LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của
đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu” là công trình nghiên cứu khoa học
nghiêm túc của bản thân. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận
văn là hoàn toàn trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng
được công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả luận văn
Trần Thị Hòa
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc
gia, Ban quản lý đào tạo Sau đại học, Khoa Quản lý nhà nước về xã hội, đặc
biệt là lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Lê Thị Thu Phượng đã tận tâm, nhiệt
tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn
này.
Qua thời gian học tập và nghiên cứu, được sự quan tâm tạo điều kiện của
Học viện Hành chính Quốc gia, Nhà Xuất bản Tôn giáo - Ban Tôn giáo Chính
phủ (nơi tôi đang công tác) đến nay, tôi đã hoàn thành bản luận văn Thạc sĩ
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh
Lai Châu”. Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Tôn giáo Chính phủ,
Nhà Xuất bản Tôn giáo và các đồng nghiệp trong cơ quan đã động viên, tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả rất mong nhận được sự quan tâm, chỉ bảo và góp ý của các thầy,
cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Trần Thị Hòa
2.1.1. Về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên; kinh tế, xã hội.............................. 40
2.1.2. Về hoạt động tôn giáo, trên địa bàn tỉnh Lai Châu................................. 41
2.2. Khái quát chung về đạo Tin lành............................................................................... 43
2.2.1. Đạo Tin lành ở Việt Nam....................................................................................... 43
2.2.2. Đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu..................................................... 46
2.2.3. Thực trạng hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai
Châu.............................................................................................................................................. 49
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên
địa bàn tỉnh Lai Châu................................................................................................................ 54
2.3.1. ây dựng, t ch c thực hiện các v n bản chính sách, pháp lu t của
Nhà nước đối với đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu............................. 54
2.3.2. Công tác kiện toàn, củng cố t ch c bộ máy và đào tạo bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công ch c làm công tác quản
lý nhà nước về tôn giáo....................................................................................................... 58
2.3.3. Công tác quản lý sinh hoạt của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh.......60
2.3.4. Quan hệ giữa người dân và chính quyền địa phương sau Chỉ thị số
01/2005/CT-TTg...................................................................................................................... 66
2.3.5. Công tác phối h p đ u tranh chống việc l i dụng đạo Tin lành đối
với đồng bào dân tộc thi u số trên địa bàn tỉnh...................................................... 68
2.3.6. Công tác thanh tra, ki m tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp lu t liên quan đến đạo Tin lành.............................................................. 71
2.4. Đánh giá chung................................................................................................................... 72
2.4.1. Kết quả............................................................................................................................ 72
2.4.2. Hạn chế........................................................................................................................... 74
2.4.3. Nguyên nhân................................................................................................................ 76
Tiểu kết chương 2........................................................................................................................... 78
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH
3.2.7. Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo, công tác đối ngoại và đ u
tranh nhân quyền................................................................................................................. 104
3.3. Kiến nghị............................................................................................................................. 105
3.3.1. Các cơ quan ở Trung ương................................................................................ 105
3.3.2. Ban Tôn giáo Chính phủ..................................................................................... 105
3.3.3. UBND tỉnh Lai Châu............................................................................................ 106
Tiểu kết chương 3......................................................................................................................... 109
KẾT LUẬN.................................................................................................................................... 110
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................... 112
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC........................................................................................... 119
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
B
T
G
C
P
C
M
A
C
N
X
H
Đ
C
S
V
N
Việt
UBM Nam
TTQ
:
Quản
UBN lý
D
hành
chính
UBT nhà
VQH nước
:
Quản
lý nhà
nước
: Quy
phạm
pháp
luật
: Nghị
định –
Chính phủ
: Nghị
quyết
: Nhà xuất
bản
: Pháp
lệnh
ng đang ngày càng lớn mạnh. Một trong những tôn giáo đang phát triển mạnh
ở Việt Nam là Đạo Tin lành, đây là tôn giáo lớn trên thế giới với rất nhiều hệ
phái và tổ chức giáo hội khác nhau. Theo một số nghiên cứu đạo Tin lành
được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu thế k XX. Cùng với thời gian
đạo Tin lành ở Việt Nam phát triển khá nhanh, nhất là sau năm 1975 cho đến
nay, với hơn 100 năm h nh thành và phát triển đạo Tin lành đã có trên 100 tổ
chức, giáo phái, nhóm Tin lành với khoảng 1,5 triệu tín đồ ở khắp các địa
phương trong cả nước trong đó có 13 tổ chức đã được Nhà nước công nhận,
ngoài ra c n một số lượng rất lớn các tổ chức, nhóm Tin lành chưa được Nhà
nước xem xét công nhận.
