1
KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA KÊNH PHÂN PHỐI BÁN LẺ
1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH BÁN LẺ DƯỢC PHẨM
VIỆT NAM NÓI CHUNG VÀ CỦA CTY SAPHARCO NÓI RIÊNG:
1. Tình hình phát triển ngành Dược cả nước:
Mặc dù quy mô ngành dược Việt Nam còn nhỏ nhưng là ngành luôn có tốc độ
tăng trưởng cao. Trong giai đoạn 2000 – 2009, ngành có mức tăng trưởng trung bình
là 16% và dự báo sẽ còn tiếp tục tăng trưởng mạnh. Năm 2008, doanh thu tiêu thụ
dược phẩm đạt 1.36 tỷ USD, chiếm 1.78% GDP, tăng 22% so với năm 2007. Trong
đó, giá trị sản xuất nội địa đạt 749 triệu USD, tăng 33.8% so với năm 2007, đáp ứng
50.3% nhu cầu cả nước. Năm 2009, doanh thu tiêu thụ dược phẩm đạt 1.71 tỷ USD,
tăng 20% so với 2008. Qua đó có thể khẳng định tiềm năng phát triển rất to lớn trong
ngành dược nói chung và ngành bán lẻ dược phẩm nói riêng.
Biểu đồ 4.1: Doanh thu tiêu thụ dược phẩm
của ngành dược cả nước 2001 – 2009
(Nguồn: Cục quản lý dược Việt Nam)
Mặc dù trong năm 2008 và 2009, Việt Nam chịu ảnh hưởng không nhỏ từ cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu, khi tốc độ tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,23% (2008) và
5,32% (2009) thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây (Theo thông tin từ Tổng cục
Thống kê được đăng tải trên website: www.gso.gov.vn), nhưng so với những gì mà các
quốc gia khác hiện đang phải gánh chịu thì với kết quả này Việt Nam được xem là
thành công khi tiếp tục đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao. Giai
GVHD: Th.S Trịnh Đặng Khánh Toàn SVTH: Lương Phan Chương-06DQD
2
đoạn năm 2000 – 2009, chi tiêu y tế của người dân tăng cao, đặc biệt là chi tiêu cho
dược phẩm, mức tăng lên đến 3 lần từ 5.4 USD - 19.6 USD /người /năm. Song mức
chi tiêu này còn thấp so với các nước trong khu vực và thấp hơn rất nhiều so với chi
tiêu bình quân của các nước phát triển cho dược phẩm và y tế mỗi năm trên
40USD/người. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng bình quân hiện đang rất cao, điều này
chứng tỏ người dân đang quan tâm hơn đến công tác chăm sóc sức khỏe của bản thân
muốn gia nhập vào nhưng cũng mang lại một lợi ích to lớn đó là nâng ngành bán lẻ
dược phẩm lên một tầm cao mới, thanh lọc những phần tử kinh doanh yếu kém gây
ảnh hưởng xấu đến thị trường, tạo ra một môi trường mới khốc liệt hơn, chuyên
nghiệp hơn và theo như bà Phạm Khánh Phong Lan, PGĐ Sở Y tế TPHCM cho rằng,
thay vì quản lý hơn 4.000 nhà thuốc đơn lẻ như hiện nay thì quản lý vài ba chuỗi nhà
thuốc uy tín đương nhiên thuận tiện hơn. Có thể nói chính tiêu chuẩn GPP chính là
nguyên nhân quan trọng nhất thúc đẩy ngành dược phẩm trong nước phát triển hơn về
chất lượng, thu hút nhiều sự đầu tư của các công ty lớn trong và ngoài ngành.
Có thể nói năm 2011 sẽ là năm quyết định cho ngành bán lẻ dược phẩm Việt
Nam, là một cột mốc đánh dấu sự chuyên nghiệp hóa trong lĩnh vực này, mở ra một
trang mới về ngành bán lẻ dược phẩm cả nước. Với dự đoán khoảng gần 3000 nhà
thuốc buộc phải đóng cửa, “miếng bánh” thị trường bán lẻ dược phẩm đang lớn dần
và thu hút nhiều sự cạnh tranh, thị trường bán lẻ dược phẩm những năm tiếp theo hứa
hẹn sẽ có nhiều cuộc cạnh tranh khốc liệt nhằm chiếm giữ thị phần “béo bở” này của
các công ty có tầm cỡ.
