VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ THÚY VY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIẾP
DÂN, GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ THÚY VY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TIẾP
DÂN, GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO Ở ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. HỒ SỸ SƠN
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo tại thành phố Đà Nẵng ....................................................................... 31
2.3. Kết quả đạt được trong thực hiện chính giải quyết đơn thư khiếu nại,
tố cáo tại thành phố Đà Nẵng ....................................................................... 40
2.4. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo tại thành phố Đà Nẵng ....................................................... 48
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH TIẾP DÂN, GIẢI QUYẾT ĐƠN THƯ KHIẾU
NẠI, TỐ CÁO TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ......................................... 56
3.1. Yêu cầu tăng cường thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo ........................................................................................... 56
3.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách tiếp dân, giải
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo tại thành phố Đà Nẵng ................................ 59
KẾT LUẬN ................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Nghĩa đầy đủ
Từ viết tắt
1
CBCC
Nghị quyết
7
TTg
Thủ tướng
8
TT
Thông tư
9
TTHC
Thủ tục hành chính
10
TW
Trung ương
11
UBND
1
nại về kỷ luật CBCC, khiếu nại thực hiện chính sách người có công… nội
dung tố cáo liên quan đến tiêu cực trong trong công tác quản lý đất đai, công
tác cán bộ, tuyển dụng CCVC, thi hành án, tài chính… Trong những người đi
KNTC, có những người KNTC đúng, mong muốn được các cơ quan có thẩm
quyền giải quyết công minh, đúng pháp luật, bên cạnh đó, cũng có không ít
trường hợp mặc dù việc KNTC đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải
quyết đúng pháp luật, có lý, có tình nhưng vì thiếu hiểu biết, hoặc vì cố chấp
mà vẫn cố tình KNTC kéo dài, vượt cấp. Một số người đi KNTC có thái độ
gay gắt, tụ tập đông người trước các cơ quan hành chính Nhà nước để gây áp
lực làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội ở địa phương.
Trong thời gian tới, thành phố Đà Nẵng vẫn tiếp tục quy hoạch, điều
chỉnh quy hoạch, đầu tư xây dựng hạ tầng, chỉnh trang đô thị. Do đó, dự báo
tình hình đơn thư KNTC của công dân tiếp tục diễn biến phức tạp, có chiều
hướng gia tăng.
Xuất phát từ lý do trên, học viên đã chọn đề tài “thực hiện chính sách
tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ở địa bàn thành phố Đà Nẵng”
làm Luận văn thạc sĩ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Qua tìm hiểu, được biết hiện nay có một số đề tài luận văn thạc sĩ và tài
liệu, công trình nghiên cứu liên quan đến công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC như:
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Tổ chức thực hiện pháp luật về tiếp công
dân và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị, phản ánh từ thực tiễn thành phố Đà
Nẵng” của Nguyễn Hữu Tiến (2017), Học viện Khoa học xã hội. Luận văn đã
nêu những vấn đề cơ bản về tiếp công dân và xử lý đơn thư KNTC, kiến nghị,
phản ánh theo quy định của pháp luật.
2
trước đây. Vì vậy, cần nghiên cứu toàn diện chủ trương, chính sách, pháp luật
của Đảng, Nhà nước về công tác này để lý giải và giải quyết một cách hợp
tình, hợp lý, đúng chủ trương chính sách, đúng pháp luật đem lại sự đồng
thuận của toàn xã hội.
Luận văn về đề tài này góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC tại thành phố Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC; làm
rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo; đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết
đơn thư KNTC tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn đề xuất các giải pháp nâng
cao chất lượng thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, luận văn thực hiện các nhiệm vụ
chính như sau:
Một là: Khái quát chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC; phân
tích khái niệm, đặc điểm và vai trò, ý nghĩa của thực hiện chính sách tiếp dân,
giải quyết đơn thư KNTC; phân tích những yếu tố tác động đến việc thực hiện
chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC.
Hai là phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách tiếp dân, giải
quyết đơn thư KNTC tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2014 đến
năm 2019.
4
- Phương pháp diễn giải, quy nạp được sử dụng chủ yếu khi đưa ra định
hướng, giải pháp hoàn thiện về chính sách và các giải pháp để nâng cao chất
lượng thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC tại thành phố Đà
Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về thực hiện chính
sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC và hệ thống hóa các chủ trương,
chính sách của Đảng, quy định của pháp luật về thực hiện chính sách tiếp dân,
giải quyết đơn thư KNTC; phân tích, tìm ra những hạn chế, bất cập trong việc
xây dựng và ban hành chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Qua phân tích thực tiễn thực hiện từ thành phố Đà Nẵng về thực hiện
chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC và cùng với cơ sở lý luận, luận
văn đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện, nâng cao chất lượng thực hiện
chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng và có một số kiến nghị với Trung ương để công tác sách tiếp dân, giải
quyết đơn thư KNTC ngày càng tốt hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được trình bày thành 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách tiếp dân, giải
quyết đơn thư KNTC.
