sinh trởng sang giai đoạn sinh thực.
ở Việt Nam, ruồi đục thân đậu tơng là đối tợng có thể gây thiệt
hại một cách đáng kể. Những trận dịch do giòi đục thân gây ra thờng vào
vụ đông-xuân và vụ xuân. Đó là vào những năm 1983-1984, 1986 - 1990
(Lơng Minh Khôi và ctv. 1984, 1987, 1989, Nguyễn Anh Diệp 1986). Tỷ
lệ cây bị hại lên tới 77 100%. Cây bị hại chết khô, gây khuyết mật độ từ
46,1 54,5%. Cây bị hại còn sống sót thì trọng lợng giảm 57% so với
cây khoẻ. Mật độ giòi đục thân trong vụ xuân là 78 145 con/100 cây; vụ
đông là 30 236 con/100 cây. Diện tích bị khuyết mật độ lên tới hàng
trăm ha. Các tỉnh thờng có dịch sâu đục thân đậu tơng gây ra là Hà Nội,

Thời gian phát dục (ngày)
Thời gian
TN
Trứng Tuổi 1 Tuổi 2 Tuổi 3 Nhộng
Tr.
thành
Vòng
đời
Nhiệt độ
TB (
0
C.
Độ ẩm
TB (%)
Mùa hè 2.1 1.0 2.2 4.3 8.8 2.7 21.1 27.2 81.3
Mùa đông 4.1 1.7 3.9 5.8 13.8 4.2 33.6 18.0 77.1
Ghi chú: Tr.thành Trởng thành; TB: Trung bình

Tỷ lệ đực : cái là 1:1

Khả năng đẻ trứng: Tù thuộc vào điều kiện thức ăn thêm của trởng
thành. Nếu đợc ăn ật ong nguyên chất, số lợng trứng đợc đẻ ra trung
bình là 142.3 quả. Nếu đợc ăn dung dịch nớc đờng 10% thì số lợng
trứng đợc đẻ ra trung bình là 102.1 quả. Còn nếu đợc ăn nớc l thì số
lợng trứng đợc đẻ ra trung bình là 45.3 quả.

Thời gian sống của trởng thành cái: Tuỳ theo điều kiện thức ăn
thêm mà thời gian sống của ruồi có sự sai khác. Nếu điều kiện thức ăn là
mật ong nguyên chất, thì thời gian sống của con ruồi cái là 22.8 ngày (15
38 ngày). Nếu thức ăn cho ruồi là dung dịch nớc đờng 10%, thì thời

giòi đục thân 40-60%.
Trên đồng ruộng đậu tơng, vụ đông-xuân và đặc biệt là vụ xuân,
cần phun phòng ngay từ khi cây đậu tơng mới có 2 lá đơn. Sau đó phun
tiếp 1 lần nữa vào giai đoạn cây đậu tơng có 1-2 lá kép. Thuốc hoá học
sử dụng tốt nhất là loại thuốc thấm sâu (ví dụ, Dipterex) sẽ đem lại hiệu
quả phòng trừ cao.
Khi cây đậu tơng đ có 4-5 lá kép trở lên, không cần phải tiến
hành phòng trừ giòi đục thân nữa, vì khi cây đ lớn, sự gây hại của giòi
đục thân không còn ảnh hởng lớn đến sinh trởng cũng nh năng suất
của cây.

1.2. Sâu cuốn lá đậu tơng Hedylepta indicata Fabr.
Họ ngày sáng Pyralidae
Bộ cánh vảy Lepidoptera

1.2.1. Các vụ dịch đ xảy ra do sâu cuốn lá đậu tơng
Sâu cuốn lá đậu tơng là một trong 3 loài sâu hại chính trên cây đậu
tơng. Sự gây hại của nó vào giai đoạn cây đậu tơng 3-4 lá kép ở vụ đậu
tơng xuân cũng gây ảnh hởng không nhỏ đến sự sinh trởng của cây
đậu tơng. Có những vụ xuân, mật độ sâu cuốn lá cao, đ làm chết cây
đậu tơng bởi vì bộ lá đ bị sâu ăn hết. Theo Waterhouse (1993), loài sâu
cuốn lá này xuất hiện và gây hại trên khắp 10 nớc thuộc đông nam châu
á. Những nớc có sâu cuốn lá xuất hiện với mức độ phổ biến cao là Việt
Nam và Philippines. ở Thái Lan, theo Sepwardi (1976), thì sâu cuốn lá H.
indicata là một trong 10 loài sâu hại làm giảm năng suất hạt.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dch hc v Bo v thc vt...
106

ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Lơng Minh Khôi và ctv.
1985, 1987, 1989) thì sâu cuốn lá là một trong 14 loài sâu hại chính. Nó

những chie tiêu cơ bản sau đây:
a/ Dự tính thời gian trởng thành rộ và sâu non tuổi 1 rộ
b/ Dự tính số lợng sâu cuốn lá sẽ phát sinh
c/ Dự tính thiệt hại do sâu cuốn lá gây ra (diện tích bị nhiễm nặng với
mật độ sâu là 30 con/m
2
.
1.2.4. Biện pháp phòng ngừa và dập dịch
* Canh tác kỹ thuật
Đối với loài sâu cuốn lá đậu tơng, cha tạo ra đợc giống chống
chịu. Do vậy, cần gieo trồng tập trung để phân tán mật độ sâu. Biện pháp
phòng ngừa loài sâu này chủ yếu dựa trên cơ sở dự tính dự báo sự xuất
hiện trởng thành và sâu non lứa 1 và lứa 2.
Trng i hc Nụng nghip H Ni Giỏo trỡnh Dch hc v Bo v thc vt...
107

- Chăm sóc tốt ngay từ ban đầu để tăng khả năng ra lá, bù vào
những phần lá đ bị sâu cuốn lá ăn đi.
- Phun phòng bằng thuốc trừ sâu sinh học vào giai đoạn sau khi
trởng thành sâu cuốn lá đậu tơng lứa 2 xuất hiện rộ khoảng 7
10 ngày.
- Phát động biện pháp bẫy đèn bắt bớm vào thời điểm trởng
thành lứa 1 và lứa 2 rộ.
* Biện pháp sinh học
Sâu cuốn lá đậu tơng bị rất nhiều loài kẻ thù tự nhiên điều hoà số
lợng. Riêng côn trùng ký sinh thu đợc 6 loài (Đặng Thị Dung, 1999).
Có một số loài thể hiện vai trò rất lớn, đó là chân chạy đen, chân chạy đen
viền trắng thuộc họ chân chạy Carabidae, thờng xuyên săn lùng sâu non
cuốn lá trong tổ. Loài ong ký sinh kén nâu đơn chuyên tính thờng đẻ
trứng ký sinh trên sâu cuốn lá đậu tơng với tỷ lệ rất cao, đặc biệt vào cuối


(Leslie, 1994); Malaysia có 25 loài (Lim and Pan, 1980); ấn Độ có 9 loài
(David, 1977); Đài Loan có 5 loài (Cheng 1994).
ở Việt Nam, theo tác giả Hồ Khắc Tín (Chủ biên, 1982), Lơng
Minh Khôi (1997), trên cây mía có 5 loài sâu đục thân. Theo Câo Anh
Đơng (1998), có 6 loài sâu đục thân mía. Gần đây nhất, tác giả Lê Ngọc
Diệp (2002), trên cây mía ở miền đông Nam bộ, có 7 loài sâu đục thân.
Mặc dù triệu chứng và mức độ gây hại của từng loài sâu đục thân có sự sai
khác, song chúng đều có những đặc trng điển hình nh sau:
Đối với mía ở thời kỳ cây con, sâu đục vào cây, gây hiện tợng nõn
héo, ảnh hởng lớn đến mật độ cây.
Đối với mía ở thời kỳ có lóng, khi sâu đục vào thân cây, đốt mía có
sâu, cây mía dễ bị gy đổ khi có gió. Đồng thời, bệnh thối đỏ dễ phát triển
trong các đốt thân mía có sâu.
Sâu đục thân gây hại cho mía, làm cho năng suất, sản lợng, chất
lợng và độ Brix đờng bị ảnh hởng khá rõ rệt.
Các vụ dịch do sâu đục thân mía đ xảy ra:
Cây mía ở bất cứ giai đoạn sinh trởng nào cũng đều có thể bị sâu
đục thân tấn công gây hại. Các loài sâu đục mầm thờng gây hại ở giai
đoạn mía mầm. Theo Solomon và ctv. (2000), các loài sâu đục mầm có thể
làm giảm khoảng 26,7% mầm cấp 1, 6,4% mầm cấp 2, 27,1% mầm cấp 3
và 75% mầm cấp 4 và làm giảm 22-30% năng suất mía. ở ấn Độ, loài sâu
đục mầm gây hại làm giảm tỷ lệ mầm từ 30 tới 75%. Waterhouse (1993)
cho biết, nhóm sâu đục mầm gây hại phổ biến và rất nguy hiểm ở
Philippines, Cămpuchia, Lào và Indonesia. Tơng tự, các loài sâu đục
ngọn là nguyên nhân gây chết khoảng 10% tổng số mầm (Solomon và ctv.
(2000). Nhiều tác giả cho rằng, các loài sâu đục lóng gây hại thờng làm
cây giảm mạnh về trọng lợng. Những cây bị hại nặng, có thể làm bị chết
do bị gy, bị thối thân hoặc khô thân. Các lóng bị sâu đục thờng dễ bị
gy, mầm nách phát triển mạnh, hàm lợng đờng trong mía bị ảnh hởng

