31 32
2. Hãy cho biết có thật là chất lượng cuộc sống của
nhân dân ta đang bò suy giảm.
3. Cho biết ưu điểm và nhược điểm của một số chỉ
tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống. CHƯƠNG II
CON NGƯỜI BÌNH THƯỜNG
SỨC KHỎE VÀ BỆNH TẬT
Học viên cần hiểu rõ các vấn đề sau
– Thế nào là sức khỏe đích thực theo quan niệm của WHO
với mục tiêu vượt qua những thử thách của môi trường, nhằm để
lao động có hiệu quả. Con người bình thường không có bệnh tật
chưa phải là đã có sức khỏe.
– Sức khỏe là một loại tài nguyên đặc biệt, vô cùng quý
giá mà con người có quyền được có, đồng thời phải có nghóa vụ
giữ gìn, bảo vệ, khai thác hợp lý sức khỏe của mình và của cộng
đồng.
– Có nhiều loại sức khỏe, về thể chất và về tinh thần, tâm
lý.
– stress là một trong dạng biểu hiện của sức khỏe tinh
thần, đặc biệt phổ biến trong tình hình phát triển kinh tế xã hội
trên thế giới cũng như trong nước.
– Hiểu rõ ý nghóa của stress trong đời sống xã hội, trong
lao động tới để có những biện pháp ứng phó hợp lý với stress,
stress nghề nghiệp liên quan nhiều với các yếu tố lao động. Cần
nắm vững các nguyên tắc ứng phó với stress nghề nghiệp.
gắng của nó để thích ứng với thử thách của môi trường “.
Thế kỷ 19, Claude Bernard (1869), nhà sinh lý học Pháp đã
viết “Hiện tượng về sự sống được quy đònh từ hai phía: Một phía
là cơ thể, trong đó sự sống diễn ra, và phía khác là môi trường,
trong đó có thể tìm thấy những điều kiện chủ yếu cho sự xuất
hiện, diễn biến những hiện tượng của bản thân mình. Điều kiện
cần cho sự sống tìm thấy cả ở trong cơ thể và cả ở môi trường
bên ngoài”.
Môi trường bên trong cơ thể là dòch thể trung gian giữa tế
bào và các mô như máu và bạch huyết. Vì vậy cơ thể là một “vũ
trụ nhỏ” hoạt động trong một “vũ trụ lớn” là thiên nhiên xung
quanh.
Môi trường bên trong và bên ngoài đều ảnh hưởng trực tiếp
hay gián tiếp đến sức khỏe.
Với môi trường bên trong, sức khỏe chòu tác động của sự
rèn luyện và cách sống hằng ngày trong đó có tập quán vệ sinh,
thể dục, thể thao, điều độ, tiết dục, không thái quá, không bất
cập.
Môi trường bên ngoài thì đa dạng, ngoài môi trường tự
nhiên khí hậu, tài nguyên, đòa lý … thì môi trường văn hóa xã hội
rất là phong phú gồm:
– Môi trường gia đình: tiện nghi về tài chính đảm bảo cuộc
sống vật chất và tinh thần, quan hệ gia đình thân tộc, phong tục,
lễ giáo, truyền thống, học hành …
35 36
– Môi trường lao động: việc làm ổn đònh, cơ sở vật chất
thiết bò, nguyên vật liệu, an toàn và vệ sinh lao động, thu nhập,
quan hệ chủ thợ, quan hệ đồng nghiệp, phương tiện đi lại …
– Môi trường xã hội: chế độ kinh tế, chính trò, dân số, phân
bố việc làm, phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục …
thoái.
2.1.2 Đònh lượng sức khỏe
Sức khỏe được xem như một tài sản, một tiềm năng được
duy trì thường xuyên và đònh lượng được bằng nhiều cách.
Sức khỏe tăng giảm liên quan đến quá trình tăng trưởng,
trưởng thành và lão hóa các cơ quan của cơ thể. Sức khỏe tăng
giảm theo tuần trăng, theo mùa, theo nhòp điệu sinh học.