6
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC tại thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện chính sách tiếp
dân, giải quyết đơn thư KNTC tại thành phố Đà Nẵng.
nhân dân đối với CBCC góp phần xây dựng bộ máy Nhà nước trong sạch,
vững mạnh. Thông qua công tác tiếp dân tạo ra động lực thúc đẩy hoàn thiện
công tác quản lý Nhà nước, giúp cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ
quan tổ chức, đơn vị có điều kiện kiểm tra, đánh giá lại cơ chế chính sách, công
tác chỉ đạo điều hành của mình, từ đó có những điều chỉnh thích hợp, kịp thời.
Khái niệm “tiếp công dân” là một khái niệm mới được thể hiện trong
Luật Tiếp Công dân 2013 mà trước đây chưa có văn bản nào quy định. Theo
đó, tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4
của Luật này tiếp đón để lắng nghe, tiếp nhận KNTC, kiến nghị, phản ánh của
công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện KNTC, kiến
nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật.
- Nhận thức về khiếu nại, tố cáo:
KNTC là quyền cơ bản của công dân, thể hiện quyền dân chủ trực tiếp
của người dân, nói lên những tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của người
dân trước các vấn đề của bản thân, của xã hội cần Nhà nước, những người có
thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước quan tâm xem xét, giải quyết. Quan tâm
tới vấn đề này, quyền KNTC của công dân và trách nhiệm của Nhà nước, của
xã hội trong việc giải quyết KNTC được quy định trong các bản Hiến pháp và
các văn bản pháp luật khác.
Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, vấn đề xem xét và giải quyết KNTC
của công dân luôn được Nhà nước quan tâm, ghi nhận trong Hiến pháp và các
văn bản quy phạm pháp luật. Hiến pháp năm 1946 long trọng tuyên bố: “Tất
cả quyền binh trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều của toàn thể nhân
dân Việt Nam”. Điều 73 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Công dân có quyền
KNTC với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật
9
Luật Tố cáo quy định đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật: một là, quy
định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của
CBCC, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; hai là, quy định tố
cáo và giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ
chức, cá nhân về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực. Đây là điểm mới cơ
bản của Luật Tố cáo. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2012/NĐ-CP
ngày 03/10/2012 và Thanh tra Chính phủ ban hành Thông tư số 06/2013/TTTTCP ngày 30/9/2013 hướng dẫn thi hành.
Luật Tố cáo năm 2018 được thông qua ngày 12/6/2018, tiếp tục kế thừa
quy định của Luật Tố cáo năm 2011 về phạm vi điều chỉnh, trong đó quy định
về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với 02 nhóm hành vi vi phạm pháp luật là tố
cáo hành vi vi phạm trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và tố cáo hành vi
vi phạm pháp luật về quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực. Ngoài những nội
dung chính nêu trên, Luật tố cáo năm 2018 còn quy định về nguyên tắc giải
quyết tố cáo, áp dụng pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo, các hành vi bị
nghiêm cấm và điều khoản thi hành. Theo đó, tố cáo được quy định là việc cá
nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức,
cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; Tố cáo
hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
1.1.2. Chính sách tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo
Chính sách tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo là một chính sách công.
Chính sách công thể hiện ý chí của Nhà nước qua hệ thống các văn bản.
Chính sách công có vai trò định hướng cho các chủ thể trong xã hội; tạo động
11
cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC, nhằm giải quyết mối quan hệ KNTC giữa công dân với Nhà nước,
giữa người KNTC, người bị KNTC, người giải quyết KNTC và người có liên
quan.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, chủ thể, vai trò, ý nghĩa thực hiện chính
sách tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo
1.2.1. Khái niệm thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo
Thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC là toàn bộ quá
trình hoạt động của chủ thể theo các cách thức khác nhau nhằm hiện thực hóa
nội dung chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC một cách hiệu quả.
Các cơ quan Nhà nước, trước hết là bộ máy hành chính, là cơ quan hoạch
định chính sách và cũng là cơ quan tổ chức thực hiện chính sách tiếp dân, giải
quyết đơn thư KNTC.
Thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC là một khâu
hợp thành chu trình chính sách, nếu thiếu vắng công đoạn này thì chu trình
chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC không thể tồn tại. Tổ chức thực
hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC là trung tâm kết nối các
bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống, nhất là với hoạch định
chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC. So với các khâu khác trong
chu trình chính sách, thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC
có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách tiếp dân,
giải quyết đơn thư KNTC trong đời sống xã hội.
Nhà nước xây dựng và đưa vào thực hiện trong thực tiễn cuộc sống một
chính sách tiếp dân, giải quyết KNTC tốt vừa đem lại lợi ích cho người dân,
vừa làm tăng uy tín của Nhà nước trong quản lý xã hội. Qua thực tiễn cuộc
13
dân, giải quyết đơn thư KNTC trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin
hướng dẫn nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính
Nhà nước.