Những năm qua, phần lớn vùng đồng bào dân tộc theo tín ngưỡng đa
thần, chỉ một số ít theo Công giáo, đặc biệt từ năm 1986 xuất hiện một bộ
phận người Mông, Dao theo Tin lành dưới tên gọi “Vàng Chứ” trong đồng
bào Mông, “Th n Hùng” trong đồng bào Dao. Các hoạt động truyền đạo Tin
lành trái phép tăng lên nhanh chóng lan sang các dân tộc khác như Tày, Nùng,
1
Thái. Sự phát triển của đạo Tin lành tập trung với ba khu vực chủ yếu là Tây
Bắc, Tây Nguyên và trong các khu công nghiệp. Từ khi có sự ra đời của Chỉ
thị số 01/2005/CT-TTg, ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số
công tác đối với đạo Tin lành. Đây là văn bản chuyên biệt điều chỉnh hoạt
động của đạo Tin lành ở các khu vực dần h nh thành rõ nét hơn đáp ứng nhu
cầu sinh hoạt tôn giáo của các tổ chức Tin lành. Bên cạnh đó vẫn c n một số
dân tộc thiểu số theo đạo Tin lành một cách gián tiếp, tổ chức c n sơ khai và
chưa thực sự ổn định về tổ chức, hệ phái nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, tiềm
ẩn những nguy cơ làm rạn nứt khối đại đoàn kết dân tộc, gây bất ổn về an
ninh, chính trị, xã hội tại địa phương.
Khu vực Tây Bắc theo cách nh n rộng hơn th toàn bộ vùng cao của miền
Tây Bắc, trước đây có thời kỳ gọi là Khu tự trị Thái Mèo. Theo Quyết định số
Trong bối cảnh này, việc tập trung nghiên cứu nhằm hoàn thiện QLNN đối
với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu có ý nghĩa cả về lý
luận và thực tiễn nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu cho công tác QLNN đối
với hoạt động của đạo Tin lành trong thời gian tới. Do đó, tôi chọn “Quản
lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu”
làm đề tài tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý công của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tín ngưỡng, tôn giáo luôn là một đề tài rộng về nội dung, phạm vi thực
hiện c n là vấn đề nhạy cảm và phức tạp, cho đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu, sách chuyên khảo viết về tôn giáo và một số công trình liên quan
trực tiếp đến công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo như: Tác giả Nguyễn
Thị Bình: “Quản lý nhà nước đối với hoạt động quan hệ quốc tế của các t ch
c tôn giáo ở Việt Nam” [17]; Tác giả Nguyễn Hồng Hải: “Quản lý nhà nước
về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay” [36]; Tác giả Nguyễn Đức Lữ : “Một số
quan đi m của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo” [44]; Tác giả
3
Nguyễn Hồng Dương “Quan đi m, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam về tôn giáo”[29]; Tác giả Lê Xuân Quỳnh: “Quản lý nhà nước đối với
hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay’ [48];
Tác giả Ngô Hữu Thảo:“Công tác tôn giáo từ quan đi m Mác-Lênin đến thực
ti n Việt Nam”[53]; Tác giả Đặng Nghiêm Vạn: “Lý lu n về tôn giáo và tình
hình tôn giáo ở Việt Nam” [59]; Tác giả Nguyễn Thanh Xuân: “Một số tôn
giáo ở Việt Nam” [64]; “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” [65].
Các công trình nêu trên tác giả đề cập đến công tác QLNN về tôn giáo và giới
thiệu về một số tôn giáo lớn trên thế giới có ở Việt Nam và QLNN về hoạt
động tôn giáo từ lý luận đến thực tiễn từ đó đề cập đến những qua điểm cơ
đang và sẽ là một tôn giáo phát triển ở Việt Nam.
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu chung về tôn giáo và riêng về
đạo Tin lành ở Việt Nam nói trên đã đề cập nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn
từ những góc độ tiếp cận khác nhau về tôn giáo học, về chính trị học, về hành
chính học,… Tuy vậy, vấn đề QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành ở
Việt Nam nói chung, với Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng hiện
c
n chưa được nhiều cơ quan nghiên cứu, quản lý và các tác giả quan tâm toàn
diện, chi tiết và có hệ thống.
Kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu trên, luận văn
“Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh
Lai Châu” của tác giả tiếp tục góp phần nghiên cứu, giải đáp có hệ thống về
cơ sở khoa học và thực tiễn QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành trên
địa bàn tỉnh Lai Châu mà chưa có công tr nh nào nghiên cứu cụ thể trên địa
bàn này để từ đó đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu
trong thời gian tới.
5
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt
động của đạo Tin lành, làm rõ thực trạng, xác định những vấn đặt ra, đề xuất
các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả QLNN đối với hoạt động của đạo
Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu QLNN đối với hoạt động
của đạo Tin lành theo quy định của pháp luật.
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Lai Châu.
6
-
Về thời gian: Đánh giá thực trạng từ năm 2005 đến nay (sau khi có Chỉ thị số
01/2005/CT-TTg, ngày 04/02/2005 của Thủ tướng Chính phủ về một số công
tác đối với đạo Tin lành) và đề ra giải pháp cho giai đoạn từ 2020 đến 2025.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận và khung nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử để nhìn nhận đối tượng nghiên cứu. Với phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, đạo Tin lành ở địa bàn nghiên cứu (tỉnh Lai Châu) được
nhìn nhận như kết quả của một quá trình lịch sử đạo Tin lành đến định cư ở
vùng đất này và tiếp tục được bổ sung hoàn thiện trong sinh hoạt đời sống,
hoạt động sản xuất và đấu tranh với thiên nhiên và các thế lực thù địch.
Nghiên cứu c n được thực hiện dựa trên nền tảng Tư tưởng Hồ Chí
Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
tôn giáo.
Vận dụng các lý thuyết và thực tiễn vào trong trường hợp nghiên cứu
cụ thể về đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu có thể đưa ra Quy trình
khung nghiên cứu (tiếp cận nghiên cứu) QLNN về hoạt động của đạo Tin lành
trên địa bàn tỉnh Lai Châu trên cơ sở tư duy logic và hệ thống để giải quyết
các nhiệm vụ nghiên cứu. Quy tr nh khung nghiên cứu sẽ bao gồm: dựa trên
việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, các khái niệm liên quan đến QLNN về
đạo Tin lành, kinh nghiệm QLNN về đạo Tin lành ở một số địa phương. Kết
quả của nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra sẽ là căn cứ thực tiễn để
Tinlànhlànhở mởộmtộstốstốỉnhtỉnh
bànLaitỉCnhâuLai
Xác định
những
vấn đề
đặt ra và
Quan điểm
của Đảng và
một số giải
phápđốnhiằvmớ i
nâcông caotác
nguyên
QLNNhiệuquvảề
QLNNhoạtđộđốngi
nhân thực
trạng
củavớđạihoạTint
lànhđộngtrêncủđạai
TácYếu độtốngkháchủa
phát quatriển KTXH
Đây là phương
pháp không thể thiếu
trong
quá
trình
nghiên cứu những
vấn đề mang tính
định lượng như đánh
giá thực trạng hoạt
động của đạo Tin
lành và định tính của
hoạt động QLNN đối
với đạo Tin lành.
Việc sử dụng
8
các phương pháp này để tham khảo tài liệu, các công trình có liên quan,
nghiên cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu từ các sách, báo, báo cáo Hội nghị,
Hội thảo…. những văn bản quản lý nhà nước liên quan đến đạo Tin lành và
công tác QLNN đối với đạo Tin lành.
Phương pháp điều tra, khảo sát:
-
Đây là phương pháp quan trọng nhằm xác định những vấn đề đặt ra trong
công tác QLNN đối với đạo Tin lành. Điều tra khảo sát trực tiếp bằng việc đi
9
-
Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của
đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
-
Đề xuất một số giải pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành
trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
-
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
giảng dạy, học tập, nghiên cứu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và
cho các nhà quản lý đang thực thi công vụ trong công tác tôn giáo.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo; luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo
Tin lành
Chương 2: Thực trạng đạo Tin lành và quản lý nhà nước đối với hoạt
động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động của đạo Tin lành trên địa bàn tỉnh Lai Châu.
10
tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tư ng tôn thờ, giáo lý,
giáo lu t, l nghi và t ch c”. [47, tr.1]
Bên cạnh đó, c ng có ý kiến cho rằng khi nói đến tôn giáo là nói đến
cộng đồng người có chung niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, huyền bí; có hệ
thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và có tổ chức.