Điều cần lưu ý là sau lao động nghiêm túc thì sẽ mệt mỏi
và mất nhiều hay ít năng lượng tùy theo mức độ lao động nặng
hay nhẹ. Để khắc phục mệt mỏi kéo dài thì phải bù đắp năng
lượng đã tiêu hao và nghỉ ngơi hợp lý. Trước hết là cần bù đắp
kòp thời nước và muối khoáng và có đủ thời gian để phục hồi sức
khỏe.
37 38
Sự đánh giá sức khỏe thường được chú trọng ở mức phục hồi
cơ thể sau lao động, ốm đau, tai nạn. Tốc độ hồi phục hay hoàn
thiện thường vẫn được coi là một tiêu chí đánh giá năng lực con
người.Sự hồi phục thường đi kèm với sự rèn luyện. Nhiều khi nhờ
rèn luyện mà sức khỏe không những được hồi phục mà còn tốt hơn
trước.
Sức khỏe không những được đo mà cần phải đo lường
thường xuyên. Càng nhiều sức khỏe thì càng ít cơ hội phát sinh
bệnh tật. Người ta thường lấy những giới hạn được gọi là Tiêu
chuẩn tức là các chỉ tiêu sinh học để đo lường sức khỏe như nhiệt
độ, huyết áp, nhòp tim, số lượng hồng cầu, bạch cầu, hàm lượng
đường huyết… và nhiều chỉ tiêu về các chức năng ở mức độ vó
mô hoặc vi mô về tế bào, phân tử, ion…
Đương nhiên khi người ta nói mọi chỉ tiêu sinh học đều
bình thường (hoặc đa số chỉ tiêu chủ yếu, quyết đònh là bình
thường) thì được coi là có sức khỏe.
động và biểu hiện của tình trạng cơ thể, thường phân biệt 3 loại
sức khỏe
1. Sức khỏe sinh lý:phát triển theo những mô hình và tiêu
chuẩn đã biết rõ, gồm những cơ chế thể dòch, thần kinh để ứng
phó với điều kiện môi trường. Phần lớn là do yếu tố di truyền
39 40
quyết đònh nhưng sự rèn luyện có tác dụng tăng cường sức khỏe
đặc biệt là hệ số dự trữ.
2. Sức khỏe miễn dòch:Phát triển qua cuộc đọ sức với các
tác nhân gây ô nhiễm. Phản ứng đặc hiệu là cơ chế có tính di
truyền cũng như sự rèn luyện (còn phụ thuộc vào kháng nguyên
từ môi trường mang lại, vaxin chẳng hạn).
3. Sức khỏe tinh thần (sức khỏe tâm thần là một cách nói
khác) còn phân chia thành sức khỏe tâm lý và sức khỏe xã hội.
Sức khỏe tóm lại là một đại lượng tương đối vì cái khỏe
của một người trong điều kiện môi trường này chưa hẳn đã khỏe
được trong điều kiện môi trường khác.
Đối với mỗi đối tượng lao động khác nhau đòi hỏi sức khỏe
khác nhau và loại hình sức khỏe cũng khác nhau.
2.1.3. Sức khỏe cộng đồng
Sức khỏe cộng đồng hay sức khỏe xã hội là sức khỏe chung
của một hệ thống có tổ chức giữa những cá thể có quan hệ và tác
động lên nhau trong một môi trường tự nhiên (vô sinh và hữu
sinh) và môi trường xã hội (văn hóa, chính trò, kinh tế, tôn giáo…)
Sức khỏe cộng đồng phải bao gồm cả tình trạng (tỷ lệ) bệnh tật
trong cộng đồng khi xem xét trên bình diện tổng thể.
Để xác đònh sức khỏe cộng đồng thì phải xuất phát từ tổng
đònh lượng sức khỏe của thành viên mà tính ra số trung bình đại
diện (không hẳn là trung bình số học).
Có nhiều chỉ tiêu để kham thảo trong khi kết hợp nhiều
– Sinh lý:Hành vi con người chính là suy nghó và tình cảm
biến thành hành động.Người có sức khỏe thể chất tốt sẽ có cơ sở
thuận lợi cho sự tự tin, yêu đời.
+Các yếu tố văn hóa – xã hội có thể kể ra:
– Gia đình là nơi bắt đầu xã hội hóa qua sự dạy dỗ giáo
dục của bố mẹ và những người thân.