3. Xu hướng phát triển về ngành bán lẻ dược phẩm của Sapharco:
Là một công ty có vị thế nhất định trong ngành phân phối dược phẩm, lĩnh vực
bán lẻ là 1 trong 4 kênh phân mà trước đây Sapharco ít chú trọng đến. Nhưng với xu
hướng phát triển của ngành dược cả nước nói chung và đặc biệt là ngành bán lẻ dược
GVHD: Th.S Trịnh Đặng Khánh Toàn SVTH: Lương Phan Chương-06DQD
4
phẩm nói riêng, những bước đi tiếp theo đối với lĩnh vực này của Sapharco sẽ có
nhiều cải tiến và phát triển.
Như đã đề cập ở chương trước, theo ông Lê Minh Trí, Tổng giám đốc Cty
Dược Sài Gòn – Sapharco, cho biết là đến năm 2019, Sapharco sẽ sở hữu 1000 nhà
thuốc đạt chuẩn GPP trên cả nước. Và hiện công ty đang gấp rút thực hiện xây dựng
hệ thống SPG Pharmacy của mình nhằm đẩy nhanh tốc độ GPP hóa các chuỗi nhà
thuốc đang sở hữu cùng với việc thu hút thêm các nhà thuốc tư nhân tham gia vào hệ
thống này. Sắp tới công ty sẽ hoàn tất việc nâng cấp hoàn toàn các nhà thuốc của
mình, cũng như sẽ có kế hoạch thiết lập thêm các nhà thuốc mới tại các địa điểm đẹp
- Dự án xây dựng cao ốc văn phòng Sapharco số 181 Nguyễn Đình Chiểu, Q.3,
Tp.HCM.
- Dự án khách sạn Sapharco số108/64 Trần Quang Diệu, Q.3, Tp.HCM…
Nếu tiếp tục thực hiện các dự án này, số vốn mà Sapharco bỏ ra sẽ không hề
nhỏ, không những vậy công ty còn phải tiếp tục tuyển dụng thêm hoặc phân bố nhân
sự để quản lý dự án. Điều này đồng nghĩa với việc nhân sự sẽ tiếp tục phân tán hoặc
sẽ rườm rà hơn vì thời gian để một dự án có thể đi vào hoạt động ổn định từ 1 cho
đến 3 năm. Việc này hoàn toàn không có lợi trong việc thu hồi vốn nhằm xoay
chuyển ứng phó kịp thời trong tình hình đối thủ cạnh tranh ngày một lớn mạnh và
linh hoạt như hiện nay. Có thể việc tạm hoãn sẽ gây lãng phí vì các dự án đang được
thực hiện dở dang, công ty đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng vào các dự án này. Nhưng về
lâu dài dự án sẽ ngốn thêm một số vốn không nhỏ nếu hoạt động kém hiệu quả thậm
chí sẽ gây lãng phí nguồn nhân lực. Không những thế, 6 tháng cuối năm 2010 đang là
thời gian để các công ty tập trung phát triển mạnh các chuỗi nhà thuốc của mình.
Năm 2011 có thể sẽ hứa hẹn tạo nên một thị trường bán lẻ Dược phẩm sôi động khi
theo dự đoán sẽ có gần 3000 nhà thuốc trên địa bàn thành phố bị buộc phải ngưng
hoạt động vì không đạt chuẩn. Do vậy, nguồn vốn cần được huy động một cách tối đa
nhằm giúp Sapharco có đủ nguồn lực để chiếm lĩnh được thị trường này trước khi các
đối thủ cạnh tranh khác lớn mạnh. Cắt giảm việc triển khai thực hiện các dự ác có
quy mô lớn, không phù hợp với thời điểm thị trường hiện nay, có thời gian thu hồi
vốn lâu chính là công việc cần thiết nhất của Sapharco lúc này.