1.2.3. Chủ thể thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu
nại, tố cáo
Cơ quan Nhà nước (gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ
quan tư pháp), người có thẩm quyền là chủ thể ban hành các chính sách và
cũng là chủ thể đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện các chính
sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC. Trong đó, cơ quan hành pháp là cơ
quan chủ đạo trong việc tổ chức thực thi chính sách tiếp dân, giải quyết
KNTC. Đứng đầu trong hệ thống hành pháp là Chính phủ tiếp đến là các bộ
ngành và ủy ban nhân dân các cấp. Ngoài ra, việc thực hiện chính sách tiếp
dân, giải quyết KNTC còn do các cơ quan thuộc Trung ương Đảng, Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp, hệ thống Tòa án, Viện Kiểm sát và tổ chức
chính trị - xã hội thực hiện.
Chủ thể gián tiếp trong quá trình tham gia thực hiện chính sách tiếp dân,
giải quyết đơn thư KNTC là các cá nhân, tổ chức. Trong bối cảnh hội nhập
quốc tế, cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam cũng là chủ thể gián tiếp
thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC như cá nhân, tổ chức
trong nước, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có
quy định khác.
1.2.4. Vai trò, ý nghĩa thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn
thư khiếu nại, tố cáo
Thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC có vai trò thể
hiện trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân
chủ trong mọi mặt đời sống xã hội; qua thực hiện chính sách tiếp dân, giải
15
quyết đơn thư KNTC giúp cơ quan có thẩm quyền kiểm tra lại chính sách đã
KNTC. Vấn đề chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC tự nó đã phản
ánh nhu cầu cơ bản của xã hội về việc giải quyết mâu thuẫn phát sinh. Chính
sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC đúng đắn là chính sách đáp ứng đầy
đủ các yêu cầu (tiêu chuẩn) của một chính sách tốt. Tuy nhiên, chính sách tiếp
dân, giải quyết đơn thư KNTC sau khi hoạch định được coi là tốt thì giá trị
của nó cũng chỉ mới dừng lại ở phương diện nguyện vọng, mong muốn mà
thôi. Tính chuẩn mực của chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC giai
đoạn này cũng mới chỉ là sự thừa nhận của chủ thể ban hành chính sách tiếp
dân, giải quyết đơn thư KNTC. Một khi chính sách tiếp dân, giải quyết đơn
thư KNTC được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội, thì tính
đúng đắn của nó được khẳng định ở mức cao hơn, tức là được cả xã hội thừa
nhận, nhất là các đối tượng hưởng thụ chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC.
Thứ tư, làm cho chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC ngày
càng hoàn chỉnh: Chúng ta nhận thức được rằng, chính sách tiếp dân, giải
quyết đơn thư KNTC được hoạch định bởi một tập thể, nên không thể tránh
khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan. Không phải ý chí chủ quan chỉ ảnh
hưởng đến quá trình hoạch định chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC, mà còn tác động qua nhiều quá trình phân tích, dự báo, lựa chọn để có
được mục tiêu, biện pháp chính sách. Đồng thời, các quá trình kinh tế, xã hội
lại thường xuyên vận động phát triển, trong khi chính sách tiếp dân, giải quyết
đơn thư KNTC được hoạch định lại dựa chủ yếu vào thực trạng của xã hội
trong một giai đoạn cụ thể. Do ảnh hưởng của ý chí chủ quan và sự vận động,
phát triển của môi trường nên giữa chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC và thực tế xã hội trông giai đoạn có tổ chức thực thi chắc chắn có
khoảng cách cần được lắp đầy bằng những điều chỉnh về chính sách hay các
17
biện pháp tổ chức thực thi chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC.
truyền chính sách đến tổng kết rút kinh nghiệm. Trong đó phải có dự kiến về
thời gian để thực hiện từng bước của mục tiêu đã đặt ra trong mục tiêu tổng
thể chung của chính sách.
- Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực hiện: Kế hoạch kiểm tra thực hiện
chính sách là những dự kiến về tiến độ, hình thức, phương pháp kiểm tra,
giám sát tổ chức thực thi chính sách.
- Dự kiến những nội quy, quy chế: Nội quy, quy chế trong thực hiện
chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC bao gồm nội quy, quy chế về tổ
chức, điều hành về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của CBCC và các cơ
quan Nhà nước tham gia tổ chức điều hành chính sách; về các biện pháp khen
thưởng, kỷ luật cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện chính sách…
Dự kiến về kế hoạch thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC ở cấp nào do lãnh đạo cấp đó xem xét thông qua. Sau khi được quyết
định thông qua, kế hoạch thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
KNTC mang giá trị pháp lý, được mọi người chấp hành thực hiện. Việc điều
chỉnh kế hoạch cũng do cấp có thẩm quyền thông qua kế hoạch quyết định.
1.3.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo
Sau khi bản kế hoạch triển khai thực hiện được thông qua, các cơ quan
Nhà nước tiến hành triển khai tổ chức thực hiện theo kế hoạch. Việc trước
tiên cần làm trong quá trình này là tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia
thực hiện chính sách tiếp dân, giải quyết đơn thư KNTC. Đây là một hoạt
động quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với cơ quan Nhà nước và các đối tượng
thực thi chính sách công. Phổ biến, tuyên truyền chính sách tốt giúp cho các
19