– Nhà trường, bạn bè là nơi củng cố và tiêm nhiễm hành
vi liên quan đến sức khỏe cả thể chất lẫn tinh thần, là môi trường
tốt cho phát triển nhân cách.
– Cộng đồng là nơi truyền thông đại chúng tác đôïng rất
mạnh mẽ đến nhận thức hành vi, đặc biệt là lối sống.
– Lối sống: Ngày nay có 4 nguyên nhân gây tử vong hàng
đầu là bệnh tim mạch, bệnh ung thư, tai biến não, tai nạn giao
thông mà nguyên nhân có thể từ mặt sinh học–tự nhiên nhưng
những nguyên nhân từ lối sống còn quan trọng hơn nhiều..
Lối sống hiện đại bên cạnh những khía cạnh tích cực liên
quan đến quá trình phát triển kỹ thuật công nghệ thì về khía
cạnh tiêu cực cũng gây ra nhiều thách thức đặc biệt cho lớp tuổi
trẻ. Nhòp sống hối hả, đầy tính cạnh tranh, thói xấu đòi hỏi
hưởng thụ, đua đòi là những môi trường tốt cho sự lệch lạc, rối
nhiễu về tinh thần, tâm lý. Sự thiếu trách nhiệm với sức khỏe, từ
nhận thức cho đến hành vi, khoảng cách giữa hiểu biết và hành
động đều là khoảng hở cho sự xuất hiện tệ nạn xã hội, có nguy
hại cho thể chất và tinh thần.
Sự thiếu thông tin và nhiễu loạn thông tin trong kinh tế thò
trường gây sự sai lạc, nhầm lẫn về nhận thức, trách nhiệm đối
với vấn đề sức khỏe.
2.2.3. Lý thuyết về SKTT và sự phát triển nhân cách:
Để thay đổi và phát triển nhân cách trên cơ sở SKTT của
cá nhân và để đối phó với thách thức của cuộc sống hiện tại,
tiềm ẩn xuất phát từ môi trường.
Bậc 3: Nhu cầu được thuộc về một ai đó, một tổ chức nào
đó mà ở đó con người tìm thấy sự yêu thương sự thông cảm cho
nhau.
Bậc 4: Nhu cầu tự đánh giá – có tự tin và tự trọng, đòi hỏi
sự chấp nhận, được tôn trọng.
Bậc 5: Nhu cầu thành đạt, sử dụng tiềm năng sáng tạo của
mình để hoàn thiện mình, để đạt được mục tiêu cao nhất hằng
mong muốn. Đạt được đến đây, con người thấy cuộc đời thật có ý
nghóa, đầy niềm vui và thật đáng sống.
Ngày nay trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế trên cơ sở tăng
trưởng và phát triển vũ bão của khoa học công nghệ, trong môi
trường sinh thái bò ô nhiễm và suy thoái nặng nề, con người và cả
xã hội con người đang bò lôi cuốn vào cuộc sống đầy thử thách,
cạnh tranh căng thẳng. Những biểu hiện suy giảm sức khỏe tinh
thần diễn ra khá phổ biến trong nhiều cộng đồng, trong nhiều
giới lao động và trong nhiều lớp tuổi khác nhau. Những hiện
tïng, trạng thái tâm lý như hụt hẫng, phiền nhiễu, hoang mang,
ám ảnh…thường xẩy ra sau những sự cố tự nhiên hoặc xã hội nào
đó thường được gọi chung (không thật khoa học lắm) là stress.
2.3. stress
Người ta gọi đó là một chứng có thể phát sinh nhiều bệnh.
Nó chẳng phải là bệnh nhưng tác hại chẳng kém gì bệnh. Trong
y học, stress được hiểu là thuật ngữ chỉ tác động của các biến cố
đến thể chất và tinh thần của con người.
Theo Hans Selye, stress là phản ứng không đặc hiệu của cơ
thể đối với bất cứ đòi hỏi nào đặt ra cho chính cơ thể.
Mỗi người đều phải trải qua một vài khủng hoảng và đều có
những cách đối phó khác nhau. Thường người ta cảm nhận được nó
nhưng không rõ là do cái gì và cũng không có phản ứng nhất quán