Tùy từng mục tiêu nghiên cứu khác nhau, cách tiếp cận khác nhau, người
ta đưa ra những quan niệm khác nhau về tôn giáo. Mặc dù việc giải thích khái
niệm này khá phức tạp, thậm chí khó có thể thống nhất, tuy nhiên, về phương
diện quản lý nhà nước, khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh thường được tiếp
cận từ góc độ thực thể xã hội tôn giáo được thể hiện bằng các yếu tố để nhận
biết một tôn giáo đó là:
+
+
Giáo lý (kinh sách, giáo luật, lễ nghi, sấm giảng…);
+
Giáo sỹ (nhà tu hành, chức sắc, chức việc, …của tôn giáo);
+
Giáo dân (tín đồ của tôn giáo);
Giáo hội (tổ chức tôn giáo với đường hướng hoạt động đặc trưng của một tôn
giáo).
1.1.1.2. Hoạt động tôn giáo:
Theo Khoản 11, Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo: “Hoạt động tôn
công việc quản lý xã hội quan trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm - quản lý
nhà nước xuất hiện. Hiện nay, khái niệm QLNN được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của Nhà nước, được sử dụng quyền
lực Nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến
hành để thực hiện các chức năng của Nhà nước đối với xã hội.
Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước với
chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan
trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, U ban nhân dân các cấp).
13
Từ khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, tôn giáo, hoạt động tôn giáo,
chúng ta có thể đưa ra khái niệm về QLNN đối với hoạt động tôn giáo theo
hai nghĩa như sau:
Nghĩa rộng: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình sử
dụng quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan
nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động nhằm điều chỉnh, hướng
các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp
luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình
chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ
thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các
hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng quy định
của pháp luật.
1.1.3. Đạo Tin lành
Đạo Tin lành ra đời, ở châu Âu vào thế k XVI có nguồn gốc chính trị xã
hội sâu xa. Trước hết là sự xuất hiện của giai cấp tư sản với những yêu cầu
mới về chính trị, xã hội, tư tưởng tôn giáo. Tên gọi của mỗi tôn giáo đều
XVIII cùng với phong trào Phúc âm (Evangelism), tên gọi Phúc âm c ng được
dùng để chỉ đạo Tin lành.
Khi truyền vào Việt Nam cuối thế k XIX, đạo Tin lành được người miền
Bắc gọi theo cách người Trung quốc là "đạo Thệ phản", ở miền Trung gọi là
đạo "Gia-tô", ở miền Nam gọi là đạo "Huê kỳ". Đầu những năm 20, 30 của
thế k XX, giáo sĩ Cadman người Canada thuộc Hội Liên hiệp Cơ đốc và
Truyền giáo (The Christian and Missionnary Alliance - thường được gọi tắt là
Hội Truyền giáo CMA) cùng với văn sĩ Phan Khôi dịch Kinh thánh ra tiếng
Việt Nam. Hai ông không dịch Phúc âm (Evangelism) là "Tin mừng" mà dịch
là "Tin lành". C ng có tài liệu cho rằng hai ông đã sử dụng lại thuật ngữ "Tin
lành" từ bản dịch Kinh thánh của một giáo sĩ Công giáo (cố Chính Linh). Trên
thực tế, việc dùng từ "Tin lành" đã tránh cho tôn giáo này các cách gọi
15
không thiện cảm như "đạo bỏ ông bỏ bà", "đạo rối",... dễ đi vào l ng người
hơn. Cách gọi này dần dần thành thói quen và tồn tại cho đến ngày nay.
1.1.4. Quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin lành ở Việt Nam
Từ khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, thì có thể đưa
ra khái niệm về QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành theo hai nghĩa như
sau:
Nghĩa rộng: QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành là quá trình sử
dụng quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan
nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động nhằm điều chỉnh, hướng
các hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp
luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: QLNN đối với hoạt động của đạo Tin lành là quá trình chấp
hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống
hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh các hoạt động
tôn giáo là cần thiết, khách quan.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, không những cần thiết phải
quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo mà còn cần phải tăng cường
QLNN đối với lĩnh vực này, vì:
Thứ nhất: Quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với tôn giáo có nhiều
đổi mới, bởi vậy công tác QLNN đối với tôn giáo c ng cần phải có những đổi
mới cho phù hợp. Trong lĩnh vực tôn giáo từ khi thành lập nhà nước đến nay,
mặc dù quan điểm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và nhà nước ta luôn
nhất quán song những năm gần đây quan điểm đó ngày càng mang tính minh
bạch, rõ ràng và có nhiều nội dung mới.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII, Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
năm 2003 đánh giá: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ
ph n nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ ph n
17