2. Giải pháp 2: Phát triển hình ảnh thương hiệu.
Bên cạnh việc huy động nguồn vốn, tập trung nguồn lực cũng như cắt giảm
việc đầu tư các dự án không phù hợp. Sapharco cần phải thực hiện chiến lược quảng
bá hình ảnh của chuỗi nhà thuốc mang thương hiệu SPG Pharmacy trên các phương
tiện đại chúng. Việc quảng bá không đơn thuần là giới thiệu hình ảnh công ty mà còn
GVHD: Th.S Trịnh Đặng Khánh Toàn SVTH: Lương Phan Chương-06DQD
6
góp phần đưa khái niệm GPP đến gần hơn với người tiêu dùng, giúp họ nhận thức rõ
hơn ưu điểm của chuỗi nhà thuốc GPP của công ty Sapharco.
GVHD: Th.S Trịnh Đặng Khánh Toàn SVTH: Lương Phan Chương-06DQD
7
ước”, “trái tim nhân ái”.v..v.điều này không những mang lại nhiều ý nghĩa mà còn
góp phần xây dựng hình ảnh một công ty thân thiện trong lòng mọi người.
3. Giải pháp 3: Giải pháp về công nghệ.
1. Công nghệ thẻ Mifare
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trong thời kỳ phát triển, nhất là ở Tp.HCM,
nơi có thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước và cũng là nơi năng động
nhất. Theo xu hướng phát triển như vậy, lĩnh vực dịch vụ ở mọi ngành nghề cũng
ngày càng đổi mới cách thức hoạt động nhằm phục vụ khách hàng một cách nhanh
chóng và chu đáo nhất. Nhằm bắt kịp xu hướng chung đồng thời gia tăng khả năng
cạnh tranh, Sapharco cần phải có những biện pháp cải tiến dịch vụ để mang lại lợi ích
nhiều hơn cho khách hàng, do đó việc số hóa thông tin của khách hàng là vô cùng cần
thiết. Số hóa ở đây có nghĩa công ty sẽ cấp cho người bệnh một loại thẻ, trong đó sẽ
lưu các thông tin chi tiết về bệnh nhân như: tên, tuổi, số lần đến khám, dị ứng với loại
thuốc nào, v…v. Người bệnh chỉ việc đến xuất trình thẻ của mình là nhà thuốc sẽ biết
được tiền sử bệnh án của bệnh nhân một cách nhanh chóng. Nếu như đối với các đối
thủ cạnh tranh Phano hay ECO, chiến lược chỉ dừng lại ở việc phát hành thẻ khách
hàng thân thiết bị bệnh mãn tính và chỉ muốn quảng cáo hình ảnh của chuỗi nhà
thuốc thì với Sapharco, việc phát hành thẻ không những là bước chiến lược quảng bá
hình ảnh mà còn nhằm đem lại một giá trị cao hơn khi khách hàng đến với chuỗi nhà
thuốc của công ty. Công nghệ được Sapharco ứng dụng ở đây là công nghệ thẻ
Miface.
Thẻ Mifare là loại thẻ thông minh không tiếp xúc có tần số 13.56 MHz chuẩn
ISO/IEC14443A, sử dụng chíp của hãng Phillips có khả năng lưu trữ dữ liệu 10 năm
và cho phép đọc, ghi tới 100.000 lần. Mỗi IC chip của thẻ Mifare đều được ghi mã số
và không thể thay đổi được, mã số này đảm bảo duy nhất chỉ có chiếc thẻ có mã số
như vậy được sử dụng. 80% thẻ thông minh không tiếp xúc trên thế giới sử dụng chíp
Mifare của hãng Phillips trong nhiều ứng dụng khác nhau.
Ưu điểm của thẻ Mifare là một loại thẻ nhớ đọc không tiếp xúc với thiết bị
bệnh, bênh cạnh đó, việc số hóa thông tin bệnh nhân sẽ làm cho người bệnh có sự gắn
kết hơn với nhà thuốc và có xu hướng gắn bó lâu dài. Không những thế, công việc
GVHD: Th.S Trịnh Đặng Khánh Toàn SVTH: Lương Phan Chương-06DQD