Loài sâu đục thân 5 vạch trong một năm thờng phát sinh 5 đợt,
nhng có 2 cao điểm. Cao điểm thứ nhất từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5;
Cao điểm thứ 2 từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6. Sâu phát sinh gây hại
nhiều trên mía trồng ở vùng đồi khô hạn.
Loài sâu đục thân mình trắng mỗi năm phát sinh 4 5 lứa. Lứa thứ
nhất tập trung gây hại nhiều vào tháng 5; lứa 2 gây hại nặng vào tháng 6-
7; Lứa 3 vào tháng 8-9.
Loài sâu đục thân mình hồng trong một năm có 6 lứa, phát sinh gây
hại quanh năm. Song lứa 2 thờng phát sinh với số lợng lớn, gây hại
nặng vào tháng 3 đến tháng 4, ứng với giai đoạn mía đẻ nhánh.

2.1.3. Phơng pháp dự tính dự báo
Đối với những loài sâu đục thân mía, phơng pháp dự tính dự báo
tốt nhất là dựa vào phơng pháp điều tra tiến độ phát dục của sâu. Trong
số 7 loài sâu đục thân mía, tuỳ theo điều kiện ngoại cảnh từng vùng mà số
loài sâu hại chính có khác nhau. Chúng ta không thể dự tính cùng lúc cho
tất cả các loài sâu đục thân, mà chỉ cần dự tính để phòng trừ loài chủ lực.
Muốn xác định loài chủ lực thì cần thu thập mẫu sâu, ít nhất là 50 cá thể.
Tính tỷ lệ từng loài theo công thức sau:
Tổng số cá thể từng loài
Tỷ lệ loài = -------------------------------- x 100
Tổng cá thể thu đợc
Loài nào có tỷ lệ % số cá thể cao nhất chính là loài chủ lực. Sau đó
tách riêng từng tuổi để tính tỷ lệ % từng tuổi sâu. Nếu số cá thể của loài
chủ lực thu đợc cha đủ 30, thì cần tiếp tục thu thêm để có đủ số liệu
phân tích. Căn cứ vào quy định của ngành, xác định tuổi sâu phổ biến.
Trên cơ sở đó, áp dụng công thức dự tính để tính trớc thời gian pha phát
dục tiếp theo rộ; dự tính số lợng sâu sẽ phát sinh và dự tính thiệt hại.

2.1.4. Biện pháp phòng ngừa và dập dịch

Họ rệp muội Aphididae; Bộ cánh đều Homoptera
2.2.1. Các vụ dịch đ xảy ra
Rệp xơ trắng là nguyên nhân cơ bản làm giảm năng suất và hàm
lợng đờng trong cây mía. Theo Gupta và ctv. (1995), ngoài tác hại làm
giảm năng suất, rệp xơ trắng còn gây hiện tợng lá úa vàng, cây cằn cỗi,
va nguy hiểm hơn là hậu của rệp xơ trắng, bệnh muội đen phát triển mạnh.
Các nhà nghiên cứu sinh học ở Indonesia cũng cho rằng, rệp xơ trắng phá
hại ở hầu hết các vùng trồng mía, và là một trong những loài côn trùng
nguy hiểm nhất đối với cây mía. Trong 2 năm 1989-1990, rệp xơ trắng đ
phá hại nặng trên 2000 hs mía ở miền Nam Sulawesi (Suhartawan, 1998).
ở Việt Nam, nhiều tài liệu cho rằng, rệp xơ trắng là loài sâu hại phổ
biến và thờng gây thành dịch (Hồ Khắc Tín và ctv. 1982), Lơng Minh
Khôi và ctv., 1995). Theo các tác giả này, ở các vùng trồng mía nh Vạn
Điểm (Nghệ An), Tỷ lệ diện tích mía bị rệp xơ trắng gây hại nặng thấp
nhất là 69,2%. ở Nông trờng Hà Trung (Thanh Hoá) con số này lên tới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status